LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục. Giáo dục Việt Nam khi đó gồm hai bộ phận chính: nền giáo dục phong kiến và nền giáo dục Pháp - Việt. 1.1. Giáo dục, đào tạo của triều Nguyễn Trong thời gian từ năm 1858 đến năm 1896, mặc dù đất nước xảy ra chiến tanh nhưng chính sách giáo dục, đào tạo của nhà Nguyễn vẫn được duy trì, tuy nhiên mức độ ngày càng giảm sút và thực tế đến nãm 1919 thì nền giáo dục Nho giáo của nhà Nguyễn hoàn toàn chấm dứt và thay thế vào đó là nền giáo dục của thực dân Pháp. Thời gian này, các vua nhà Nguyễn cũng đề ra thêm một số chính sách giáo dục và tổ chức các kỳ thi Hương, thi Hội để tuyển dụng nhân tài. Đen năm 1856, dưới thời Tự Đức, triều đình định lệ, cử nhân đã từng thi Hội từ 40 tuổi trờ lên mới được bổ làm giáo chức, còn hạng khác đã bổ thì rút về. Vào cuối đời Tự Đức, chức học quan phải đạt yêu cầu là Tiến sĩ - Phó bảng hoặc Cử nhân lão thành. Nhà Nguyễn cũng chú trọng tới việc mở rộng đội ngũ học quan tới các miền biên ải và những vùng dân tộc thiểu số. Dưới thời Thiệu Trị, chức Đốc học - Giáo thụ - Huấn đạo lần đầu tiên được bổ tới các tỉnh, phù, huyện vùng biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên. Chính sách này được tiếp tục thực hiện trong thời vua Tự Đức. Năm 1875, nhà vua xuống Dụ “lấy giáo háo làm việc đầu, mà đoi vcri ngirài Nùng, Mán, các huyện, châu thì tổng giáo cũng chuẩn cho liệu đặt, dân mới cũng chuẩn cho đi thi, tỏ giáo hóa dạy dỗ dân, vốn không chia rẽ ...” 1. Sau đó, vua lại dụ cho bộ Lễ sai các tỉnh đạo có người thiểu số chọn người làm thày dạy, hoặc sai mời thày dạy riêng, hoặc sai đến tận nơi giảng tập”2. Gắn liền với việc phát triển đội ngũ học quan là những quy chế thưởng phạt rõ ràng đối với tầng lớp này nhằm không ngừng nâng cao năng lực của đội ngũ thầy đồ cũng như thúc đẩy sự phát triển 1. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 8, tr. 157. 2. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 8, tr. 158. 400
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội.. cùa giáo dục. Nhà nước dành cho học quan chế độ lương bổng thoả đáng và có vị trí xứng đáng trong xã hội. Đời Tự Đức, nhà vua đã có chi dụ cho các trường học chú ý đến những nội dung dạy học thiết thực hơn, yêu cầu học trò phải học thêm cả các lĩnh vực như làm ruộng, thuế khoá, sai dịch, quân sự, hình luật, việc chính trị hiện thời1... Ngoài hệ thống trường lớp nho học, triều Nguyễn cũng cho thành lập trường dạy võ, nhà học thuốc cùa Thái y viện (từ năm 1866). Các loại hình trường lớp này cũng đều phải tuân theo thời gian biểu chặt chẽ, thực hiện đầy đủ các quy chế của việc khảo xét, giảng sách, làm tập văn... Triều Nguyễn cũng là vương triều đầu tiên trong lịch sừ có những chính sách nhàm tiếp cận với khoa học kỹ thuật phương Tây thông qua việc mờ các lớp ngoại ngữ và cử người sang phương Tây du học. Việc cử người học tiếng nước ngoài được bắt đầu từ đời Minh Mạng, năm 1835, nhà vua có chi dụ cho các bộ - viện và quan lại chọn học trò từ 16 tuổi trở lên đưa về kinh để học văn tự ngoại quốc tại quán tứ dịch. Các ngôn ngữ được học ở đây gồm tiếng Pháp, tiếng Xiêm và tiếng Lào. Học trò được cấp bổng và tuyển có định lệ khảo xét, thưởng phạt rõ ràng. Dưới đời Tự Đức, năm 1866, triều đình cho tuyển những người biết cả chữ Hán và tiếng Pháp về kinh để dịch sách phương Tây sang chữ Hán và dạy tiếng Pháp. Cũng trong thời gian này, vua Tự Đức đã cử một số đoàn học sinh vào học ngoại ngữ ở trường Gia Định, mở trường Hành Nhân ở Huế và mòi một số cố đạo người Pháp về dạy ở đây. Năm 1878, nhà vua lại cho mở trường học tiếng Pháp tại Nha Thương chính Hải Dương. Ngoài ra, nhà nước cũng cử người ra nước ngoài học các nghề đóng tàu, đúc súng, khai mỏ, luyện quân, học tiếng... Chính sách này được bắt đầu từ năm 1878: “Cử nhân, 1. Quốc sừ quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 8, tr. 158. 401
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 TÚ tài, học trò, thí sinh, khoá sinh và con em các quan viên dưới 20 tuổi, người nào thông nghĩa sách, biết chữ và tình nguyện đi học thì đều chiếu lệ đi Hương Cảng, đi sang Tây, cấp cho tiền lệ phí nhung hạn cho 5 năm về sát hạch, nếu thành tài thì chiếu lệ cử tu bổ làm quan bổ dụng”1. Dưới thời Nguyễn, các kỳ thi Đình không lấy Trạng nguyên, đặt thêm hạng Phó bảng, đổi Hương cống là Cử nhân, Sinh đồ là Tú tài (năm 1829). Từ năm 1841, các trường thi Hương đều phải định trước số ngạch lấy đỗ trong mỗi kỳ thi tuỳ theo tình hình học tập và số người đi thi của các địa phương. Năm 1880, triều đình lại yêu cầu các phù - tinh phải định trước số học trò đủ tiêu chuẩn dự thi nhằm tránh việc số người dự thi Hương quá nhiều. Đen đời Tự Đức, những quy định này mới đi vào quy củ. Trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, ghi: năm 1865 (Tự Đức thứ 18, khoa thi năm Ất Sửu), cấp phu thành hai hạng, người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ được cấp 2 phu mang cờ biển, 2 phu gánh võng, 1 phu khuân đồ đạc; những người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ, đệ tam giáp tiến sĩ chỉ được cấp 2 phu mang cờ biển, 2 phu gánh võng. Có khi, triều đình còn lệnh cho các quan địa phương cử 10 đến 20 lính tháp tùng các tiến sĩ về quê quán. Trong lễ này, các tân tiến sĩ còn được ban cho cờ và biển. Cờ được ban cho từng người, trên có đính chữ \"săc tứ ...\" cùng bộc đỗ m à mỗi tân ticn sĩ đạt được. Chữ trên cờ của người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ bằng tơ vàng; chữ trên cờ của người đỗ đệ nhị (đệ tam) giáp tiến sĩ bằng vải. Riêng biển thì không có sự phân biệt, đó là một biển gỗ có cán, màu đò, trên khắc chữ ân tứ vinh quy màu vàng. Khi về đến làng, các tiến sĩ được dân chúng nô nức chào đón, họ ở đây chừng hai tháng theo quy định rồi lại trờ về kinh đô chờ triều đình bổ dụng. 1. Phan Trọng Báu (1994), Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 47. 402
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội.. Nhưng từ đời vua Tự Đức trở đi, việc bổ dụng các Phó bảng, Tiến sĩ có một số điều chinh về phẩm hàm. Đệ nhất giáp tiến sĩ thứ nhất (tương đương Trạng nguyên) được bổ Hàn lâm viện thị độc (Chánh ngũ phẩm); đệ nhất giáp tiến sĩ thứ hai (Bảng nhãn) được bổ Hàn lâm viện thừa chỉ (Tòng ngũ phẩm); đệ nhất giáp tiến sĩ thứ ba (Thám hoa) được bổ Hàn lâm viện trước tác (Chánh lục phẩm); đệ nhị giáp tiến sĩ được bổ Hàn lâm viện tu soạn (Tòng lục phẩm); đệ tam giáp tiến sĩ được bổ Hàn lâm viện biên tu (Chánh thất phẩm); phó bàng được bổ Hàn lâm viện kiểm thảo (Tòng thất phẩm). Từ những phẩm hàm này, các tiến sĩ, phó bảng sê được bổ nhiệm vào những chức vụ thích ứng (như Tri phù, Thự tri phù, Đồng tri phù, Tri huyện...). Năm Đinh Mão (1807), vua Gia Long cho mờ khoa thi Hương đầu tiên, phép thi phòng theo phép thi cừ đời Lê. Từ đó đến năm Mậu Ngọ, Khải Định thứ 3 (1918), nhà Nguyễn đã tổ chức được 47 khoa thi Hương lấy đỗ được 5.208 người. Trong thời gian từ năm 1858 đến năm 1897, trong các kỳ thi Hương số người đồ như sau: - Khoa thi năm Mậu Ngọ, Tự Đức thứ 11 (1858), cả nước có 120 người đỗ. - Khoa thi năm Tân Dậu, Tự Đức thứ 14 (1861), cà nước có 102 người đỗ. - Khoa thi năm Giáp Tý, Tự Đức thứ 17 (1864), cả nước có 117 người đỗ. - Khoa thi năin Đinh Mão, Tự Đứt thứ 20 (1867), cả nước co 139 người đỗ. - Khoa thi (Ân khoa) năm Mậu Thìn, Tự Đức thứ 21 (1868), cả nước có 129 người đỗ. - Khoa thi năm Canh Ngọ, Tự Đức thứ 23 (1870), cả nước có 131 người đỗ. 403
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 - Khoa thi năm Quý Dậu, Tự Đức thứ 26 (1873), cả nước có 78 người đỗ. Trường Hà Nội và Nam Định có chiến tranh không thi. - Khoa thi năm Giáp Tuất, Tự Đức thứ 27 (1874), trường Hà Nội và Nam Định năm trước hoãn, năm nay thi, có 50 người đỗ. - Khoa thi năm Bính Tý, Tự Đức thứ 29 (1876), cả nước có 118 người đỗ. - Khoa thi (Ân khoa) năm Mậu Dần, Tự Đức thứ 31 (1878), cả nước có 121 người đỗ. - Khoa thi năm Kỷ Mão, Tự Đức thứ 32 (1879), cả nước có 122 người đồ. - Khoa thi năm Nhâm Ngọ, Tự Đức thứ 35 (1882), cả nước có 77 người đỗ, trường Hà Nội và Nam Định có biến không thi. - Khoa thi năm Giáp Thân, Kiến Phúc thứ 1 (1884), cả nước có 139 người đỗ. - Khoa thi (Ân khoa) năm Bính Tuất, Đồng Khánh thứ 1 (1886), cả nước có 76 người đỗ. - Khoa thi năm Đinh Hợi, Đồng Khánh thứ 2 (1887), trường Thừa Thiên thi, cả nước có 29 người đỗ. - Khoa thi năm Mậu Tý, Đồng Khánh thứ 3 (1888), cả nước có 133 người đỗ. - Khoa thi năm Tân Mão, Thành Thái thứ 3 (1891), cả nước có 150 người đỗ. - Khoa thi năm Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6 (1894), cả nước có 148 người đỗ. - Khoa thi năm Đinh Dậu, Thành Thái thứ 9 (1897), cả nước có 164 người đỗ. Tất cả các kỳ thi Hội đều được tổ chức ở kinh đô Huế. Thi Đình quy định thi tại sân rồng trong cung điện nhà vua. Định kỳ và 404
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội.. thể thức thi vẫn theo quy định cùa nhà Lê, nhưng theo lệ “tứ bất” (bốn không) do vua Gia Long đặt ra là: không lập hoàng hậu; không đặt tê tướng; không lay trạng nguyên và không phong tước vương cho người ngoài hoàng tộc. Như vậy, người thi đỗ đầu kỳ thi không được mang danh hiệu trạng nguyên mà chi có danh hiệu từ bảng nhãn trở xuống. Nhưng mãi tới năm Nhâm Ngọ (1822), tức là sau 20 năm vương triều Nguyễn được thành lập, vua Minh Mạng mới tô chức khoa thi Hội đầu tiên dưới triều Nguyễn. Từ năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mạng tổ chức khoa thi Hội đầu tiên đến năm Kỷ Mùi, Khải Định thứ 4(1919), nhà Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy đỗ được 558 người. Trong thời gian từ năm 1858 đến năm 1895 trong các kỳ thi Hội số người đỗ như sau: - Khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1862), lấy đỗ 11 người (có 5 Phó bảng). - Khoa thi năm Ảt Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), lấy đỗ 15 người (có 12 Phó bảng). - Khoa Nhã sĩ, thi năm Ất Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), lấy đỗ 5 người. - Khoa thi năm Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868), lấy đỗ 16 người (có 12 Phó bảng). - Khoa Ân khoa, thi năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869), lấy đồ 9 người (có 4 Phó bảng). - Khoa thi năm Tân Mùi, niên hiệu Tự Đức thứ 24 (1871), lấy đỗ 8 người (có 5 Phó bảng). - tCnoa thi nàm Àt Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 28 (1875), lấy đỗ 17 người (có 6 Phó bảng). - Khoa thi năm Đinh Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 30 (1877), lấy đỗ 7 người. - Khoa thi năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879), lấy đỗ 14 người (có 3 Phó bảng). 405
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 - Khoa thi năm Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880), lấy đỗ 10 người (có 5 Phó bảng). - Khoa Ân khoa, thi năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc thứ 1 (1884), lấy đỗ 7 người (có 4 Phó bảng). - Khoa thi năm Kỷ Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ 1 (1889), lấy đỗ 22 người (có 10 Phó bảng). - Khoa thi năm Nhâm Thìn, niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892), lấy đỗ 16 người (có 7 Phó bảng). - Khoa thi năm Át Mùi, niên hiệu Thành Thái thứ 7 (1895), lấy đỗ 20 người (có 12 Phó bảng). Thi Hương trước đó đã bị bãi bỏ ở Nam Kỳ năm 1867, khoa thi Hương cuối cùng ở Nam Định năm 1915, ở Thanh Hoá năm 1918. Thi Hội cũng chấm dứt nãm 1919 ở Huế, kết thúc khoa cử phong kiến ờ nước ta. Cũng trên nền tảng của nền giáo dục phong kiến trong những triều đại trước, giáo dục và khoa cừ dưới triều Nguyễn về cơ bản vẫn nhằm mục đích lựa chọn người ra làm quan với nội dung mang nặng tính giáo điều, lạc hậu, lý thuyết suông. Tuy vậy, cũng có một vài cải cách giáo dục được khuyến khích dưới thời Tự Đức, song về cơ bản, những ý tưởng về một nền giáo dục chuyên nghiệp mang tính cấp thiết đối với yêu cầu của thực tiễn thì hầu như bị lảng tránh do tư tưởng thù cựu đang là một xu hướng lấn át lúc bấy giờ '. 1.2. Giáo dục, đào tạo của thực dãn Pháp Chính sách giáo dục - văn hóa cùa thực dân Pháp không chú ý đến việc nâng cao dân trí mà chù yếu nhằm mục tiêu đào tạo ra một 1. Ví dụ những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong Bàn điều trần thứ 18 (1866) như mờ trường quốc học và các trường tư, đặc biệt là các trường chuyên nghiệp để nghiên cứu, chế biến lâm sản, hải sản, luyện kim, trồng rừng, đắp đẽ, trị thủy... đều không được triều đình quan tâm. 406
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội... đội ngũ người Việt có thể giúp việc đắc lực cho công cuộc bình định và cai trị của chúng. Chữ quốc ngữ đã được dùng tại Nam Kỳ từ năm 1862 và dần dần lan ra cả nước. Đen năm 1896, chính quyền thực dân Pháp đưa chữ quốc ngữ vào các cuộc thi tuyển quan lại. Năm 1903 đến lượt môn Pháp văn được đưa vào. Các cuộc thi Hương truyền thống bị bãi bỏ vào đầu thế kỷ XIX (năm 1915 ở Bắc Kỳ, năm 1918 ở Trung Kỳ). Thay thế vào đó là một nên giáo dục gọi là Pháp - Việt được lập ra. Tiếng Pháp chuyển thành ngôn ngữ chính. Giáo dục ở Nam Kỳ trước khi Pháp xâm chiếm vẫn duy trì một nền giáo dục Nho giáo, dạy học trò về \"nội trị và ngoại giao\", noi gương người xưa giữ liêm chính để trị quốc. Sau khi chiếm xong Nam Kỳ (1867), người Pháp xác lập quyền thống trị của mình, biến Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp - xứ Đông Pháp. Đe tiên hành cai trị thuộc địa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Người Pháp thấy rất rõ tầm quan trọng của giáo dục, nên đã tiến hành áp dụng nền giáo dục phương Tây ở Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng. Người Pháp phải đứng trước lựa chọn khôn khéo trong việc sử dụng giáo dục như một công cụ thống trị, vừa áp đặt nền giáo dục mới vừa từng bước hạn chế, đi đến xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục phong kiến, \"biến người bị trị thành người Pháp vê m ặt văn hoá\". Do đó, trong thời gian từ năm 1861 đến năm 1916, do nhu cầu đáp ứng về nhân sự cho bộ máy cai trị, thực dân Pháp đã nhanh chóng cho mở hệ thống các trường dạy nghề và trường học phổ thông. - Các trường dạy nghề: Do gặp phải rào cản về mặt ngôn ngữ với người bản địa, việc đào tạo thông dịch viên vô cùng quan trọng đối với Pháp lúc bấy giờ. Bảy tháng sau khi chiếin được đại đồn Chí Hoà, ngày 21-9-1861, Đô đốc Chamer đã ký Nghị định thành lập trường Bá Đa Lộc (Évêque d'Adran) để dạy tiếng Pháp cho người Việt và dạy tiếng Việt cho người Pháp do linh mục Groc - 407
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 phiên dịch viên của Chacner làm Hiệu trường. Mục đích cùa trường là đào tạo những thông dịch viên cho quân đội Pháp và những thư ký làm trong các cơ quan hành chính. Học viên của trường là binh lính người Việt trong quân đội Pháp hay những người thân Pháp. Ngày 19-7-1871, Đô đốc Dupre cho thành lập trường Sư phạm thuộc địa tại Sài Gòn để đào tạo giáo viên và nhân viên công sở. Khóa đầu tiên có 60 giáo sinh. Những giáo sinh tốt nghiệp trường này được bổ nhiệm về các trường tiểu học do Pháp lập ra ở các thị tứ để giảng dạy. Đen năm 1874, số giáo viên này đã có mặt ờ trên 20 trường tiểu học ở khắp các tinh Nam Kỳ. Đen năm 1874, Pháp cho thành lập thêm trường Hậu bổ (Collège des administrateurs stagiaires) đào tạo những người đã có bằng Hán học để bổ sung vào đội ngũ quan lại. Học viên học tiếng Việt, chữ Nho, hành chính bản xứ và những kiến thức về kiến trúc và thực vật học. Với 4 năm tồn tại, trường đã đào tạo được 50 nhân viên cho Nam Kỳ. - Hệ thong các trường pho thông: Ngày 16-7-1864, Lagrandière ra Nghị định tổ chức các trường tiểu học ở các tỉnh để dạy chữ quốc ngữ và môn toán của Pháp. Giáo viên ở các trường tiểu học là do một số thông dịch viên đảm nhận. Chương trình học chỉ có tập đọc, học viết chữ quốc ngữ. Họ cho xuất bản ba quyển sách giáo khoa, một quyển mẫu tự chữ quốc ngữ, hai quyển về số học và hình học cơ bán. Vừa dùng thay sách giáo khoa vừa đẻ tuyên truyền cho chế độ thuộc địa, các trường đã dùng tờ Nguyệt san thuộc địa và tờ Gia Định báo cho học sinh học. Sau khi tốt nghiệp, các học sinh được phép về làng mình mở trường dạy học. Tính đến năm 1866, ở Nam Kỳ, Pháp đã mở được 47 trường tiểu học với 1.238 học sinh. Năm 1874, Trường Chasseloup Laubat được thành lập tại Nam Kỳ dành cho con em người Pháp đang cai trị và những người Việt làm cho Pháp. Đây là trường trung học sớm nhất dạy tò tiểu học đến tú tài chương trình Pháp, thu hút được những học sinh ưu 408
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội... tú cùa đất Nam Kỳ thời đó. Bên cạnh các trường nói trên, lợi dụng lòng mộ đạo của người dân công giáo, thực dân Pháp còn tạo điều kiện và giúp đỡ cho việc thành lập các trường dòng đê thu hút các học sinh là con em giáo dân vào học và đào tạo họ thành những thông ngôn, thư ký. Cho đến năm 1866, số trường dòng đã lên đến 47 trường với 1.328 học viên. Đe tiến thêm một bước trong việc thay đôi nền giáo dục bản xứ, trong các năm 1874 và 1879, chính quyền thuộc địa đã cho ban hành hai quy chế về giáo dục. Quy chế Giáo dục năm 1874 là bản quy chế giáo dục đầu tiên cùa thực dân Pháp ở Nam Kỳ quy định tất cả các trường tư chỉ được phép hoạt động khi có sự đông ý của chính quyền. Quy chế chia giáo dục ra hai bậc: tiểu học và trung học. Trường tiểu học được mở tập trung ở 6 địa điểm: Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Ben Tre và Sóc Trăng. Nội dung học có các môn: tập đọc, tập viết chữ quốc ngữ, chữ Nho, chữ Pháp và số học. Kỳ thi tốt nghiệp tiêu học gồm có thi viết và thi vấn đáp. Trường trung học chỉ mở ở Sài Gòn, dạy 3 ban với các môn: tiếng Pháp, chữ quốc ngữ, toán, địa lý, lịch sử (chi dạy lịch sừ Pháp, không dạy lịch sử Việt Nam). Tuy nhiên, quy chế năm 1874 tò ra kém hiệu quả. Vì thế, đến tháng 3-1879, Lafont ký quyết định ban hành quy chế mới, theo đó, hệ thống giáo dục được chia làm ba cấp, bãi bỏ tất cả các trường được tổ chức theo quy chế năm 1874. Ba cấp học gồm có: trường hàng tống (cấp I), trường hàng quận (cấp II), trường tinh (trường trung học, cấp III). Mỗi huyện đều có một trường cấp I, ờ mỗi tỉnh có 6 trường cấp II. - về thời gian và chương trình: + Cấp /, học 3 năm, gồm các môn: tiếng Pháp, bốn phép tính, cách đo lường. Chữ Hán và chữ quốc ngữ chi học đến một mức độ nhất định, đủ để biết đọc và biết viết. + Cấp II, thời gian học là 3 năm. Các môn học gồm có tiếng Pháp, toán, lịch sứ Việt Nam, địa lý Việt Nam, chữ Hán và chữ 409
LỊCH S ử VIỆT NAM - TẬP 6 quốc ngữ. Tiếng Pháp ở cấp II được học kỹ hơn, môn toán được trang bị cả kiến thức đại sổ và hình học... Tốt nghiệp cấp học này, học sinh được nhận bằng Sơ học (Brevet Élémentaire) và được học lên cấp cao hơn. + Cấp III, thời gian học 4 năm, học thêm những môn mới như thiên văn, địa chất, sinh vật. Các môn còn lại cũng như cấp II nhưng được mở rộng và nâng cao hơn. Các môn học đều học bằng tiếng Pháp. Tốt nghiệp Trung học, học sinh được cấp bằng Cao đẳng tiểu học (Brevet Supérieur). - Ve tố chức quản lý và giáo viên giảng dạy: Các trường đều đặt dưới sự quản lý của Sở Nội vụ và các chủ tỉnh. Mỗi trường ở các cấp do các hiệu trưởng người Pháp quản lý. Một số giáo viên người Việt là Thư ký Sở Nội vụ. Họ không được đào tạo bài bản về nghiệp vụ sư phạm, do đó, việc giảng dạy và xây dựng kế hoạch chương trình đào tạo đều có nhiều bất cập, cơ sở vật chất thiếu thốn, sách giáo khoa và chương trình chắp vá nên hiệu quả giáo dục không cao. Trong những thập niên đầu, trong việc tổ chức giáo dục ở Nam Kỳ, người Pháp đã tập trung vào hai mục tiêu cơ bàn: một là, đào tạo thông dịch viên, viên chức phục vụ quân đội xâm lược và bộ m áy chính q u y ền trong các vùng đ ấ t m ới chiếm đ óng; h a i là, từng bước đưa nền giáo dục mới từ châu Âu vào Nam Kỳ. Pháp đã tim mọi cách để du nhập nền giáo dục phương Tây vào Nam Kỳ Việt Nam nhưng vẫn chưa thành công. Mặc dù giáo dục phong kiến Việt Nam với chế độ khoa cử lỗi thời nhưng nó vẫn còn tồn tại và ảnh hường không nhỏ trong xã hội. Giáo dục phương Tây mới đào tạo được một lực lượng trí thức tân học ít ỏi nhưng vẫn bị lép vế trong một xã hội vốn vẫn còn tư tường Nho giáo thống trị từ gốc rễ. Từ năm 1886 đến năm 1917, Tổng trú sứ Paul Bert đã có những động thái nhằm thay đổi hơn nữa giáo dục của Pháp ở Việt Nam. 410
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội. Paul Bert cho thành lập Cơ quan thanh tra giáo dục nhằm \"nhanh chóng thiêt lập moi quan hệ trực tiếp càng nhiều càng tốt giữa dân tộc An Nam với chúng ta (Pháp)\". Paul Bert chù trương vừa phát triển mớ rộng trường lớp, vừa cải tổ dần nền giáo dục cũ để tiến tới thú tiêu hẳn. Tuy nhiên, phải đến Toàn quyền p. Beau (năm 1905) thì mới đưa ra được một chương trình cải cách giáo dục toàn diện. Đây là cải cách giáo dục lần thứ nhất cùa Pháp tại Việt Nam. Do đặc thù cùa một thuộc địa vừa mới xâm chiêm nên thực dân Pháp vẫn phải duy trì cả hai hệ thống trường lớp trong giáo dục đào tạo. Hệ thong trường Pháp - Việt là những trường chù yếu dạy bằng hai ngôn ngữ tiếng Pháp và chữ quốc ngữ, được chia làm hai bậc: tiêu học và trung học. Bậc tiểu học gồm 4 năm học, học sinh phải qua các lớp: lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì và lớp Nhất. Chương trình dạy chù yếu bằng tiếng Pháp, các môn dạy bằng chừ Hán và chữ quốc ngữ rất ít. Bậc trung học được chia làm hai cấp: trung học đệ nhất cấp và trung học đệ nhị cấp. Trung học đệ nhất cấp học sinh chi học một năm, được chia làm 2 ban: Ban Văn học và Ban Khoa học. Trong khi chưa xóa bỏ hắn được nền giáo dục truyền thống thì chính quycn thuộc địa Pháp ticn hành cải cách đc thay đôi đáng kể Cơ Cấu cùa hệ thong trường chữ Hán. Hệ thống giáo dục trường chữ Hán được chia làm 3 cấp học: ấu học, tiểu học và trung học. Bậc au học có 3 loại trường: Trường một năm hay dưới một nãm mở ở các vùng hèo lánh, chi dạy bằng chữ quốc ngữ. Loại trường hai năm dạy bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán. Loại trường ba năm dạy cả ba thứ chữ quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán. Tiếng Pháp là môn bắt buộc phải học. Sau khi học xong bậc ấu học, học sinh phài trải qua một kỳ thi gọi là hạch tuyển, nếu đậu sẽ được cấp bằng \"tuyển sinh\". 411
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 Bậc tiểu học có thời gian học là hai năm, được mở ở các phù, huyện. Quản lý và giảng dạy ở trường tiểu học là do các giáo thụ và huấn đạo phụ trách. Chương trình dạy bằng ba thứ tiếng, chữ quốc ngữ chiếm nhiều giờ nhất. Học xong chương trình, học sinh phải qua kỳ thi (hạch khóa) để lấy bằng khóa sinh. Người có bằng khóa sinh được học tiếp lên bậc trung học. Bậc trung học được mở ở các tinh lỵ do các quan đốc học phụ trách. Chương trình học vẫn được dạy bằng ba thứ chữ: Pháp, Hán và quốc ngữ. Chữ quốc ngữ được dạy nhiều thời gian nhất, rồi đến chữ Pháp. Học sinh phải trải qua một kỳ thi (thí sinh hạch), nếu đậu thì được cấp bằng thí sinh và được đi thi Hương. Trong giai đoạn này, do tiến hành cải cách giáo dục một cách chắp vá, lại có nhiều loại trường trong cùng một hệ thống giáo dục nên chương trình học cũng không ổn định và không thống nhất. Pháp gặp nhiều khó khăn trong việc biên soạn sách giáo khoa. Lúc đầu, họ dùng tờ Gia Định báo để làm sách tập đọc, sau đó họ đưa sách giáo khoa từ Pháp sang, nhưng kết quả cũng rất hạn chế do khác nhau về trình độ, về văn hóa. Đen nhũng năm 80 của thế kỳ XIX, cơ quan Học chính Nam Kỳ đã cho biên soạn một số sách giáo khoa tiểu học và sau đó dần dần được bổ sung thêm thành hệ thống sách giáo khoa trường tiểu học. Năm 1880, Pháp mở trường trung học ờ M ỹ Tho, Trường C hợ Lớn cho H oa kiều và m ột trường tiểu học cho cả nam lẫn nữ. Như vậy, từ năm 1886, Pháp tiến hành tổ chức lại hệ thống giáo dục, đào tạo ở Nam Kỳ, mở đầu cho quá trình phát triển nền giáo dục kiểu mới ở Nam Kỳ. Ở Bắc Kỳ, trước khi thực dân Pháp xâm lược đã có những trường học dạy chữ quốc ngữ do những chức sắc công giáo xây dựng và quản lý. Sau Hiệp ước Patenôtre (1884), thực dân Pháp thành lập 2 trường tiểu học cho người Việt ở Hà Nội và Lạng Sơn. Chương trình học giống như các trường tiểu học ờ Nam Kỳ. Trong những trường Pháp - Việt mới mở này, chữ Hán vẫn được giảng dạy 412
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội.. với một thời lượng nhất định. Ngoài những trường dạy văn hóa, học sinh còn được dạy nghề mộc, nghề rèn và thù công mỹ nghệ. 2ẺVăn hóa Triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử một di sản văn hóa khổng lồ. Riêng số sách do triều Nguyền viết ra trong 2/3 thế kỷ XIX còn nhiều hơn toàn bộ số sách của 300 năm trước đó gộp lại. Trong thời gian từ năm 1858 đến năm 1896, đã xuất hiện nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng thuộc đủ mọi hoàn cảnh xuất thân, trong đó có các vua như Tự Đức và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ. Hai kiểu thơ chù yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập cùa nho sĩ. Vì thế, mặc dù đất nước có chiến tranh nhưng thời gian này cũng có nhiều tác phẩm của nhà nước và của các cá nhân được xuất bản. Tiêu biểu về sách lịch sử có: Đại nam thực lục chính biên: 3 quyển. Trước hết nên phân biệt bộ sách này với bộ Đại Nam thực lục (Tiền biên và Chính biên) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Bộ này chép sử nhà Nguyễn theo lối biên niên, từ Thế tổ Cao hoàng đế (1778) đến Gia Long năm thứ nhất (1802). Khắc in lần thứ nhất năm Quý Dậu (1873); Đại Nam quốc sử diễn ca do Lê Ngô Cát (1827-1875) soạn. Sách được in vào năm 1873. Đại Nam quốc sử diễn ca là một cuốn sử bằng thơ (lục bát) tóm tát các sự việc lớn xảy ra ở nước ta từ thời Hồng Bàng đến cuối thời Tây Sơn. Sách dùng văn Nôm và thể thơ lục bát. Người soạn chủ ý làm bài vè về quốc sử để cho mọi người đọc được và dễ nhớ; Việt sử thặng bình, 1 quyển do Nguyễn Đức Đạt (người làng Trung cần, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, sinh năm 1823, mất năm nào không rõ) soạn. Sách in đời Tự Đức (năm Tân Tỵ - 1881); (Khâm Định) Việt sù thông giám cương mục gồm 53 quyển do Sử quán triều Nguyễn đời Tự Đức soạn, sách in bản gỗ năm 1884; Việt sừ cương 413
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 giám khảo lược gồm 7 quyển do Nguyễn Thông (1827-1894) soạn đòi Tự Đức, sách in ván gỗ năm 1877; Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tục biênỹ, gồm 60 quyển và quyển mục lục. Năm Thành Thái năm đầu (1889), Phụ chính phù tâu xin làm tiếp từ Tự Đức thứ năm (1852), về sau theo thể lệ cũ. Năm Thành Thái thứ 7 (1895) làm xong phần này (1852-1895) nhưng chưa in được. Năm Duy Tân thứ 8 (1914) lại có chỉ làm tiếp theo từ năm 1895 nhưng về sau cũng chưa được in. Ngoài ra còn các các sách thuộc các thể loại về giáo dục, văn học... như: Hương thí văn tuyển: nhiều tác giả không ghi tên, sách in ván gỗ năm 1855, giấy bản thường (khổ 25x15cm), khắc in rỗ ràng. Hương thí văn tuyển là một tập văn chọn lọc các bài văn hay của các vị đậu Cử nhân khoa Tự Đức năm Ảt Mão (1855) ở các trường thi Thừa Thiên, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định do nhà bán sách (Hàng Gai) Liễu Văn Đường khắc ván in năm 1855; Khải đồng thuyết ước, 2 quyển (thượng, hạ) do Phạm Vọng (thế kỷ XIX), người làng Kinh Đô, huyện Võ Giàng, tinh Bắc Ninh (nay là Hà Bắc), đậu cử nhân năm Thiệu Trị Tân Sửu (1841) soạn, Ngô Thế Vinh nhuận sắc, sách in ván gỗ năm 1881. Sách Khải đồng thuyết ước, một quyển sách dạy trẻ em bắt đầu học vỡ lòng, bằng chữ Hán. Sách dạy về nhiều môn, dựa trên quan điểm tam tài (thiên, địa, nhân), dạy dại khái từ thién văn, địa lý ròi đén nhân sự; Quốc triều khoa bảng lục, 5 quyển, Cao Xuân Dục, tự Tử Phát, hiệu Long Cương soạn. Sách in ván gỗ năm 1894; Quốc triều hương khoa lục, 8 quyển (kể cả quyển thủ và hai quyển tục biên). Cao Xuân Dục soạn, sách in năm 1893. Ước Trai văn tập, gồm 2 quyển, do Bùi Xuân Nghi soạn, in năm 1898. Đây là một tập văn sách, vừa đầu đề vừa bài làm, tác giả soạn trong khi dạy học; Nghệ An ký, tác giả Bùi Dương Lịch (1758-1827) soạn, gồm 2 quyển. 1. In năm Khải Định thứ 2(1917). 414
Chương V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội... Sách được xuất bản vào khoảng đời Tự Đức (1848- 1883). Sách gồm có 2 phần: Địa lý và Nhân vật nhưng được chia làm 3 phần: Thiên chí, Địa chí và Nhân chí; Thương sơn thi tập gồm 10 tập (56 quyển), do Nguyễn Miên Thẩm (1819-1870) soạn, in năm 1872. Vi dã hợp tập gồm 12 quyển, do Nguyễn Miên Trinh (1820-1897) soạn, in năm 1875. Đây là toàn tập thơ, văn của Tuy Lý vương Nguyễn Miên Trinh; Giá Viên toàn tập gồm 26 quyển, do Phạm Phú Thứ (1820-1882) soạn, in vào khoảng năm 1896-1900. Đây là thơ văn cùa Phạm Phú Thứ. Trong đó, một số bài văn đã phản ánh được sự biến chuyển về tư tường của phái Nho học thời đó sau khi đã đi châu Ảu về; Vịnh sử thi tập gồm 2 quyển, do Nguyễn Đức Đạt (1824-1887) soạn, in năm 1883. Tác phẩm gồm hơn 500 bài thơ của tác giả đề vịnh về các nhân vật lịch sừ Trung Quốc từ Phục Hy đến các nhân vật đời Kim, Nguyên; Tốn Am thi sao, gồm 4 quyển, do Bùi Văn Dị (1832- ?) soạn, in năm 1894. Tác phẩm gồm hơn 200 bài thơ cùa tác giả làm từ khi chưa đậu Cừ nhân đến khi làm Phó Tổng tài Sử quán. Quyển 2 dành riêng cho các bài ứng chế hay hoạ vần với vua Tự Đức; Tang thương ngẫu lục, gồm 2 quyển, 90 thiên, do Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn Án (1770-1815) soạn, in năm 1896. Tang thương ngẫu lục là những mâu chuyện, giai thoại về các nhân vật lịch sử, những sự tích hoang đường kỳ lạ lưu truyền trong dân gian trong khoảng thời gian thuộc thế kỷ XVIII; Đại Nam quốc ngữ, do Hải Châu tử (Nguyễn Văn San) biên tập, in năm 1899. Đây cũng là loại sách từ điển, gồm 50 mục. Sau mỗi từ chữ Hán, cắt nghĩa ngay bằng chữ Nôm. So với các sách khác thi số từ nhiều hơn và cách giải thích chua bằng chừ Nôm cũng sáng tỏ và chính xác hơn; Tự học giãi nghĩa ca, gồm 13 quyển do Tự Đức soạn nhưng đến năm Thành Thái thứ 10 (1898) mới in. Đảv cũng là loại sách từ điển Hán Việt. Nam Sơn tùng thoại (4 quyển), do Nguyễn Đức Đạt soạn, in năm Tự Đức thứ 33 (1880). Đây là bộ sách thu thập những bàn 415
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 luận cùa ông về nhiều vấn đề. Nổi bật là những vấn đề liên quan đến tư tưởng triết học; Tân thuyên Hải thượng y tông tâm lĩnh toàn trật: 66 quyển (nhưng hiện bản in chi còn 55 quyển), do Lê Hữu Trác soạn. Sách Hải thượng y tông tâm lĩnh được đem khắc in 115 năm sau khi hoàn thành (1885). Từ khi đánh chiếm được Nam Kỳ đến khi hoàn toàn xâm chiếm được nước ta, thực dân Pháp cũng đã lập nên một số cơ quan nghiên cứu như Viện Vi trùng học ở Sài Gòn (1891), ờ Nha Trang (1896), ở Hà Nội (1900); trường Viễn Đông bác cổ, Nha Khí tượng, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp và Kỹ nghệ... đều thành lập năm 1898, Sờ Địa lý (1899), Sờ Kiểm lâm (1901)... Mục tiêu của các cơ quan này chi giới hạn trong lợi ích của giai cấp tư sản Pháp nên quy mô, phuơng pháp nghiên cứu đều hạn chế. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận những đóng góp của các cơ quan nghiên cứu này đối với nền văn hóa và nền khoa học Việt Nam. Có những công trình nghiên cứu, ví như một số công trình mà Viễn Đông bác cổ thực hiện, có tính chất khai phá mà sau này các nhà khoa học Việt Nam đã phát huy một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các loại hình văn hóa mới như các sách được in bằng chữ quốc ngữ và một số tờ báo cũng xuất hiện. Đó là các sách như: Lục Vân Tiên, Gia huấn ca, Phan Trần, Đại Nam quốc s ử diễn ca, M inh tâm bào giám , Ỉ.UỘTÌ ngữ, Trung dung và n h iề u truyện dân gian như Văn Doan - Chàng Lic, Thạch Sanh Lý Thông, Phạm Công Cúc Hoa... được chuyển từ chữ Hán, chữ Nôm sang chữ quốc ngữ và đã có những tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ được ấn hành như: Đời xa, Chuyện đi Bắc Kỳ năm Ắt Hợi, Kiếp phong trần của Trương Vĩnh Ký. Các loại sách này chỉ xuất hiện ở Nam Kỳ. Cùng với các loại sách được in ấn, xuất bản, vào thời kỳ này đã xuất hiện một số tờ báo bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ như: tờ Công báo phát hành ngày 29-9-1861 bằng tiếng Pháp, tờ Tin tức 416
Chươrìg V. Những biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội.. Sài Gòn phát hành ngày 1-1-1864 và Gia Định báo ra đời ngày 15-4-1865. Đây là những tờ báo đầu tiên được ra đời ở nước ta. Tại Bắc Kỳ, từ năm 1883, loại hình báo chí mới xuất hiện nhưng rất hạn chế. Tờ Đại Nam Đồng vãn nhật báo: “Báo in bằng chữ Hán do chù trương cùa Nha Kinh lược Bắc Kỳ, được chính quyền thực dân Pháp cấp kinh phí ra số 1 năm 1891” '. Cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, một số hình thức văn hóa mới đã được du nhập vào nước ta. Bên cạnh chù ý của bọn thực dân xâm lược, các hình thức văn hóa mới cũng là những biểu hiện mới cùa nền văn minh nhân loại, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân tiếp thu những tiến bộ về văn hóa của thế giới, từ đó càng tăng thêm tinh thần yêu nước, đấu tranh chống thực dân phong kiến giành độc lập dân tộc. 1. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên do Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nxb. Vãn hóa - Văn nghệ, 2011, tr. 138. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995, báo này ra đời năm 1893. 417
KẾT LUẬN Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1896 là lịch sử một giai đoạn đầy bi thương nhưng cũng rất oanh liệt. Trong suốt gần 40 năm đầy biến động này, nhân dân Việt Nam đã trải qua một cuộc chiến đấu bền bỉ, kiên cường và anh dũng để chống lại sự xâm lược của đế quốc Pháp, một trong những tên đế quốc thục dân hàng đầu lúc bấy giờ với những thứ vũ khí, khí tài quân sự hiện đại (đại bác, tàu đồng...) và cuối cùng số mệnh của đất nước, quốc gia, dân tộc Việt Nam đã bị rơi vào vòng nô lệ của đế quốc ngoại bang. Từ một đất nước phong kiến độc lập, tự chủ, Việt Nam đã trờ thành một nước lệ thuộc vào chủ nghĩa thực dân Pháp với sự chia cắt lãnh thổ thành 3 miền cùng những thể chế cai trị khác nhau: bảo hộ (cũng theo từng miền) và thuộc địa. Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1896 đã chứng kiến những trận tấn công đánh chiếm của đội quân thực dân đế quốc vào Đà Năng, Gia Định, trài qua cuộc mở rộng xâm chiếm các tình miền Đông, tấn công chiếm đóng miền Tây Nam Kỳ, chứng kiến các đợt hành quân xâm lược với quy mô 0 ạt ờ Bắc Kỳ... trong những năm 1858-1884. Lịch sử V iệt N am giai đoạn này cũng đã ghi đậm dấu ấn của những trận đánh vô cùng ác liệt và quả cảm cùa quan quân triều đình chống lại đội quân viễn chinh Pháp, dấu ấn của những cuộc khởi nghĩa liên tục và dày khắp của nhân dân trong cả nước, với lòng quyết tâm cao độ, dám hy sinh tất cả vì sự sống còn của quốc gia, dân tộc. Những năm tháng lịch sử này cũng đã chứng kiến thái độ nhu nhược, chi chăm chú lo lắng đến quyền lợi riêng của Hoàng gia nên luôn tỏ thái độ cầu hoà, run sợ... của vua quan triều đình Huế trước sự xâm lăng của giặc Pháp. Lịch sử Việt Nam giai đoạn này còn chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ và rộng khắp 418
Kết luận cùa phong trào cần Vương ở khắp các địa phương với mục tiêu đánh đuổi giặc Pháp. Âm mưu xâm lược Việt Nam cùa Pháp đã được hình thành từ rất sớm, nhưng do nhiều nhân tố cả khách quan (tình hình thế giới có nhiêu biên chuyên phức tạp, Pháp lại đang sa lầy trong các cuộc chiến ở Nam MỸ, châu Phi và châu Ầu) lẫn chủ quan {tiềm lực tài chính chưa đáp ứng được việc mờ rộng công cuộc xăm chiếm thuộc địa ở Đông Dương, nội tình nước Pháp cũng đang rơi vào khùng hoàng trầm trọng) nên thực dân Pháp chưa thể tiến hành được các cuộc hành quân đánh chiếm Việt Nam. Đen thời điểm năm 1858, khi thời cơ đã chín muồi, cùng với sự ùng hộ của giới giáo sỹ phương Tây đang hoạt động tại Việt Nam, viện cớ bảo vệ tín đồ Thiên chúa giáo khòi sự truy sát cùa chế độ phong kiến, Pháp đã bắt đầu công cuộc xâm lược Việt Nam bàng việc liên quân với Tây Ban Nha nổ súng tấn công cảng biển Đà Nằng, hòng từ đó tiến ra kinh đô Huế, bắt nhà Nguyễn hàng phục để xâm chiếm hoàn toàn đất nước Việt Nam trong một thời gian ngắn nhất. Nhưng do sự kháng cự quyết liệt cùa toàn thể dân tộc Việt Nam nên mưu đồ đánh nhanh, thắng nhanh cùa Pháp đã không thể thực hiện được. Với mục tiêu là chiếm được Việt Nam, thực dân Pháp đã phải thay đổi kế hoạch tấn công. Không thể chiếm được ngay tức khác Đá Nàng, hèn quan Pháp - lay Ban Nha chuyẻn hướng tiến vào đánh chiếm Gia Định. Mặc dù đã hạ được thành nhưng trước sự kháng cự mãnh liệt và bền bỉ cùa quân và dân ta, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã rơi vào tình huống tiến thoái lixỡng nan, chỉ dám cố thủ chù yếu trên các tàu chiến. Hơn nữa, trong lúc này, bộ phận quân lính địch ờ mặt trận Đà Nằng đang bị uy hiếp, có nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn nên một lần nữa, đội quân viễn chinh Pháp buộc phải trở ra Đà Nằng để giải vây cho sổ binh lính đang nguy khốn tại đây. Trận chiến tại Đà Nang diễn ra vô cùng ác liệt và cả hai bên đều ờ thế giàng co. Và trong suốt 18 tháng đánh chiếm, 419
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 đội quân xâm lược không thu được kết quả gì, hay nói một cách chính xác hơn là phải chịu thất bại, “một thất bại chính trị hom là một thắt bại quân sụ?'] nên đã phải quay trờ lại Gia Định theo mệnh lệnh của Chính phủ Pháp. Mục tiêu đánh chiếm Gia Định của Pháp là nhằm củng cố Gia Định, nơi có vị trí địa chiến lược quan trọng trong việc mở rộng công cuộc xâm chiếm Nam Kỳ lục tinh của Việt Nam, nơi cung cấp lúa gạo chính cho đất nước Việt Nam, hòng nắm khâu quan trọng đối với nền kinh tế bản địa để từ đó, trên thế mạnh chi phối mọi mối quan hệ đối với triều đình nhà Nguyễn. Từ thời điểm đó, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm 3 tinh miền Đông và trên thế áp đảo để can thiệp vào “van đề miền Tây Nam Kỳ”, đẩy triều đình Huế vào thế bị động, lúng túng. K.ết quả là thực dân Pháp đã dần dần “nuốt trọn” 3 tinh miền Tây, biến Nam Kỳ thành đất thuộc địa của chúng. Trước sự xâm lăng cùa thực dân Pháp, nhân dân Nam Kỳ đã liên tục đứng lên chiến đấu với mọi sức lực, của cải, bằng mọi chiến thuật và vũ khí, mặc dù không phải lúc nào cũng có được sự hỗ trợ của triều đình, thậm chí nhiều khi còn bị triều đình kết tội. Đó là những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như khởi nghĩa Trương Định, khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương, khời nghĩa của Nguyễn Trung Trực... Sau khi chiếm xong Nam Kỳ, cũng với mưu đồ mở rộng vùng đất thuộc địa, thực dân Pháp mang quân đánh chiếm Bắc Kỳ (lần thứ nhất: 1873-1874 và lần thứ hai: 1882-1884). Với lực lượng hùng hậu và được trang bị vũ khi tối tân SO với quân đội triều đình nhà Nguyễn nhưng quân Pháp đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân lính triều đình và của toàn thể nhân dân trong cả hai lần 1. Taboulet (1955), La geste /rancaise en Indochine, Maisonneuve, Paris, tập 2, p. 499 (Dần theo: Viện Sừ học (2003), Lịch sử Việt Nam 1858-1896, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 68). 420
Kết luận đánh chiếm. Mặc dù cuối cùng bọn chúng đã chiếm được các vị trí trọng yếu cùa triều đình nhưng cũng đã phải hứng chịu những tổn thất nặng nề cả về vật chất lẫn tính mạng. Chẳng hạn: trong trận Cầu Giấy lần thứ nhất, ngoài binh lính thì viên chỉ huy tối cao Gamier đã bị giết; trong trận cầu Giấy lần thứ hai thì Tổng chỉ huy H. Riviere đã bỏ mạng trên chiến trường. Các trận đánh chống giặc Pháp xâm lược đã bộc lộ rõ sự kiên cường, bất khuất và quyết tâm chiến đấu vì chù quyền dân tộc của quân và dân Việt Nam. Những tấm gương cao cả như Tổng đốc Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương... mãi mãi sáng ngời trong tâm khảm cùa mỗi người dân Việt Nam. Đáng tiếc rằng, trong khi các quan quân và toàn dân tộc quyết tâm chiến đấu đến cùng trước những hành động xâm lược cùa Pháp thì thái độ cùa triều đình nhà Nguyễn lại tò ra bạc nhược, sợ sức mạnh cùa vũ khí Tây phương; triều đình đã né tránh mọi giải pháp tích cực để giữ gìn nền độc lập, luôn nuôi hy vọng cầu hoà, sơ sệt, hoặc có đôi khi lại mang tư tưởng cầu viện phương Bắc để giải quyết vấn đề sống còn của đất nước. Thái độ đó cùa triều đinh đã phần nào làm giảm sức chiến đấu cùa quân đội và nhân dân trong những thời điểm quan trọng nhất, làm mất đi nhiều thời ca đánh đuổi ách xâm lược cùa thực dân Pháp. Thái độ đó đã dẫn đến sự đầu hàng nhục nhã của triều đình Huế trước đế quốc ngoại bang với việc ký kết các văn bản bán nước: Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Hiệp ước Giáp Tuất (1874), Hiệp ước Harmand (1883) và cuối cùng là Hiệp ước Patenôtre (1884) - văn kiện chính thức công nhận sự đô hộ của thực dân Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam với sự chia cắt đất nước thành 3 kỳ cùng những sự khác biệt nhất định trên góc độ bộ máv chính quyền nhà nước. Đó là văn kiện chính thức đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn trước giặc ngoại xâm. 421
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 Sự đầu hàng của chính quyền nhà Nguyễn đã dẫn đến sự phân hoá mạnh mẽ trong giới quan lại triều đình. Từ đó, một phong trào Cần Vương đã được dấy lên, kéo theo đó là các cuộc khởi nghĩa của nhân dân hường ứng phong trào này đã diễn ra mạnh mẽ trên khắp đất nước, nhất là ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Phong trào cần Vương chính là ngọn đuốc soi đường, là tiền đề quan trọng cho việc mở đầu một xu thế đấu tranh mới của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp giai đoạn này. Dưới ngọn cờ Cần Vương đã xuất hiện những cuộc khởi nghĩa chống Pháp, điển hình như khởi nghĩa Phan Đình Phùng, khởi nghĩa Ba Đình, các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Kỳ cũng như các cuộc nổi dậy tự phát như khởi nghĩa Yên Thế, các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc thiểu số... Sự đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn đã mở đường cho việc thiết lập ách đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam và thực sự trờ thành một sự kiện quan trọng, đánh dấu sự chuyển đổi từ một chế độ quân chủ lập hiến sang chế độ thuộc địa, mặc dù trên danh nghĩa thì triều đình nhà Nguyễn vẫn tồn tại và trong một chừng mực hạn hẹp, vẫn có quyền tự chủ đối với vùng đất Trung Kỳ. Như vậy, trên cùng một lãnh thổ, quốc gia, trong giai đoạn này đã tồn tại song song 2 hệ thống bộ máy nhà nước là: phong kiến và thực dân. Mặc dù có sự thay đổi về mặt thể chế, song hệ thống bộ máy nhà nước triều Nguyễn ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ hầu như không có gì thay đổi lớn. Nhiều tư tường canh tân đất nước được đưa ra nhưng trên thực tế thì không hề được triều đình quan tâm, chứ chưa nói đến việc áp dụng để tự lực tự cường, để có thể có đủ khả năng và sức mạnh đối phó với xu thế xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Do vậy, là kết quả tất yếu của lịch sử, khi vẫn chìm đắm trong tình trạng lạc hậu, trì trệ thì nguy cơ bị xâm lược, bị lệ thuộc vào kẻ mạnh ngày càng tới gần. Kết quả là chính quyền 422
Kết luận triều Nguyễn ngày càng lộ rõ sự lệ thuộc hoàn toàn vào thực dân Pháp trên tất cả mọi lĩnh vực, đó là điều tất yếu. Trên đất Nam Kỳ thuộc địa, thực dân Pháp đã từng bước thiết lập và hoàn thiện bộ máy cai trị thực dân với mục tiêu tăng cường sự bóc lột và nô dịch đối với nhân dân ta, tăng cường hiệu quả của công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa cùa chúng. Một bộ máy quân sự, cảnh sát, toà án cùng các cơ chế hỗ trợ cho chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp ngày càng được tăng cường và củng cố, bảo đảm cho việc cai trị và bóc lột. Trên lĩnh vực kinh tế, dưới ách thống trị của Pháp, vì mục tiêu chính của giới tư bản tài chính là tận thu những nguồn tài nguyên và sức lao động rẻ mạt để kiếm lợi nhiều nhất, nhanh nhất, nên một số ngành khai khoáng đã được hình thành, nền nông nghiệp trồng lúa nước để xuất khẩu được đẩy mạnh, hệ thống giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỳ, cảng biển...) phục vụ cho việc khai thác thuộc địa được mở mang. Đi kèm với đó là một số ngành công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu của giới thực dân cũng có sự biến chuyển nhất định. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, đời sống xã hội của đại đa số người dân Việt Nam đã rơi vào cảnh khốn cùng. Nạn đói kém hoành hành thường xuyẻn, trật tự an ninh xã hội it được báo đám, thêm vào đó là nạn sưu cao thuế nặng đã dồn họ vào cảnh cùng quẫn, không có lối thoát. Việc chăm sóc y tế, giáo dục gần như không được chú ý; nếu có những động thái nào đó trên lĩnh vực này thì cũng chỉ là nhằm phục vụ chữa bệnh cho người da trắng hoặc đào tạo ra những tên tay sai người Việt để phục vụ cho Pháp. Thực trạng đó đã trở thành một trong những tiền đề cơ bản dẫn tới nhiều cuộc khởi nghĩa cùa nhân dân ta chống lại ách xâm lược và nô dịch cùa thực dân Pháp trong giai đoạn dầu của quá trình đô hộ thực dân. 423
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 Như vậy, có thể nói rằng, từ năm 1858 đến năm 1896 chính là giai đoạn chuyển biến căn bản của xã hội Việt Nam, là bước ngoặt quyết định dẫn tới quá trình khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp ờ nước ta. Đây là giai đoạn mà nhà nước phong kiến quân chủ Việt Nam, một nhà nước có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, một nhà nước một thời đứng vào hàng ngũ những nhà nước quân chủ hùng mạnh ở Đông Nam Á, đã phải rút lui khỏi vũ đài lịch sử để trở thành \"kẻ\" lệ thuộc hoàn toàn vào thế lực đế quốc phương Tây. Giai đoạn lịch sừ đặc biệt này cũng đã ghi lại dấu ấn điển hình về tinh thần dân tộc cao cả của nhân dân Việt Nam trước nạn xâm lược ngoại bang với biết bao tấm gương oanh liệt, với quyết tâm hy sinh vì chủ quyền cùa quốc gia, dân tộc. Từ các cuộc chiến đấu anh dũng đó, nhân dân Việt Nam đã rút ra được những bài học lịch sử quý giá cho các giai đoạn sau: đó là bài học về tinh thần đoàn kết, kiên cường, bền bỉ; bài học về chiến lược và sách lược tiến hành kháng chiến chống lại ách độ hộ và áp bức cùa chù nghTa đế quốc. 424
PHỤ LỤC HIỆP ƯỚC NHÂM TUẤT NĂM 1862 (Những điều cơ bản) Hòa ước Nhâm Tuất hay Hiệp ước Nhâm Tuất, được ký ngày 5-6-1862 tại Sài Gòn giữa đại diện của triều Nguyễn (thời vua Tự Đức) là Chánh sứ Phan Thanh Giản và Phó sứ Lâm Duy Hiệp (hay Thiếp) với đại diện cùa Pháp là Thiếu tướng Louis Adolphe Bonard và đại diện của Tây Ban Nha là Đại tá Don Carlos Palanca Guttiere. Đây chính là hòa ước bất bình đẳng đầu tiên cùa Việt Nam ký với Pháp. Các điều khoản quan trọng Hòa ước Nhâm Tuất có 12 khoán, trừ các điều khoản có tính chất ngoại giao, còn 8 khoản sau đây đirợc xem là quan trọng hơn cả: K hoản 1: Từ nay về sau, hòa bình sẽ mãi mãi được thiết lập giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha và một bẽn lá v u a A n N am . T in h hữ u nghị loài) diộn và lâu b èn c ũ n g sC được thiết lập giữa thần dân ba nước dù họ ở bất cứ nơi đâu. Khoản 2: Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia Tô ở nưưc Đại Nam, và bất luận người nưóc Đại Nam ai m uốn theo đạo G ia Tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng nhũng người không muốn theo đạo Gia Tô thì không được ép họ theo. K hoản 3: Chù quyền trọn ba tình là Biên Hòa, tình Gia Định và tinh Định Tường, cũng như đào Côn Lôn, do hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho hoàng đế nước Pháp. Ngoài ra, các thương gia 425
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 Pháp được tự do buôn bán và đi lại bằng bất cứ tàu bè nào trên sông lớn của xứ Cam Bốt và trên tất cả các chi lưu của con sông này; các tàu binh Pháp được phép đi xem xét trên con sông này hay trên các chi lưu của nó cũng được tự do như vậy. Khoản 4: Sau khi đã nghị hòa, nếu có nước ngoài nào muốn, bằng cách gây sự hoặc bằng một hiệp ước giành lấy một phần lãnh thổ của nước Đại Nam, thì hoàng đế nước Đại Nam sẽ báo cho hoàng đế nước Pháp biết bằng một sứ thần... để hoàng đế nước Pháp được hoàn toàn tự do đến tiếp cứu nước Đại Nam hay không. Nhưng, nếu trong hiệp ước với nước ngoài nói trên, có vấn đề nhượng địa thì sự nhượng địa này có thể được thừa nhận nếu có sự ưng thuận của hoàng đế nước Pháp. Khoản 5: Người các nước Pháp và Tây Ban Nha được tự do buôn bán tại ba hải cảng là Tourane (Đà Năng), Ba La (Ba Lạt) và Quảng An. Nguời nước Đại Nam cũng được tự do buôn bán tại các hải cảng của nước Pháp và Tây Ban Nha như vậy, nhưng phải theo thể thức luật định... Khoản 8: Hoàng đế nước Đại Nam sẽ phải bồi thường một số tiền là bốn triệu piastre, trả trong 10 năm. Vì nước Đại Nam không có tiền piastre sẽ được tính bằng 72% lạng bạc. K h o ả n 9: N êu có cư ớp bóc, giặc bicn hoặc kỏ g ây rôi người nước Nam nào, phạm tội cướp bóc hoặc gây rối trên các đất thuộc Pháp, hoặc nếu có người Âu châu phạm tội nào đó, lẩn trốn trên đất thuộc nước Nam thì ngay khi nhà nước Pháp thông tri cho nhà chức trách Đại Nam, giới chức này phải cố gắng bắt giữ thủ phạm để giao nộp cho nhà chức trách Pháp, vấn đề cướp bóc, giặc biển hay quân phiến động nước Nam sau khi phạm tội, lẩn trốn trên đất thuộc Pháp, cũng sẽ được xử như vậy. Khoản 10: Dân chúng ba tinh là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên sẽ được tự do buôn bán ữong ba tinh thuộc Pháp m iễn tuân theo 426
Phụ lục luật lệ hiện hành, nhưng những đoàn tàu chở binh lính, vũ khí, đạn dược hay lương thực giữa ba tỉnh nói trên và Nam Kỳ chỉ được thực hiện bang đường biển. Tuy nhiên, hoàng đế nước Pháp thuận cho các đoàn tàu chờ các thứ trên vào Cam Bốt được có cửa khẩu là lạch Mỹ Tho (Định Tường), gọi là Cửa Tiền, song với điều kiện là các giới chức Đại Nam phải báo trước cho đại diện của hoàng đế nước Pháp, vị đại diện này sẽ trao cho họ một giấy thông hành. Neu thể thức này không được tuân theo và một đoàn vận tải như vậy nhập nội mà không có giấy phép thì đoàn đó và những gì hợp thành đoàn đó sẽ bị bắt giữ và các đồ vật sẽ bị phá hủy. K hoản 11: Thành Vĩnh Long sẽ được binh lính (Pháp) canh gác cho đến khi có lệnh mới mà không ngăn cản bằng bất cứ cách nào hoạt động cùa các quan Đại Nam . Thành này sẽ được trao trả cho hoàng đế nước Đại Nam ngay khi Ngài đình chỉ cuộc chiến loạn do lệnh Ngài tại các tỉnh Gia Định và Định Tường và khi những người cầm đầu cuộc phiên loạn này ra đi và xứ sở được yên tĩnh và quy phục như trong một xứ binh yên. 427
HIỆP ƯỚC GIÁP TUẤT NĂM 1874 Hiệp ước Giáp Tuất 1874 là bản hiệp định thứ hai giữa triều Nguyễn và Pháp, bản hoà ước này được kỷ vào ngày 15 tháng 3 năm 1874 với đại diện của triều Nguyễn là Lẽ Tuấn - Chánh sứ toàn quyền đại thẩn, Nguyễn Văn Tường - Phó sứ toàn quyền đại thần và đại diện của Pháp là Dupré - Toàn quyền đại thẩn, Thống đốc Nam Kỳ. Hoà ước gồm có 22 điêu khoản với nội dung chính là thay th ế bản Hòa ước Nhâm Tuất 1862, công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ, lệ thuộc vê chủ quyền ngoại giao, mở cửa cho Pháp tự do buôn bán tại các cảng biển và trên sông Hồng, tự do truyền đạo,... Khoản thứ /: Từ nay về sau, nước Đại Nam cùng với nước Đại Pháp đời đời kết giao hòa hiếu, tình bạn thực thà. Khoản thứ II: Vua nước Đại Pháp biết rõ vua nước Đại Nam là giữ quyẻn tự chủ, không theo phục nước nào, nên vua nước Đại Pháp tự hứa giúp đỡ, lại ước định như hoặc nước Đại Nam nếu có giặc và nước ngoài đến xâm nhiễu, mà vua nước Đại Nam có tư xin giúp cho, thì vua nước Đại Pháp tức thì phải tùy cơ giúp đỡ, cốt cho dẹp yên, cũng muốn đánh hết giặc biển quấy nhiễu cướp bóc ở phần biển nước Đại Nam, các phí tổn đều do nước Đại Pháp tự chịu và không đòi trả lại. Khoản thứ III: Vua nước Đại Nam nên đển đáp tình hứa giúp ấy, ước định nếu có giao thông với các nước ngoài thì phải góp ý với nước Đại Pháp nếu từ trước có giao thiệp đi lại thông sứ với nước ngoài nào, nay nên theo như cũ, không nên đổi khác. Duy nước Đại Nam muốn giao thông buôn bán, bàn định thương ước với 428
Phụ lục nước nào đều được tùy tiện; nhưng thương ước ấy không nên trái với thương ước của nước Đại Nam cùng với nước Đại Pháp hiện đã định. Lại khi nào cùng với nước nào định thương ước ấy, thì báo trước cho triéu đình nước Đại Pháp biết. Khoản thứ IV: Vua nước Đại Pháp ước định cho thèm vua nước Đại Nam các thứ đồ dùng mà không đòi tiền, kê ra sau này: - 5 chiếc tàu chiến (tàu ấy chiểu dài, chiều ngang bao nhiêu, lớn hay nhỏ, sẽ có giấy biên để làm bằng), sức máy 5 tàu ấy thông tính ngang với sức ngựa ước 500 máy móc, gỗ ván và nổi dân nước ờ 5 chiếc tàu ấy đểu là bển chặt và tốt hết cả. Lại các hạng súng ống vật liệu kèm theo tàu đầy đủ y như lệ đồ dùng ở tàu chiến của nước Đại Pháp. - v ể súng lớn 100 cỗ, lòng súng ấy đường kính từ 7 phân đến 1 tấc 6 phân (đều dùng thuốc của nước Đại Pháp), mỗi cỗ thuốc đạn đều 200 viên. - Về súng điểu sang mở ở bụng 1.000 cây, thuốc đạn 500.000 viên. Các đồ vật trên này, đợi sau khi hòa ước cùng giao cho nhau, hạn trong 1 năm đưa đến Gia Định giao cho nước Đại Nam nhận dùng. Lại như nước Đại Nam có muốn mượn người nước Đại Pháp dạy lính thủy, lính bộ và các thợ thuyền làm giúp máy móc cùng người am hicu thuô' lộ, thu giúp thuô buôn bán ờ các cửa biển và các người am hiểu tiếng, chữ, kỹ nghệ làm trường để dạy, mua thêm tàu chiến, thuốc đạn để đủ dùng về việc quân, các khoản ấy thì nước Đại Pháp đều phải làm giúp cho. Còn như tiền công mượn các người ấy và giá tiền mua thêm tàu và súng, tới khi ấy hai nước cùng định, cần phải thỏa đáng với nhau. Khoản thứ V: Vua nước Đại Nam biết rõ địa hạt nước Đại Pháp hiện được cai trị, tức là 6 tỉnh: Gia Định, Biôn Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, phía đỏng giáp biển và địa đầu phía tây tỉnh Bình Thuận nước Đại Nam, phía tây, phía nam đều 429
LỊCH S ừ VIỆT NAM - TẬP 6 giáp biển, phía bắc giáp nước Cao Miên và địa đầu phía nam tỉnh Bình Thuận nước Đại Nam, đều về quản hạt của nước Đại Pháp, riêng giữ quyền tự hữu. Duy nước Đại Nam có phần mộ quê ngoại về họ Phạm, họ Hồ cộng 14 sở; trong đó họ Phạm 11 sở, ở thôn Tân Niên Đông và thôn Tân Quan Đông thuộc tỉnh Gia Định; họ Hồ 3 sở ở thôn Linh Chiểu Tây và xã Tân Mai thuộc tỉnh Biên Hòa, các mộ ấy nghiêm cấm các hạng người đều không được xâm phạm. Nước Đại Pháp lại xin trích 200 mẫu ruộng đất gần mộ, trong số đó giao cho họ Phạm 100 mẫu, họ Hồ 100 mẫu, để làm nhu phí vâng giữ các phần mộ. Còn như ruộng đất ấy và nhân đinh họ Phạm, họ Hồ, nước Đại Pháp đều miễn trừ đi lính, đi phu và các thuế đinh, thuế điên. Khoản thứ VI: Chiểu theo điều ước cũ năm Nhâm Tuất [1862], nước Đại Nam còn thiếu tiền bổi thường cho nước Đại Pháp 1.000.000 đồng bạc (mỗi đồng bạc nặng 7 đồng cân 2 phân), nay được bỏ hết không đòi hỏi nữa. Khoản thứ V IỈ.ể Nguyên điểu ước cũ nãm Nhâm Tuất, nước Đại Nam còn thiếu tiển bổi thường cho nước Y Pha Nho 1.000.000 đồng bạc (mỗi đồng bạc nặng 7 đồng cân 2 phân), vua nước Đại Nam ước định trả cho triều đình nước Đại Pháp để chuyển giao cho nước Y Pha Nho, phải đợi ngày nào nước Đại Nam chiểu thu thuế quan cốc cửa biổn đã m ở cho các nước Tây dưưiig và Tân thế giới thông thương, mỗi năm thu được bao nhiêu, trừ sô' chi phí trong 1 năm ra, hiện còn bao nhiêu chia làm 2 thành, trích lấy 1 thành bồi vào sô' tiền bạc thiếu ấy. Mỏi năm bồi bao nhiêu giao cho Nguyên soái nước Đại Pháp ở tỉnh Gia Định biên nhận, chuyển giao cho nước Y Pha Nho, lấy giấy biên của nước ấy, giao cho nước Đại Nam giữ làm bằng, nhưng không kể là mấy năm, nãm nào bồi xong thì thôi. Khoản thứ VIII: Người nước Đại Nam có giúp nước Đại Pháp việc gì hoặc nước Đại Pháp có giúp nước Đại Nam việc gì, tự 430
Phụ lục phản bội nước mình mà có can phạm pháp luật của nước, phải tịch biên gia sản thì từ khi đã định hòa ước trở về trước; vua nước Đại Pháp và vua nước Đại Nam đều khoan tha, cho trả lại gia sản, duy gia sản ấy đã tùng bán đi, không còn ở Nhà nước nữa, không phải trả về. Khoản thứ IX: Vua nước Đại Nam biết rõ đạo Thiên Chúa nguyên để khuyên người làm điều lành, nay đem các giấy tờ cấm đạo Thiên Chúa từ trước bỏ hết đi; lại cho phép người nước Đại Nam có muốn theo đạo và giữ đạo, đều được thong dong tự tiện, vì thế người theo giáo trong nước đều được tùy tiện các việc hội nhau đọc kinh lẻ bái, không kể số người, người ngoài không được vin cớ bức bách dân theo đạo Thiên Chúa làm việc gì trái phép đạo và không bắt giáo dân khai riêng sổ sách. Từ nay về sau giáo dân ấy đều được đi thi ra làm quan mà chớ bắt phải trái phép đạo. Vua nước Đại Nam ước định: đem sổ riêng từ trước bỏ đi tất cả, còn sổ sách binh dao, thuế khóa phàm các việc đều giống như nhân dân và cấm từ nay vể sau nói nãng, giấy tờ không nên lại dùng chữ nào, câu nào có làm nhục đến đạo Thiên Chúa cùng là trong 10 điều, nếu có những chữ, những câu như thế cũng đều chữa lại. Giám mục, linh mục nước Đại Pháp đến ở nước Đại Nam để giảng đạo, người nào hễ trình có giấy thông hành của Nguyên soái nước Đại P háp ở G ia D inh cấp cho, có đủ bô L ẽ hoặc q uan tỉiili của nước D ai Nam đóng ấn phê chữ “dĩ trình” mới được vào nước Đại Nam và tùy tiện đi lại ở trong địa phận thuộc về giám mục ấy, tự do giảng đạo, chớ nên phân biệt bắt phải quản thúc, còn hoặc có ra đi không trở lại, sức cho các xã thôn sở tại khai báo như trước. Linh mục nước Đại Nam giảng kinh truyền giáo cũng như linh mục nước Đại Pháp. Nếu linh mục nước Đại Nam có phạm tội phải phạt đánh roi, đánh trượng thì nên chiểu lệ cho lấy tiền chuộc thay, không nên thực hành đánh roi, đánh trượng. Giám mục, linh mục nước Đại Pháp và linh mục nước Đại Nam đều được thuê mua ruộng đất làm 431
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 đạo đường, đạo quán, nhà dục anh, nhà dưỡng bệnh và các nhà thuộc về truyển giáo. Giáo dân ấy trước can phải giam, đi an trí, gia sản đã bị tịch biên, nay nếu hãy còn ở Nhà nước, thì nên giao trả cho giáo dân ấy nhận lấy; nếu đã bán mất rồi, không còn ở Nhà nước nữa thì thôi. Các khoản trên đây thì giám mục, linh mục nước Y Pha Nho cũng đểu được nhờ ơn như thế cả. Sau khi hòa ước này cũng giao cho nhau, nên ban sắc Dụ xuống báo cáo cả nước cho dân xã đểu biết vua nước Đại Nam đã rộng ban ơn huệ, chuẩn cho giáo dân được tự do theo đạo như thế. Khoản thứ X: Nước Đại Nam đểu có làm trường học ở thành Gia Định để tiện dạy học trò, thì có quan bộ Lại của nước Đại Pháp ở Gia Định trông nom giúp cho. Trong trường học ấy không được giảng dạy việc gì có trái phong hóa và trái quyền của nước Đại Pháp như có làm đền miếu tế tự việc gì đéu cho tùy tiện. Nếu giáo sư ấy có trái khoản ấy thì phải trao ưả nước ta, hoặc có làm việc gì nặng hơn việc ấy, thì trường ấy cũng phải thôi không đặt nữa. Khoản thứ XI: Cửa biển Thị Nại tỉnh Bình Định cùng cửa biển Ninh Hải tỉnh Hải Dương của nước Đại Nam và từ cửa biển ấy ngược lên một dải sông Nhị Hà suốt đến địa phận tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh và phố Hà Nội thì triểu đình nước Đại Nam nên đế cho người Tây dương và các người Tân thê giới thông thương buôn bán, sẽ định thương ước kèm với hòa ước này, về điểu khoản thông thương với bàn định cũng chiểu điều ước này tuân theo một thể. Trong đó cửa biển Ninh Hải cùng phô' Hà Nội và theo sông Nhị Hà suốt đến địa phận tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh, thì nên đợi khi điều ước này cùng giao cho nhau hoặc trước khi chưa giao cho nhau nên định ngày nào khai trương làm tiện, tới khi ấy do hai nước bàn định. Duy cửa biển Thị Nại tỉnh Bình Định, phải đợi sau khi cùng giao cho nhau 1 năm thì đem khai thương. Còn như các cửa biển, các sông, đợi sau này buôn bán nếu 432
Phụ lục CÓ phồn thịnh ích lợi, nên mở ra buôn bán mà có lợi thì sẽ cho nước Đại Nam nghĩ định làm việc. Khoản thứ XII: Các người nước Đại Pháp và thuộc địa cùng các nước Tây dương và Tân thế giới, người nào hễ tuân theo luật lệ nước Đại Nam, phải được ước định khai thương ở các cửa biển, mua đất làm nhà, tùy ý buôn bán và đặt làm máy móc kỹ nghệ ở nước Đại Nam, nhưng phải nhờ quan nước Đại Nam chỉ định xứ sở, không được lẫn lộn. Trong đó chỗ đất ở hoặc đất công hoặc đất tư chiểu giá thuận mua và cả nhà ở, thuế lệ phải nộp là bao nhiêu, thì chiểu lệ định, đưa nộp cho quan nước Đại Nam. Các người đi buôn cho phép được thông hành buôn bán từ cửa biển Ninh Hải suốt lên sông Nhị Hà cho đến tỉnh Vân Nam; về thuế lê thuyển và thuế hàng hóa là bao nhiêu, cũng chiểu lệ đưa nộp cho quan nước Đại Nam. Còn như từ cửa biển Ninh Hải theo sông Nhị Hà đến Hà Nội, lại từ Hà Nội suốt đến Vân Nam các chỗ cạn ở ven sông, người Tây đều được buôn bán. Người các nước trên đây đểu được tùy tiện thuê mượn người nước Nam làm giúp các hạng tài phó, thông ngôn, thư ký, thợ thuyền, phu chèo thuyền, làm công việc trong nhà. Khoản thứ X I II .ề Nước Đại Pháp được liệu đạt lãnh sự hoặc một viên chuyên làm việc ở các cửa biển đã khai thương ở nước Đại Nam, mỗi sở mang theo quân cốt đủ để sai phái, nhưng không được q u á số 100 tên, đ ể tiên tir vệ và tuần phòng canh giữ, ch o khỏi người các nước sinh sự, đợi khi nào yên ổn không ngại gì, thì lãnh sự ở lại làm việc, quân lính mang theo rút về hết cả. Khoản thứ XIV: Người nước Đại Nam cũng được các khoản đi lại để buôn bán và mua đất làm nhà ở nước Đại Pháp và các thuộc địa. Duy phải tuân theo luật lệ nước Đại Pháp. Nếu vua nước Đại Nam muốn đặt lãnh sự ở các cửa biển, các phố ở nước Đại Pháp và các thuộc địa để tiện coi giữ người nước mình, đều được tùy tiện. Khoản thứ X V : Người đi buôn của nước Đại Pháp và các thuộc địa cùng các nước khác, muốn đến nước Đại Nam khai thương ở 433
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 các cửa biển, ở để buôn bán phải kê khai tên và quê quán trình nộp ở quan nước Đại Pháp, quan nước Đại Pháp lại chuyển tư cho quan nước Đại Nam biết. Dân nước Đại Nam muốn đến nước Đại Pháp và các thuộc địa ở để buôn bán cũng chiểu theo như thế mà làm. Nếu người đi buôn của nước Đại Pháp và các nước khác muốn đi lại xứ khác trong nước Đại Nam có việc gì, phải có giấy thông hành của quan nước Đại Pháp cấp cho và quan nước Đại Nam thuận phê chữ “đĩ trình” mới được thông hành, nhưng cấm buôn bán vật hạng ở dọc đường, nếu trái lệnh cấm thì hàng hóa của người buôn ấy do quan sở tại nước Đại Nam tịch thu hết. Nhưng hiện nay sĩ dân trong nước Đại Nam còn giữ lòng nọ kia, chưa yên lậng hết, thì người nước ngoài chưa tiện thông hành nên đợi ngày nào quan nước Đại Nam cùng quan Khâm sứ nước Đại Pháp, bàn xét hiện tình, quả đã yên ổn, mới có thể cấp giấy cho đi. Và người nước Đại Pháp muốn đến xứ nào trong nước Đại Nam tìm học bác vật, cũng phải tư cho quan nước Đại Nam biết; vì người ấy có ý du học, tất phải giữ gìn cho và cấp giấy tờ đầy đủ giúp cho người ấy được tiện đi lại thông hành tìm học. Khoản thứ XVI: Người nước Đại Pháp kiện nhau hoặc kiện với người nước khác, đểu do quan Lãnh sự nước Đại Pháp xét xử. Người nước Đại Pháp và người nước khác kiện nhau với người nước Đại Nam, hoặc xin bày tỏ việc gì, phải trước hết do quan lãnh sự nước Đại Pháp hết sức công bằng phân xử, cốt cho ổn thỏa. Nếu có khoản gì ữở ngại, quan nước Đại Pháp thế khó xử đoán một mình được, tức phải tư xin quan nước Đại Nam hội đồng làm giúp. Quan hai nước xét xử đã được công bằng, thì đôi bên đểu phải tuân theo. Người nước Đại Nam kiện nhau với người nước Đại Pháp hoặc người nước khác phải trước hết do quan nước Đại Nam hết sức công bằng phân xử, cốt được ổn thỏa, nếu có khoản gì trở ngại, quan nước Đại Nam thế khó xử đoán một mình được, thì phải tư xin quan nước Đại Pháp hội đồng làm giúp, quan hai nước xét xử đã được công bằng thì hai bên đều phải tuân theo. Còn người nước Đại Pháp 434
Phụ lục kiện nhau, hoặc kiện với người nước khác, thì chuyên do nước Đại Pháp xét xử. Khoản thứ XVII: Người nước Đại Pháp và người nước khác đến địa hạt nước Đại Nam mà phạm tội thì phải giao về các tòa ở Gia Định xét xử; nếu người phạm tội ấy trôn tránh ở địa phận nước Đại Nam phải tư cho quan nước Đại Nam nã bắt, thì quan nước Đại Nam cũng phải hết sức dò bắt giao cho quan nước Đại Pháp nhận để làm việc. Nếu người nước Đại Nam đến ở địa phận nước Đại Pháp mà phạm tội, thì quan nước Đại Pháp chiểu luật lệ nước ấy xét xử, nhưng tư cho quan lãnh sự nước Đại Nam biết để theo lệ tra xét. Khoản thứ X V III: Phàm có giặc ở địa phận nước Đại Pháp, như có phạm các tội làm loạn và trộm cướp, mà trốn ở địa hạt nước Đại Nam, được quan nước Đại Pháp tư cho quan nước Đại Nam biết, thì quan nước Đại Nam tức phải hết sức dò bắt, giao cho quan nước Đại Pháp xét xử. Nước Đại Nam có giặc phạm các tội làm loạn và trộm cướp, mà trốn đến địa hạt nước Đại Pháp, được quan nước Đại Nam tư cho quan nước Đại Pháp biết, quan nước Đại Pháp cũng phải hết sức dò bắt, giao cho quan nước Đại Nam xét xử. Khoản thứ XIX: Người nước Đại Pháp và người nước khác có chết ở địa hạt nưórc Đại Nam, ngirrri nirrtc Dại Nam có chết ở đja hạt nước Đại Pháp, gia sản của người chết ấy phải giao cho con cháu người ấy người đáng được hưởng, nếu hiện tại không có người đáng được hưởng, thì gia sản của người chết ấy đều phải giao cho quan nước ấy chuyển giao cho thân thuộc của người chết áy ở trong nước nhận lấy. Khoản thứ XX: Từ ngày quan đại thần hai nước định hòa ước đã ký tên, đóng ấn trở về S2U, đợi đủ 1 năm, vua nước Đại Pháp đặc cách phái 1 người được sung làm quan Khâm sứ hạng nhì đến Kinh đô nước Đại Nam để tiện theo giữ các khoản đã định trong hòa ước, 435
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 chức trách phải làm của quan Khâm sứ ấy là khiến cho hai nước tình giao hiếu thường hòa, nghĩa bạn càng hậu. Vua nước Đại Nam nếu muốn đặt quan Khâm sứ đến ở kinh đô nước Đại Pháp, cũng theo như thế mà làm việc. Duy phẩm trật nghi chế của quan Khâm sứ ấy phải đợi hai nước bàn định, cốt được tương đương. Còn bổng lệ của quan Khâm sứ ấy và các hạng chi phí, phải do các nước ấy chiểu cấp. Khoản thứ X X I: Nay ước mới này được đem thay thế điều ước cũ năm Nhâm Tuất trước. Nước Đại Pháp lại muốn chuyển nói với nước Y Pha Nho cùng theo giữ ước mới này mà bỏ ước cũ đi, nếu hoặc nước Y Pha Nho không chịu thay đổi các khoản ước cũ, thì ước mới ấy nước Đại Pháp và nước Đại Nam đều cùng theo giữ, mà khoản nào thuộc ước cũ là thuộc nước Y Pha Nho cùng nước Đại Nam đã định, đều phải theo như cũ. Duy khoản ước nước Đại Nam còn thiếu tiến bồi thường cho nước Y Pha Nho, thì nước Đại Pháp tự nhận bồi thay, nước Đại Nam lại chiểu khoản thứ 7 trong điều ước mới trả dần nợ bạc ấy cho nước Đại Pháp đủ số. Khoản thứ X X II: Nay ước mới đã định, thì hai nước cùng nhau cùng giữ ước ấy, đời đời chớ trái, đủ 1 năm hoặc chưa tới 1 năm, đợi được vua hai nước phê chuẩn, thì đem đến Kinh thành nước Đại Nam cùng giao cho nhau để lưu chiểu. Khi việc đã xong, lại đem hòa ước ấy đẻu tuyên bố ở ưong nước, khiến cho đếu biết cả. Và ước mới ấy đã làm 4 bản, Toàn quyển đại thần hai nước cùng nhau so sánh phù hợp phải ký tên đóng ấn vào. Hòa ước trên này bàn định ổn thỏa ở phủ Nguyên soái thành Gia Định, niên hiệu biên ngày ta là ngày 27 tháng giêng năm Tự Đức thứ 27. Lịch dương lịch là ngày 15 tháng 3 năm 18741. Phó Đề đốc Dupré, Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường 1. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 8, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 9-15. 436
HIỆP ƯỚC GIÁP THÂN NĂM 1884 Hiệp ttớc Giáp Thân nám 1884 hay còn có tên là Hiệp ước Patenôtre, là hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp vào ngày 6-6-1884 tại kinh đô Huế gồm có 19 điều khoản. Đại diện phía nhà Nguyễn là Phạm Thận Duật - Toàn quyền đại thần, Tôn Thất Phan - Phó Toàn quyền đại thần, Nguyễn Văn Tường - Phụ chính đại thần và phía Pháp là Jules Patenôtre - Sứ thần Cộng hoà Pháp. Khoản thứ 1- Nước Đại Nam tự nhận nước Đại Pháp giúp đỡ, nghĩa là nước Đại Nam có giao thông với nước nào thi nước Đại Pháp giúp đỡ công việc và nhân dân nước Đại Nam có ở nước ngoài thì Đại Pháp cũng giúp đõ. Khoản thứ 2 - Quân nước Đại Pháp đóng lâu ở đồn cửa biển Thuận An, từ cữa biển ấy lên tới Kinh thành, các đồn lũy ở ven sông và công việc phòng bị, nước Đại Nam cần phải triệt bò. Khoản thứ 3 - Địa giới nước Đại Nam, từ giáp tỉnh Biên Hòa, Nam Kỳ về phía Bắc cho đến giáp tỉnh Ninh Bình Bắc Kỳ, các quan viên ở tinh đều làm chức tự trị dân như cũ. Trừ ra các Nha Thương chính và cục Tạo tác, nên có quan Pháp trông coi, còn việc thường mà có ứng dụng quan bác vật hãy dùng người Pháp để ừông coi. Khoản thứ 4 - Nước Đại Nam từ giáp tỉnh Biên Hòa đến giáp tỉnh Ninh Bình, những tinh ở khoảng giữa ấy, trừ ra cửa biển Thi Nại đã mở buôn rồi, nay Đà Nằng thuộc tỉnh Quảng Nam, Xuân Đài thuộc tinh Phú Yên, 2 cửa biển đó nên mờ thêm bến buôn ra, ngoài ra các cửa biển khác, sau này xét có ích lợi thì họp bàn mở thêm việc buôn. Nước Pháp cũng có đặt quan ở những chỗ bến buôn mở thêm ấy. Nhưng những quan ấy phải theo lệnh của quan Khâm sứ đại thần ờ Kinh. 437
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 Khoản thứ 5 - Quan Khâm sứ đại thần đóng ở Kinh, chuyên về giữ công việc ngoại giao nước Đại Nam với nước ngoài, không có dự kịp tới công việc các tinh ở trong giới hạn khoản thứ 3. Khâm sứ đại thần, lại được thẳng vào tâu với Đại hoàng đế nước Đại Nam. Quan Khâm sứ đại thần ấy ở trong Kinh thành có quân Pháp theo hầu. Khoản thứ 6 - Các tình nước Đại Nam từ giáp Ninh Bình trở về phía Bắc, tinh nào có sự cần cấp, thì nước Đại Pháp nên đặt công sứ hay bọn phó công sứ, thì ở trong các tình ấy, gần chỗ quan tỉnh ở thì công sứ, phó sứ đó, có lính Pháp hay lính Nam theo hầu. Khoản thứ 7 - Quan công sứ nước Pháp đặt ở tinh nào ở Bắc Kỳ, quan công sứ ấy không được dự làm những việc dân chính trong tinh ấy, các quan tỉnh ấy, không kể hạng quan nào, cứ cai trị hạt dân như cũ. Như quan Pháp có kiểm được quan Nam nào nên thay đổi, có xin thay đổi ấy, sẽ thay đổi. Khoản thứ 8 - Nước Đại Pháp không kể viên dịch nào, như có việc gì nên tư báo với các quan nước Đại Nam thì do quan công sứ nước Pháp tư báo mà thôi. Khoản thứ 9 - Nước Đại Pháp sẽ dựng một con đường điện báo từ Sài Gòn đến Hà Nội, chuyên do người Pháp trông làm, khoản này nếu được tiền lời bao nhiêu, nước Pháp trích lấy một phần giao cho nước Nam tiêu dùng, vì nước Nam có nhường phần đất để đú chỗ làm, do đó những nhân viên điện báo mới có thể dựng được buồng bếp nhà cửa để ở. Khoản thứ 10 - Các người ngoại quốc ngụ ờ nước Đại Nam từ giáp Biên Hòa đến giáp Ninh Bình và địa hạt Bắc Kỳ, thì đều chịu dưới quyền nước Đại Pháp xử đoán, như người nước Nam cùng người nước ngoài, hay người nước ngoài cùng người nước Nam có việc gì tranh kiện nhau thì đều do quan nước Pháp phân xử. Khoản thứ 11 - Nước Đại Pháp từ giáp tỉnh Biên Hòa đến giáp tỉnh Ninh Bình, thì quan Bố chính chiểu thu thuế lệ về cho 438
Phụ lục triều đình nước Đại Nam y theo như cũ, không có quan Pháp kiểm cố tới đó. Đen như địa hạt Bắc Kỳ thì quan công sứ họp với quan bố chính, tóm các thuế lệ mỗi tình một xứ, khiến cho tiện việc kiểm cố, biết được số sờ thu và sở chi, khi thu xong, quan nước Đại Pháp và quan nước Đại Nam hội đồng chuẩn định sự chi phí các nơi và các số công nhu tiền kẽm bao nhiêu, số chi còn bao nhiêu, quy nộp vào kho ờ Kinh cùa triều đỉnh nước Đại Nam. K hoản thứ 12 - Các sở Thương chính ờ trong nước Đại Nam, lại muốn bàn định giao hết cho quan Đại Pháp chuyên biện, những sở Thương chính có nên xây dựng thì chi ờ những nơi ven biển và biên giới mà thôi, lấy các sở Thương chính trước, quan võ nước Pháp đã làm như thế nào, nước Đại Nam ngày nay cũng nên thôi bàn. Đen như điều lệ các sở Thương chính và các lệ thuế ngoại ngạch kịp các khoản lệ cấm các thuyền không được vào cửa biển, trong khi đó dịch khí, thì trong nước Đại Nam và các sở Bắc Kỳ cũng y như điều lệ cùa 6 tỉnh Nam Kỳ. K hoản thứ 13 - Trong địa hạt Bắc Kỳ, nước Đại Nam và những người Pháp mớ buôn ở các sờ, và những người được nước Pháp bào trợ, đều được đi lại buôn bán, mua đất dựng cửa hàng, thung dung tự tiện, lại khoản các giám mục, linh mục giảng giáo cho giáo dân đã ước định ở ngày 15 tháng 3 nãm 1874, tức ngày 27 tháng 1 năm Tự Đức thứ 27 (khoản thứ Q). Nay Đại hoàng đế nirác Đại Nam cũng phê chuẩn y như khoản ấy. Khoản thứ 14 - Như có người nước ngoài muốn đi trong nước Đại Nam có công việc gì, thì phải xin giấy thông hành ở quan Khâm sứ tại Kinh, hay quan Tổng thống Gia Định, đến trình quan nước Đại Nam phê chữ đóng ấn vào 2 chữ \"dĩ trình\" mới có thể đi được. K hoản thứ 15 - Nước Đại Pháp tự hứa rằng, từ sau đi, xin giúp Đại hoàng đế nước Đại Nam hoàn toàn tốt đẹp và trong nước khỏi phải giặc cướp trong ngoài, do đó mà nước Đại Pháp chiểu 439
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 cho là ở trong nước Đại Nam, hoặc Bắc Kỳ hay nơi nào cần kíp, có nên đón quân thì được dùng quân đóng để bảo trợ. Khoản thứ 16 - Đại hoàng đế nước Đại Nam cai trị trong nước, trừ ra những điều đã định ở trong hòa ước ngoài, còn đều theo như cũ. Khoản thứ 17 - Nước Đại Nam còn thiếu số bạc của nước Pháp (tức là món nợ Y Pha Nho) sau sẽ bàn định tính trả, nước Đại Nam đừng đi vay mượn nước ngoài. Neu nước Pháp không đồng ý, thì nước Đại Nam không được vay nước ngoài. Khoản thứ 18 - Sau khi quan của hai nước hội đồng chia định giới hạn các nơi mở buôn, và nhường đất cho người mở bến buôn, trong đó có bàn dựng cây đèn pha ở nước Đại Nam, từ ven biển Biên Hòa đến giáp Ninh Bình cùng địa hạt Bắc Kỳ, và lệ định thuế khai các mỏ, lệ dùng tiền bạc. Hội đồng định chia các sở Thương chính và những lợi tạp thuế và thuế điện báo, và chia các khoản thuế chưa cho liệt vào khoản thứ 11, trích giao cho nước Đại Nam nhận dùng. Điều ước ấy đệ về, đưa tới triều đình Đại Pháp và tiến lên Đại hoàng đế nước Đại Nam phê chuẩn, tùy tóc trao đổi. Khoản thứ 19 - Tờ ước này thay thế cho các tờ ước ký ngày 23 tháng 11, ngày 30 tháng 8 và ngày 15 tháng 3 năm 1879, khi nào hai bên như có thay đổi ý kiến gì ở trong tờ ước đó thì cứ lấy bản chữ Pháp làm chính, toàn quyền đại thần cùa hai bẽn đâ ký tẽn và đóng dấu ấn ở tờ ước ấy làm bằng. Tờ ước ấy đã lập ở Kinh vào ngày 13 tháng 5 năm Kiến Phúc thứ 1, tức là ngày 6 tháng 6 nám 1884. Dự thương Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật, Phó Toàn quyền đại thần Tôn Thất Phiên đều ký tên đóng ấn)1. 1. Quốc sừ quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 9, tr. 74-77. 440
TÀI LIỆU THAM KHẢO L TIÉNG VIỆT ]. Nguyễn Am, \"Vài nét về tình hình khẩn hoang ở đồng bằng Bắc Bộ vào nứa cuối thế kỷ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1994. 2. Đào Duy Anh, Lịch sử cách mệnh Việt Nam (từ 1862-1930), Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1955. 3. Nguyễn Anh, \"về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 50, 1963. 4. Nguyễn Anh, \"Vài nét về giáo dục ờ Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến cuối Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 98, 1967. 5. Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời đô hộ Pháp, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên xuất bản, Sài Gòn, 1974. 6. Nguyễn Thế Anh, Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua Nguyễn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2008. 7. Dan C hâp hành D àng bộ huyện C am Lộ, Lịch sử D ùng bộ huyện Cam Lộ (1930-2000), Nxb. Chính trị quốc gia, 2003. 8. Phan Trọng Báu, \"Đinh Công Tráng với khởi nghĩa Ba Đình\", Tạp chí Nghiên cihi Lịch sử, sổ 141, 1971 9. Phan Trọng Báu, Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994. 10. Philippe le Failler. \"Độc quyền thuốc phiện ở Việt Nam. Những nguyên tắc chỉ đạo việc khai thác cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sứ, số 4, 1996. 441
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 11. Hoa Bằng, \"Cuộc khời nghĩa (1862-1864) do Cai Vàng và vợ ba ông lãnh đạo\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 94, 1967. 12. Hoa Bằng, \"Cuộc nổi dậy “Chày Vôi” (1866) chống triều đình mục nát triều Nguyễn\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 128, 1969. 13. Cao Văn Biền, Công nghiệp than Việt Nam thời kỳ 1888- 1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998. 14. Cao Văn Biền, \"Ve bản thôn công điền công thổ trước Cách mạng tháng Tám\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2, 1985. 15. Nguyễn Công Bình, Tim hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957. 16. Trương Bá cần, Lịch sử phát triển Công giáo Việt Nam, tập 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2008. 17. Trương Bá cần, Hoạt động ngoại giao cùa nước Pháp nham cùng cố cơ sở tại Nam Kỳ (1862-1874), Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011. 18. Nguyễn Xuân cần, \"về năm sinh của Nguyễn Cao\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, 1986. 19. Phan Bội Châu: toàn tập, tập 3, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1990. 20. Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế nghĩa s ĩ cắn Giuộc, In trong: Bảo Định Giang - Nguyễn Quang Hưng, Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802-1883), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2007. 21. Claudi Salmon, Tạ Trọng Hiệp, \"Từ Batavia đến Sài Gòn - Du ký của một thương nhân Hoa kiều\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 278, 1995. 22. Devillers, Philippe, Người Pháp và người Annam - bạn hay thù, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006. 23. Nguyễn Sinh Duy, \"Trận đột kích Nam Chơn (Quảng Nam) (2-1886)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch ằyif, số 2, 1981. 442
Tài liệu tham khảo 24. Documents A. Salles: III. Philippe Vannier, BAVH, No 2- 1935, p. 149. 25. Cao Thế Dung (2003), Việt Nam Công giáo sử, tân biên (1533-2000), quyển 3, Cơ sờ Dân chúa xuất bản. 26. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỳ Phụ biên, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nxb. Văn hóa - Văn nghệ, 2011. 27. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, 6, 7, 8, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, 2006. 28. Nguyễn Khắc Đạm, Những thú đoạn bóc lột cùa tư bản Pháp ở Việt Nam, Nxb. Văn Sừ Địa, Hà Nội, 1957. 29. Nguyễn Khắc Đạm, \"Nguyễn Cao, một văn thân yêu nước chống Pháp\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, sô 44, 1962. 30. Nguyễn Khắc Đạm, \"Đánh giá Phan Thanh Giản thế nào cho đúng\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 51, 1963. 31. Nguyễn Khắc Đạm, \"Cần nhận rõ chân tướng Trương Vĩnh Ký để đánh giá cho đúng\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 59, 1964. 32. Nguyễn Đình Đầu, Ché độ công điền công tho trong lịch sử khấn hoang lập ấp ở Nam Kỳ lục tinh, Hội Sừ học Việt Nam, Hà Nội, 1992. 33. Địa lý hành chính Kinh Bắc, Hội Khoa học Lịch sừ Việt Nam xuát bán, 1997. 34. Lâm Công Định, \"về trận huyết chiến bảo vệ cửa biển Thuận An năm 1883\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, 1985. 35. Trần Đ ộ ,' v ề nhân vật lịch sừ Luu Vĩnh Phúc trong ỉhời kỳ chiến tranh Trung - Pháp (1883-1885)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 282, 1995. 36. Foumiau (Ch), \"Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Binh Định - Phú Yên (1885-1887) (theo những tài liệu của Pháp)\"?Tạp chí Nghiên cứu LỊcli sứ, số 6, 1982. 443
LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 6 37. Foumiau (Ch), \"Người Hoa ờ Bắc Kỳ trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2-3, 1991. 38. Gia Định xưa và nay, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1994. 39. Trần Văn Giáp, \"Tài liệu mới về Trương Công Định (1821-1864), vị anh hùng dân tộc miền Nam\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 59, 1963. 40. Quang Đạm (dịch), Đinh Xuân Lâm (hiệu đính), Hiệp ước, thỏa ước và hiệp định ký kết giữa nước Việt Nam và nước Pháp, Tư liệu Viện Sử học (Vv963). 41. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Lịch sử cận đại Việt Nam, tập 1, 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960. 42. Trần Văn Giàu, Tống tập (tập I), Nxb. Quân đội nhân dân, 2006. 43. GILLES (R), \"Cảng Hải Phòng. Việc thiết lập cảng và những bước do dự án đầu tiên (1874-1902)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sứ, số 1, 1991. 44. Mai Hanh, \"Trương Định - người anh hùng tiêu biểu cho tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân miền Nam thời kỳ cận đại\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sứ, số 66, 1964. 45. Mai Hanh, \"Ve giai đoạn chiến đấu cuối cùng của nghĩa quân Hương Khê do cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 85, 1966. 46. Mai Hanh, \"Đốc Ngữ và lực lượng nghĩa quân sông Đà trong phong trào chống ngoại xâm của nhân dân Việt thời kỳ cuối thế kỷ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 97, 1967. 47. Đinh Văn Hạnh, \"Phòng tuyến của thực dân Pháp ở Vũng Tàu cuối thế kỷ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 277, 1994. 444
Tài liệu tham khảo 48. Châu Hải, \"Triều Nguyễn với các nhóm cộng đồng người Hoa ờ Việt Nam thế kỷ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sứ, số 4, 1994. 49. Nguyễn Hữu Hiếu, \"Ve cuộc kháng chiến chống Pháp cùa Thiên hộ Vũ Duy Dương (1827-1866)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1993. 50. Lê Thị Thanh Hòa, \"Việc sử dụng quan lại cùa vương triều Nguyễn từ 1802-1884\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 280, 1995. 51. Ngô Văn Hòa, \"Tổ chức quản lý xã thôn và cộng đồng làng xã ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5, 1983. 52. Ngô Văn Hòa, \"Mấy suy nghĩ về cuộc khởi nghĩa Ba Đình\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6, 1986. 53. Ngô Văn Hòa, Dương Kinh Quốc, Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978. 54. Phan Phát Huồn (C.S.S.R), Việt - Nam giáo - sử, quyển 1, (1533-1933), in lần thứ 2, Cửu thế tùng thư, Sài Gòn, 1965. 55. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, ủ y ban nhân dân, Lịch sử Đàng bộ huyện Nghi Lộc, tập 1, Nxb. Nghệ An, 1998. 56. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, ủ y ban nhân dân huyện Nam Đàn, Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Nam Đàn, tạp l, IViO -1954, Nxb. Nghẹ An, 2000. 57. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, ủ y ban nhân dân huyện Thanh Chương, Lịch sử Đàng bộ Đàng Cộng sản Việt Nam huyện Thanh Chương, tập 1, Nxb. Nghệ An, 2005. 58. Đỗ Quang Hưng, \"Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX (1858- 1896)\", trong: Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2003. 59. Đỗ Quang Hưng, Nghiên cửu tôn giáo: nhân vật và sự kiện, Nxb. Tống hựp thành phố Hồ Chí Minh, 2009. 445
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 60. Nguyễn Văn Khánh, \"Phong trào cần Vương chống Pháp ở miền núi Thanh Nghệ cuối thế kỷ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 226, 1986. 61 ửNguyễn Văn Khánh, \"Quá trình biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 281, 1995. 62. Nguyễn Văn Khánh, Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2000. 63. Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử (1862-1945), Phù Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1971. 64. Nguyễn Văn Kiệm, Phong trào nông dân Yên Thế chống thực dân Pháp xâm lược, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1985. 65. Nguyễn Văn Kiệm, \"Những nỗi thống khổ của nông dân đồng bằng Bắc Kỳ những năm 80 - 90 thế kỷ XIX (qua ghi chép của một Giám mục Công giáo)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 280, 1995. 66. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005. 67. Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập cùa đạo Thiên chúa ở Việt Nam từ thế kỳ XVII đến thế kỳ XIX, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xuất hàn, Hà Nội, 2001. 68. Hồng Kiều, \"Ve các đơn vị hành chính ở Nam Bộ qua các chế độ\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, 1979. 69. Hà Kinh, \"Thành Sơn Tây với chiến công oanh liệt chống xâm lăng (12-1883)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 136, 1971. 70. Trương Hữu Kỳ, \"Đánh giá Phan Thanh Giản thế nào cho đúng\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 54, 1963. 71. Đinh Xuân Lâm, Triệu Dương, \"Cuộc khởi nghĩa năm 1886 ở kinh thành Huế dưới ánh sáng của nguồn tư liệu mới: bài 446
Tài liệu tham khảo “Trung nghĩa ca” do chính thù lĩnh Đoàn Hữu Trưng viết\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sừ, số 9 và số 11, 1959. 72. Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Vãn Khánh, về thắt thù kinh đô, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959. 73. Đinh Xuân Lâm, \"Nguyễn Xuân Ôn, một thủ lĩnh văn thân lỗi lạc cuối thế kỳ XIX (1886-1892)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 158, 1974. 74. Đinh Xuân Lâm, Phan Trọng Báu, \"Cao Thắng với phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 164, 1975. 75. Đinh Xuân Lâm, Võ Văn Sạch, \"Tư liệu mới về Nguyễn Xuân Ồn và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6, 1982. 76. Đinh Xuân Lâm, Võ Văn Sạch, \"về Nguyễn Cao\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4, 1983. 77. Đinh Xuân Lâm, Võ Văn Sạch, \"Ba văn kiện về phong trào càn Vương\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5, 1983. 78. Đinh Xuân Lâm, \"Phong trào đấu tranh vũ trang chống xâm lưục Pháp cuối tlié kỹ X IX ừ N ghệ Tĩnh: những đặc điẻm phát triển, nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 218, 1984. 79. Đinh Xuân Lâm, Trịnh Nhu, Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh, Nxb. Thanh Hóa, 1985. 80. Đinh Xuân Lâm, \"Hai tư liệu lịch sử về phong trào cần Vương tinh Thanh Hóa\", Tạp chí Nghiên ci'm Lịch sử, số 221, 1985. 8 1. Đinh Xuân Làm, Võ Văn Sạch, \"Một số tư liệu về phong trào Cần Vương ờ Bắc Kỳ\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 224, 1985. 447
LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 6 82. Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, \"Vai trò của Tôn Thất Thuyết trong lịch sử dân tộc\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 225,1985. 83. Đinh Xuân Lâm, \"Đe có một nhận định đúng đắn về Tôn Thất Thuyết trong lịch sử Việt Nam\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6, 1985. 84. Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, \"Bàn thêm về tính chất và vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh vũ trang chống xâm lược Pháp vào cuối thế kỳ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 1986, số 6. 85. Đinh Xuân Lâm, \"Nông thôn Việt Nam trong thời kỳ cận đại\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1-2, 1987. 86. Đinh Xuân Lâm, \"Nguyễn Mậu Kiến - người xướng nghTa đầu tiên trên đất Thái Bình\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (262), 1992. 87. Đinh Xuân Lâm, \"về Đốc Tích, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Hai Sông (1883-1889)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (263), 1992 88. Đinh Xuân Lâm, \"Tìm hiểu thêm về phong trào cần Vương Hà Tĩnh (1885-1893)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 269, 1993. 89. Đinh Xuân Lâm, \"Triều Nguyễn trước âm m ưu bàiih trướng của tư bàn phương Tây (1802-1858)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 271, 1993. 90. Đinh Xuân Lâm, \"Bài vè Lưu Vĩnh Phúc\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 279, 1995. 91. Đinh Xuân Lâm, \"Phong trào chống xâm lược Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 281, 1995. 92. Đinh Xuân Lâm, \"Vè Đốc Thiết\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6, 1996. 448
Tài liệu tham khảo 93. Lịch sử Việt Nam, tập 2, 1858-1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004. 94. Lịch sứ Việt Nam 1858 - cuối thế kỳ XIX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1974. 95. Phan Ngọc Liên, Trương Công Huỳnh Kỳ, \"Người truyền dụ Cần Vương đến các tinh miền Nam Trung Bộ\", Tạp chí Xưa và Nay, số 65, 7-1999. 96. Trần Huy Liệu, Văn Tạo, Nguyễn Khắc Đạm, Phong trào văn thân khởi nghĩa, Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Nxb. Văn Sừ Địa, Hà Nội, 1957. 97. Trần Huy Liệu, Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, quyển 1, Nxb. Văn Sừ Địa, Hà Nội, 1957 (in lần thứ hai). 98. Đàm Xuân Linh, \"Đánh giá Lưu Vĩnh Phúc cần thấy mặt tích cực là chủ yếu\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 40, 1962. 99. Huỳnh Lứa (Chù biên), Lịch sử khai phá đồng bằng Nam Bộ từ đầu thế kỳ XVII đến năm 1945, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1989. 100. Mary Somers Heidhues, Lịch sử phát triền Đông Nam Ả, Nxb. Văn hóa Thông tin. Hà Nội, 2007 101. Ho Chí Minh: toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. 102. Hồ Chí Minh: loàn tập, lập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. 103. Đào Tử Minh, Đinh Xuân Lâm, \"Khởi nghĩa Cờ Vàng năm Giáp Tuất (1874)\", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 165, 1975. 104. Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng - nhà lãnh đạo 10 năm kháng chiến (1886-1895) ở Nghệ Tĩnh, Nxb. Tân Việt, Sài Gòn, 1957. 449
Search
Read the Text Version
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
- 36
- 37
- 38
- 39
- 40
- 41
- 42
- 43
- 44
- 45
- 46
- 47
- 48
- 49
- 50
- 51
- 52
- 53
- 54
- 55
- 56
- 57
- 58
- 59
- 60
- 61
- 62
- 63
- 64
- 65
- 66
- 67
- 68
- 69
- 70
- 71
- 72
- 73
- 74
- 75
- 76
- 77
- 78
- 79
- 80
- 81
- 82
- 83
- 84
- 85
- 86
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- 92
- 93
- 94
- 95
- 96
- 97
- 98
- 99
- 100
- 101
- 102
- 103
- 104
- 105
- 106
- 107
- 108
- 109
- 110
- 111
- 112
- 113
- 114
- 115
- 116
- 117
- 118
- 119
- 120
- 121
- 122
- 123
- 124
- 125
- 126
- 127
- 128
- 129
- 130
- 131
- 132
- 133
- 134
- 135
- 136
- 137
- 138
- 139
- 140
- 141
- 142
- 143
- 144
- 145
- 146
- 147
- 148
- 149
- 150
- 151
- 152
- 153
- 154
- 155
- 156
- 157
- 158
- 159
- 160
- 161
- 162
- 163
- 164
- 165
- 166
- 167
- 168
- 169
- 170
- 171
- 172
- 173
- 174
- 175
- 176
- 177
- 178
- 179
- 180
- 181
- 182
- 183
- 184
- 185
- 186
- 187
- 188
- 189
- 190
- 191
- 192
- 193
- 194
- 195
- 196
- 197
- 198
- 199
- 200
- 201
- 202
- 203
- 204
- 205
- 206
- 207
- 208
- 209
- 210
- 211
- 212
- 213
- 214
- 215
- 216
- 217
- 218
- 219
- 220
- 221
- 222
- 223
- 224
- 225
- 226
- 227
- 228
- 229
- 230
- 231
- 232
- 233
- 234
- 235
- 236
- 237
- 238
- 239
- 240
- 241
- 242
- 243
- 244
- 245
- 246
- 247
- 248
- 249
- 250
- 251
- 252
- 253
- 254
- 255
- 256
- 257
- 258
- 259
- 260
- 261
- 262
- 263
- 264
- 265
- 266
- 267
- 268
- 269
- 270
- 271
- 272
- 273
- 274
- 275
- 276
- 277
- 278
- 279
- 280
- 281
- 282
- 283
- 284
- 285
- 286
- 287
- 288
- 289
- 290
- 291
- 292
- 293
- 294
- 295
- 296
- 297
- 298
- 299
- 300
- 301
- 302
- 303
- 304
- 305
- 306
- 307
- 308
- 309
- 310
- 311
- 312
- 313
- 314
- 315
- 316
- 317
- 318
- 319
- 320
- 321
- 322
- 323
- 324
- 325
- 326
- 327
- 328
- 329
- 330
- 331
- 332
- 333
- 334
- 335
- 336
- 337
- 338
- 339
- 340
- 341
- 342
- 343
- 344
- 345
- 346
- 347
- 348
- 349
- 350
- 351
- 352
- 353
- 354
- 355
- 356
- 357
- 358
- 359
- 360
- 361
- 362
- 363
- 364
- 365
- 366
- 367
- 368
- 369
- 370
- 371
- 372
- 373
- 374
- 375
- 376
- 377
- 378
- 379
- 380
- 381
- 382
- 383
- 384
- 385
- 386
- 387
- 388
- 389
- 390
- 391
- 392
- 393
- 394
- 395
- 396
- 397
- 398
- 399
- 400
- 401
- 402
- 403
- 404
- 405
- 406
- 407
- 408
- 409
- 410
- 411
- 412
- 413
- 414
- 415
- 416
- 417
- 418
- 419
- 420
- 421
- 422
- 423
- 424
- 425
- 426
- 427
- 428
- 429
- 430
- 431
- 432
- 433
- 434
- 435
- 436
- 437
- 438
- 439
- 440
- 441
- 442
- 443
- 444
- 445
- 446
- 447
- 448
- 449
- 450
- 451
- 452
- 453
- 454
- 455
- 456
- 457
- 458
- 459
- 460
- 461
- 462
- 463
- 464
- 465
- 466
- 467
- 468
- 469
- 470
- 471
- 472
- 1 - 50
- 51 - 100
- 101 - 150
- 151 - 200
- 201 - 250
- 251 - 300
- 301 - 350
- 351 - 400
- 401 - 450
- 451 - 472
Pages: