Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore ĐẶC SAN ỨC TRAI ĐH 21

ĐẶC SAN ỨC TRAI ĐH 21

Published by huu 4648, 2023-08-13 13:54:51

Description: ĐẶC SAN ỨC TRAI ĐH 21 - HOÀN TẤT

Search

Read the Text Version

TRÍ - NHÂN - DŨNG - THÀNH ĐẶC SAN ÖÙC TRAI CHAOØ MÖNØ G ÑAIÏ HOÄI LANÀ THÖÙ 21 & KYÛ NIEMÄ 50 NAMÊ KHOÙA NGUYENÃ TRAIÕ 3 RA TRÖÔNØ G THAÙNG 4 - 2023

Đặc San ỨC TRAI Tiếng nói chính thức của TỔNG HỘI ÁI HỮU CỰU SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL CHUÛ TRÖÔNG: BAN CHAÁP HAØNH TOÅNG HOÄI NHIEÄM KYØ 21 * Mọi bài vở đăng trong Ức Trai là do quan điểm cá nhân của tác giả, không nhất thiết phản ảnh đường lối hay chủ trương của Tổng Hội. Bài trích đăng trong Ức Trai, xin ghi rõ xuất xứ và tác giả. * Mọi đóng góp bài vở xin gửi về: [email protected]

BAN CHẤP HÀNH TỔNG HỘI ÁI HỮU CỰU SVSQ/CTCT/ĐL/NK21 2021-2023 TỔNG HỘI PHÓ NỘI VỤ TỔNG HỘI TRƯỞNG TỔNG HỘI PHÓ NGOẠI VỤ NT3 Lý Phước Hồng NT3 Đặng Hiếu Sinh ĐẶC TRÁCH NAM CALIFORNIA NT2 Trần Gia Hiếu TỔNG HỘI PHÓ NGOẠI VỤ TRƯỞNG BAN TÀI CHÁNH TỔNG HỘI PHÓ NGOẠI VỤ ĐẶC TRÁCH VÙNG ĐÔNG BẮC THỦ QUỸ ĐẶC TRÁCH BẮC CALIFORNIA NT3 Cao Xuân Khải NT2 Lê Ngọc Khanh NT2 Huỳnh Khánh Dư BAN ĐIỀU HÀNH MAILGROUPS TỔNG HỘI TRƯỞNG BAN: NT2 Lưu Công Đàm THƯỜNG TRỰC: NT6 Phạm Ích Hải MODE TOR: Khóa 1: NT1 Nguyễn Công Chương Khóa 2: NT2 Lưu Công Đàm Khóa 3: NT3 Nguyễn Ích Hải Khóa 4: NT4 Nguyễn Tiến Đạt Khóa 5: NT5 Vũ Việt Tiến Khóa 6: NT6 Phạm Ích Hải

NỘI DUNG Thư ngỏ của BBT Đặc San Ức Trai.....................................06 Lá thư Tổng Hội Trưởng......................................................07 Dòng chảy cuộc đời - NT1 Nguyễn Thắng Nguyện..............10 Nỗi đau vong quốc (thơ) - Kim Khôi ...................................13 Vọng quốc (thơ họa) - NT2 Lê Tấn Dương..........................15 Giờ này mới kể - NT3 Nguyễn Tấn Tạo...............................17 Một ngày để tưởng nhớ (thơ) - NT2 Lê Trọng Dũng ...........21 Một thoáng nhớ về - NT1 Lê Đức Luận ...............................23 Hận tình Xuân (thơ) - NT1 Tâm Nguyễn..............................31 Đoạn trường di tản - NT2 Liễu Thiện Lộc............................32 Nói gì nữa đây em (thơ) - NT1 Dương Viết Điền ................56 Phỉ Cái Bang Tàu Khựa - New Thiết Bảng ..........................57 Độc ẩm (thơ) - NT6 Trương Hồng Sơn ................................64 Nhớ rừng (nhạc) - NT1 Dương Viết Điền ............................66 Dư âm ĐH 50 Năm K2 Mãn Khóa - NT2 Lê Trọng Dũng ..69 Quãng đường nhìn lại - Nàng dâu NT3 Ngân Bình..............74 Cắt cỏ (thơ) - NT3 Yên Đông ...............................................78 Duyên - NT2 Nguyễn Đình Từ Lam .....................................89 Covid (thơ) - NT3 Yên Đông..............................................101 Chuyện tình của NT1 Dương Phước Duy - NT1 DVĐ ......102 Rời thương yêu - NT3 Lý Phước Hồng ..............................112 Hành trình SVSQ/CTCT (thơ) - NT2 Đào Văn Luận ........123 Một chuyến thăm nuôi nhớ đời - NT1 Tâm Nguyễn ..........126 Trại Yên Bái - NT3 Nguyễn Văn Ngoan ............................135

Đừng khóc bên mộ anh (thơ dịch) - NT2 Bùi Văn Luông ..148 Triết gia Trần Đức Thảo - NT2 Nguyễn Hữu Tư................150 Con người hiếm có - NT1 Nguyễn Tư-Cao ........................172 Những mùa hoa tạ tình (thơ) - NT2 Lê Trọng Dũng ..........182 46 năm nhìn lại - Nguyễn Đình Dũng ................................190 Cuộc tình buồn - NT2 Đoàn Vinh ......................................198 Hai bài thơ - NT3 Trần Văn Trung.....................................210 Tản mạn nhân một câu chuyện - Trần Khương Bình.........212 Tháng 4, Sàigòn và Em (thơ) - NT2 Lê Tấn Dương...........232 Một ngày hạnh phúc- NT2 Nguyễn Đình Từ Lam..............234 Tây Bắc chiều thu (thơ) - NT2 Lê Tấn Dương ...................243 Những người bạn tù chân tình - NT1 Dương Viết Điền .....245 Tản mạn về tiếng Việt - Kim Khôi .....................................292 Quê hương tôi (thơ) - NT1 Trần Kim Khôi ........................318 Thập nhị tình (thơ) - NT2 Đoàn Vinh.................................322 Tình chiến hữu - NT2 Liễu Thiện Lộc................................323 Tưới nước (thơ) - NT3 Yên Đông.......................................331 Đánh Rắm - NT1 Thiết Trượng ..........................................332 Thì thầm với lá (thơ) - NT2 Bùi Văn Luông.......................344 Cuộc mở đường chớp nhoáng - NT2 Đinh Hồng Lân........345 Vượt trên ranh giới (thơ) - NT2 Huỳnh Khánh Dư ............372 Tổ quốc ơi (thơ) - NT2 Huỳnh Khánh Dư..........................375 Vẫn thắm mối tình xưa - Đặng Lương Nguyệt...................376 Người ôm nhân loại trong mình - NT1 Nguyễn Tư-Cao ....384 Tường trình sinh hoạt các Hội Địa Phương .......................399

Thư Ngỏ Của Ban Biên Tập Đặc San ỨC TRAI Kính thưa tất cả Quý Anh Chị trong gia đình Nguyễn Trãi, Hơn hai năm nay, tình hình dịch bệnh đã khiến sinh hoạt của Tổng Hội AH/CSVSQ/ĐH/CTCT/ĐL chúng ta bị hạn chế rất nhiều. Thêm vào đó, tuổi tác chúng ta ngày càng cao, sức khỏe cũng giảm sút... Để duy trì tình đoàn kết gắn bó giữa anh em, chúng ta cần phải có một phương hướng sinh hoạt mới. Đặc San ỨC TRAI, trước đây thường được in ấn và gởi đến tận tay từng hội viên trong gia đình Nguyễn Trãi. Kể từ bây giờ, tập Đặc San này chỉ còn được phổ biến dưới dạng E-Book để anh em có thể đón xem qua địa chỉ Email của Tổng Hội mà thôi. Không phải vì lý do tài chánh mà vì chúng ta không có đủ nhân lực để có thể mang gửi đến từng địa chỉ của từng người như trước đây vẫn làm. Nhân tiện, Ban Biên Tập Đặc San ỨC TRAI cũng xin nhắc lại: ỨC TRAI là môi trường để anh em chúng ta tự do bày tỏ quan điểm, lập trường chính trị, gởi bài biên khảo, bình luận... sáng tác văn, thơ, nhạc v.v... Những quan điểm của các bài viết này không phải là chủ trương của Tổng Hội AH/CSVSQ/ĐH/ CTCT/ĐL. Do đó, tác giả sẽ phải chịu trách nhiệm về những gì mình viết. Vả lại, Đặc San ỨC TRAI chỉ phổ biến trong nội bộ gia đình Nguyễn Trãi chúng ta mà thôi. Mọi sự trích đăng, sao chép hoặc diễn đọc trên Youtube cần được sự đồng ý của tác giả. Một lần nữa, Ban Biên Tập Đặc San ỨC TRAI mong được sự thông cảm của tất cả Quý Anh Chị. TM Ban Báo Chí NT2 Đinh Hồng Lân 6

Laù thö Toång Hoäi Tröôûng Tổng Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL THT NHIỆM KỲ 21 NT3 Đặng Hiếu Sinh Kính thưa Quý Niên Trưởng, Cùng Quý Đồng Môn các Khóa, Trước hết, thay mặt anh em Ban Chấp Hành Tổng Hội Ái Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan - Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt - Nhiệm Kỳ 21, tôi xin gửi lời chúc sức khỏe, an vui đến Quý Niên Trưởng, Quý Đồng Môn các Khóa và gia đình. Theo bản Tu Chính Nội Quy về việc chia 4 vùng, thành lập Ban Chấp Hành Tổng Hội luân phiên, do BCH/TH/NK19 thực hiện từ tháng 5 năm 2018, qua kết quả cuộc bắt thăm thứ tự tại Đại Hội 29 Houston, tháng 9 năm 2018, Vùng Miền Trung nước Mỹ sẽ phụ trách BCH/TH/NK21 (2021-2023), Tôi đã nhận trách nhiệm điều hành Tổng Hội Nhiệm Kỳ 21, bắt đầu khoảng tháng 6 năm 2021 với tâm trạng bỡ ngỡ, vì vừa qua hai năm đại dịch, mọi sinh hoạt đều co cụm lại. Hình 7

như, ai cũng ngại ngùng khi được mời tham gia BCH/TH. Nhưng cuối cùng, nhờ lòng nhiệt thành với tình đồng môn, các Niên Trưởng và anh em đã đồng ý đảm nhận những nhiệm vụ trong BCH/TH. Tôi rất cảm kích tấm lòng của Quý Niên Trưởng và anh em đã cùng nhau chung giữ căn nhà Tổng Hội trong Nhiệm Kỳ 21 vừa qua. Trong gần hai năm, BCH/TH/NK21 cũng không làm được điều gì lớn lao ngoài tinh thần gìn giữ điều tâm niệm ban đầu khi thành lập Tổng Hội là “Chúng ta mất hết, chỉ còn có nhau”. Trong thời điểm nầy, lại càng cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết, anh em chúng ta đã hết một thời ngang dọc, cùng già yếu dần và đang đứng trong hàng “quân” những người lính già để lần lượt từ giã bạn bè. Trong Nhiệm Kỳ 21, sinh hoạt bận rộn nhất chỉ là những thư phân ưu, những vòng hoa tang lễ được gửi đi. Buồn! Nhắc điều nầy tôi không có ý làm anh em xao xuyến, bi quan nhưng để nhớ rằng chúng ta còn sống, còn khỏe mạnh là một điều đáng mừng. Vì thế, hơn bao giờ hết càng nên trân quý tình gia đình, bằng hữu mà mái trường Đại Học CTCT đã kết nối anh em từ những bước quân hành thời trai trẻ. Trong Nhiệm Kỳ 21, tôi đã mời thêm 3 vị Tổng Hội Phó Ngoại Vụ đặc trách vùng, với mục đích để BCH/TH gần gũi mọi sinh hoạt tại các vùng phân chia, đồng thời các vị Tổng Hội Phó này cũng chia sẻ trách nhiệm thành lập BCH/TH khi đến phiên hoặc trong các trường hợp đột biến mà vùng khác không sẵn sàng tiếp nhận, như kinh nghiệm Nhiệm Kỳ 20 vùng Nam California phải đảm nhiệm liên tục hai nhiệm kỳ. Kết quả việc mở rộng nầy, BCH/TH/NK21 cũng có Tổng Hội Phó tham dự một số sinh hoạt tại các địa phương. Đặc biệt nhất là tổ chức bầu cử Tổng Hội Trưởng Nhiệm Kỳ 22, như Hội Bắc California và Tổng Hội Phó Ngoại Vụ Huỳnh 8

Khánh Dư đã thực hiện và tổ chức Đại Hội Tổng Hội, sẵn sàng nhận bàn giao trách nhiệm BCH/TH/NK22 vào ngày 23 tháng 4 năm 2023. Tôi cũng xin tri ân các vị Tổng Hội Phó đặc trách Miền Nam California, Miền Bắc California, Miền Đông nước Mỹ và Canada, các anh em đã nhận lời mời tham gia vào BCH/ TH và cộng tác chặt chẽ trong mọi sinh hoạt của Nhiệm Kỳ 21. Kính thưa Quý Niên Trưởng, Quý Anh Em các Khóa, Có một điều đáng tự hào là Tổng Hội Ái Hữu/Cựu SVSQ/ Đại Học CTCT vẫn tồn tại sinh hoạt trong tinh thần tương thân tương trợ đúng theo tôn chỉ mà những anh em thành lập đã đề ra. Dù đôi khi không tránh khỏi những bất hòa nhưng chúng ta không chia năm xẻ bảy như nhiều hội đoàn khác. Dù có một đa số tưởng chừng lạnh lùng, thầm lặng nhưng đến khi cần tương trợ cho anh em mới thấy được tấm lòng nồng nhiệt của mọi người. Tôi tin rằng, trong tinh thần anh em một nhà, chúng ta sẽ cùng nhau liên kết tình thân và hợp tác với BCH/TH/NK 22 trong cuộc hành trình sắp tới. Khi Quý Niên Trưởng và anh em đọc được tâm thư này thì Nhiệm Kỳ BCH/TH/NK21 đã chấm dứt. Thay mặt tất cả Niên Trưởng và Anh Em trong BCH/TH/ NK21, tôi xin gửi lời cám ơn tất cả các Hội Địa Phương và anh em khắp nơi đã hợp tác trong mọi sinh hoạt Tổng Hội Nhiệm Kỳ 21. Hy vọng và cầu mong BCH/TH/NK22 sẽ đạt được nhiều thành công trong nhiệm vụ điều hành Tổng Hội. Kính chúc tất cả Quý Niên Trưởng, Quý anh em các Khóa và gia đình luôn bình an trong tình yêu thương. NT3 Đặng Hiếu Sinh 9

DÒNG CHẢY CUỘC ĐỜI (Tâm sự Tuổi Già) Dòng chảy cuộc đời đã đến giai đoạn cuối, nhƣ dòng sông có tên, khi chảy ra biển thì mất tên. Dòng chảy cuối đời, hồi tƣởng lại quá khứ, những giai đoạn buồn vui của thời thơ ấu, tuổi cắp sách đến trƣờng và khi trƣởng thành, những ngày vui buồn trong hạnh phúc gia đình... Tuổi già đối diện với sự mất mát chia tay. Bạn bè lần lƣợt bỏ ra đi, thoáng chốc chẳng còn mấy ai! Đau buốn hơn cả là lời nói tạm biệt ngƣời bạn đời đã sống bên nhau hơn nửa thế kỷ. Tạm biệt rồi vĩnh biệt! Sống đến cuối cuộc đời, ta phải sống đẹp, buông bỏ những muộn phiền, tha thứ những kẻ làm mất lòng ta. “Đời ngƣời ngắn ngủi vô thƣờng Thƣơng nhau chƣa hết giận hờn làm chi” Một ngày ta còn sống là một hồng ân. Ƣớc mơ sau cùng là hạnh phúc đƣợc về an nghỉ trong tay Chúa. Mùa Lễ Tạ Ơn 2022. NGUYỄN THẮNG NGUYỆN 10

11

12

Ba mươi năm lẻ thân lưu lạc, Góc bể chân trời sao dám say! Nhớ mùa xuân ấy lòng quặn thắt Vọng về quê cũ tháng năm chầy! Nuốt nỗi tủi hờn cay hơn rượu Tím ruột bầm gan, hề! Tỉnh say!? Lời thề bảo quốc đâu văng vẳng Dẫu chẳng chiến bào, há đổi thay?! Ai chẳng long đong vì cơm áo? Mà cam tâm khước nợ nước mây! Hay đã sớm quên lời thề trước? Để ta ngụp lặn nỗi đau nầy!!!... Nung nấu quốc thù: Rằng phải trả Từ ngày bức tử mãi đến nay Sông núi tủi hờn còn trơ đó Mà ta cứ để tháng ngày bay! Nỗi niềm: Muối xát đau hôm sớm! Há phải lững lờ tựa gió mây?! Ai người từng xót đau vận nước? Đã sẵn sàng chưa, trải chông gai! Hãy chóng tiếp tay người trong nước Đang bừng khí thế vút cao nầy! Sát cánh thành toàn lời nguyện ước Rợp bóng Cờ Vàng phất phới bay! 13

Chén rượu mừng công gác lại đây Sẽ chẳng bao lâu, chỉ nay mai Giải phóng quê hương, ngày vui ấy Dưới bóng Cờ Vàng sẽ cùng say! Nam nhi há lụy vì son phấn! Hà tất quan tâm đến ngọc châu Khi nợ núi sông còn mang nặng Tuổi già vội đến ngẫm càng đau! Dùng bút thế gươm thề giết giặc Ý chí thay chân đạp bất bằng Giết hổ ngại gì vào hang cọp! Xả thân tận diệt lũ hung tàn. Phong vân rồi sẽ thêm tươi thắm Nhật nguyệt từ đây mãi sáng ngời (1) Trẻ, già, trai, gái đồng thề ước Chung tay xây dựng một ngày mai! Trên đường viếng San Jose ngày 31 tháng 5 năm 2016 Hiệu đính tháng 11/2022 KIM KHÔI (1) Để mô tả sự khốc liệt của trận huyết chiến tiêu diệt trọn đoàn quân xâm lược do Liễu Thăng chỉ huy tại Chi Lăng vào tháng 9 năm Quý Mùi (1427), Đức Thánh Tổ Nguyễn Trãi từng hạ bút ghi trong Bình Ngô Đại Cáo hai câu: “Phong vân vị chi biến sắc Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang!”. Nay xin mượn lại hình ảnh nầy để mô tả sự đồng cảm của đất trời hòa cùng nỗi hân hoan cực độ của toàn dân trong ngày giải phóng Quê Hương Việt Nam thoát ách cai trị bạo tàn của Cộng Sản! 14

NT2 Lê Tấn Dương (Bài họa) Từ năm thua trận, đời lưu lạc Cứ đến tháng Tư lại muốn say Vì đến tháng Tư lòng quặn thắt Nhớ về đất Mẹ tháng năm chầy. Cứ tưởng muộn phiền tan theo rượu Cạn mấy hồ trường vẫn chẳng say Tiếng nói nhục vinh còn văng vẳng Lời thề sông núi dám đổi thay? Hơn nửa đời trai sờn vai áo Lòng nào mơ tưởng chuyện trời mây. Nếu biết phận người từ kiếp trước Thì đâu phải lụy nỗi đau nầy. Ơn nước bao năm chưa đền trả Ôm lòng tủi hận tới hôm nay Lửa cháy tháng Tư mùa xuân đó Đau buồn uất nghẹn cánh chim bay. Tháng Tư, ngày cuối, tan hàng sớm? Cứ ngỡ chuyện đùa gió với mây Thôi cũng đành cam theo mệnh nước Mười năm đâu xá chuyện nằm gai 15

Ai chẳng ước mơ ngày về nước. Dựng cờ thiêng trên mảnh đất nầy Làm sao quên được lời thề ước Dưới Quốc kỳ ngạo nghễ tung bay. Ta đã nửa đời chờ đợi đây Hẹn với quê nhà một ngày mai Vó ngựa rền vang về nơi ấy Đêm hội tương phùng, cạn chén say. Hỡi em thiếu nữ môi hồng phấn Đã khóc thương đời ngàn lệ châu Ta biết em tình sâu nghĩa nặng Sống âm thầm chia mối tình đau. Ta vẫn mơ ngày tan bóng giặc Trái tự do trải kín đất bằng Hoa nhân quyền xua đi lũ cọp Cho Việt Nam hết bọn tham tàn Quê nhà, mai sẽ tươi màu thắm Muôn thuở giang sơn vẫn rạng ngời Trong tim giữ vững lời nguyện ước Niềm tin rực sáng ánh ban mai. Seattle - tháng 5, 2022 16

Duyên lành hay định mệnh đây? Hồi tưởng lại, vào Giáng Sinh năm 1971, bấy giờ Khóa 3 đã vào trường được hơn một năm, trường có tổ chức một buổi lễ Sinh nhật tập thể. Trùng hợp, tôi được chọn làm ông Thọ. Trong số các ông Thọ, tính cả SVSQ và SQ Khóa Sinh về trường học Căn bản và Trung cấp CTCT, gồm khoảng 10 người. Trong số SVSQ, “Đạt già” Nguyễn Tất Đạt lão nhất, còn tôi nhỏ tuổi nhất làm Thọ út. Việc tìm các bà Thọ , mấy ông mấy ông Thọ “có phần không cần phải lo”, nhờ có NT2 Thiếu úy Trần Ngọc Hoàn làm ở Khối CTCT của trường phải bận rộn, ngược xuôi bên Viện Đại Học Đà Lạt lo tìm Quý Nương để giao duyên nhờ đóng vai bà Thọ. Ngày giờ đến, tôi ung dung bước vào Đại giảng đường và thật ngạc nhiên khi thấy chiếc ghế bên cạnh đã có một “bà Thọ-trẻ” đang ngồi. Thế là chúng tôi thành cặp đôi yêu nhau từ đó. Duyên lành! Nàng từ thị trấn Ninh Hòa lên Đà Lạt học năm đầu Khoa CTKD, và Sư Phạm, đang mướn phòng tại Tu Viện Mân Côi, tọa lạc ngay trước cổng trường. Thiệt là vừa tiện vừa lợi vì phương tiện di chuyển thời SVSQ là “xe lô ca chân”. Tu viện Mân Côi cách Trường Mẹ chỉ mỗi con đường nhỏ Thông Thiên Học dành cho xe gắn máy và người đi bộ, chạy từ cổng 17

trường xuống hết dốc xóm nhà là đến rạp chiếu bóng Phan Đình Phùng trên cùng tên đường, điểm đến của nhiều SVSQ vào cuối tuần. Tôi không phải thành viên Ban Hợp Xướng của Liên Đoàn SVSQ nên không có phép thưởng đi phố vào cuối tuần, mà tuần đó đơn vị phải ứng chiến tại trường. Do may mắn, tôi được đắc cử làm SVSQ cán bộ ĐĐT nên được đi phố. Thế là hàng tuần từ quán hủ tiếu Nam Vang, những gốc thông già nơi đồi Cù, quán cơm bình dân nhà chị Duyên, rạp chiếu phim Ngọc Lan... là những nơi quen thuộc có thêm bước chân của cặp đôi trẻ vui vẻ hạnh phúc bên nhau. Kết quả cuối năm học đó, Em không “lượm” được chứng chỉ nào, nên Mẹ gọi nàng về quê phụ giúp trông coi cửa tiệm tại nhà không cho học nữa. Nàng là con út trong gia đình gồm ba anh chị em. Chúng tôi tạm xa vắng nhau! Bắt đầu nhớ thương từ đó, cũng là lúc bắt đầu làm phiền đến ông Bưu Điện. Thỉnh thoảng nàng dối Mẹ lên thăm tôi, xa mặt mà không cách lòng. Thời gian trôi qua... Đến mùa Văn hóa năm thứ 2, ngoài những bài học mới chúng tôi cần đi thư viện tìm thêm tài liệu để viết tiểu luận tốt ngiệp, nếu như mỗi tuần đều đi chơi với em như năm trước thì không biết kết quả cuối khóa của tôi ra sao, biết đâu trong cái rủi có chứa cái may là đây. Khoảng tháng 3/1973, tôi trở về trường sau chuyến công tác ở Quảng Ngãi, nàng lên Đà Lạt thăm tôi. Bấy giờ K3 hàng ngày chủ yếu lo tập dượt cho lễ mãn khóa, không còn học hành gì nữa. Đúng ra theo dự trù thì Khóa 3 đã tốt nghiệp vào tháng 2/73. Với tâm trạng ra trường trễ, mọi công việc tại trường đã có khóa đàn em đảm nhận, Khóa 3 rảnh lắm. Thêm nữa, mới đi công tác bên ngoài về vấn đề kỷ luật của chúng tôi, sĩ quan cán bộ lúc đó có phần dể dãi, hời hợt. Đêm đó, tôi leo rào ra chơi với nàng và sáng hôm sau theo xe của Phạn xá đi chợ Đà Lạt về lại trường. Bất ngờ, khoảng một tuần trước ngày Lễ Mãn 18

Khóa, nàng “tống đạt tình thư” táo bạo cho tôi. Nàng đòi lên Đà Lạt tham dự lễ mãn khóa rồi cùng theo tôi ra đơn vị. Trời đất! Tình huống bất ngờ, gấp gáp như vầy tôi phải tính làm sao cho chu toàn đây. Sau nhiều đắn đo suy nghĩ tôi đành “hoãn binh”. Có vài lý do chủ quan đưa tôi đến quyết định này: (Cũng cần nói thêm ở đây, mối tình của chúng tôi hãy còn trong trắng lắm, duy chỉ là thương yêu, là nhớ nhung thôi). 1/ Gia đình nàng giàu có, mẹ nàng kinh doanh kim hoàn tại chợ Ninh Hòa và có liên hệ gia đình thân thiết họ hàng với gia đình Đại tá Huỳnh Hữu Ban, tùng sự tại Phòng 5, Bộ TTM, dạy môn Quốc Tế Công Pháp tại trường. 2/ Gia đình tôi chỉ trên vô sản một bậc, tự ái của con trai có ảnh hưởng ở đây. 3/ Mới ra trường chưa biết đi đâu, cuộc sống mới nơi đơn vị ra sao, làm sao tôi dám liều lĩnh đưa nàng đi theo được. Sống chết tôi không sợ nhưng lo cho cuộc sống khó khăn, cực khổ của nàng. 4/ Lương Thiếu úy với tiền lính, “tính liền” ấy, làm sao đủ được. Quả thật đây là quyết định đầy khó khăn, lắm đau đớn, sau cùng là “Tôi đành phụ tình nàng”, biết rằng khi chia tay cả hai đứa cùng đau khổ như nhau, để rồi từ ngày đó đến nay tôi không có cơ hội gặp lại nàng, không biết tin tức gì về nàng và gia đình cả. Tôi chỉ biết gia đình nàng không còn sinh sống ở Ninh Hòa sau ngày đại họa của đất nước. Sau này nghe nói gia đinh nàng định cư ở Pháp? Viết lại chuyện tình buồn này như một lời tạ lỗi muộn màng với nàng. “Anh xin lỗi, đã phụ tình Em”. “I love you but I am sorry. Please forgive me, Honey”. Định mệnh! Đến ngày chọn đơn vị mới biết rằng khóa NT3 không phân phối đến các Quân Binh Chủng mà tất cả đều được đưa về các TĐ/CTCT, Đặc Khu, Tiểu Khu... nhưng tôi đã quyết định nên cố giữ dù đau lòng. Ở đây có một chút trớ trêu là “Chuột nhắt” LSPS quê ở Sadec, miền tây nam bộ mà phải vác ba-lô ra tận 19

Tiểu Khu Khánh Hòa, rồi được đưa về Chi Khu Ninh Hòa, vì tôi đã giành chiếc “vé” đi Sadec của hắn, nên hắn ức tôi lắm. Làm gì được nhau nào, bởi vì hắn và tôi là “Tom and Jerry”. Định mệnh đưa hắn gặp lại tôi ở các trại tù Hóc Môn, Long Giao, Yên Bái, rồi lên trại tù Phong Quang tỉnh Hoàng Liên Sơn. Mãi đến khi chạy giặc Tàu đầu năm 1979 hắn mới chịu “tha” cho tôi, mỗi thằng về một trại tù khác nhau. Bây giờ hắn ở tận Pennsylvania còn tôi chọn Nam California làm nơi dung thân tuổi già, chưa hề gặp mặt nhau. Kỳ Hội Ngộ 50 năm này đây, hắn chỉ ủng hộ tiền thôi chớ cũng không chịu “rời hang”. Định mệnh trớ trêu thật, một người tình, một người bạn đã để lại nhiều kỷ niệm gắn bó khó quên trong tôi. Thế mà gần cuối đời sau nhiều năm xa nhau vẫn chưa có cơ hội gặp lại, nhất là người tình xưa biết đâu mà tìm, dù chỉ là để biết tin tức nhau thôi!!! Thành Chánh Tâm (NT3 Tạo Nguyễn) 20

Nhân ngày Memorial 2010, DC cho những bạn bè của tôi, đã nằm xuống. Tôi đã đứng trước bức tường đá đen Ở Washington DC, trong ngày tưởng nhớ. Để được nghe từng hơi thở khi đọc những dòng tên, Đây Robert, đây John, đây Jack Dù vô cùng xa lạ, nhưng cũng rất thân quen. Có trong tôi, một chút gì cay đắng. Tôi đã đưa tay chào kính, Khi bước vào cổng nghĩa trang Arlington Nơi có những người lính đang nhạt nhòa theo thời gian 21

Ở một nghĩa trang cách đây nửa vòng trái đất Cũng có những người lính đang phai mờ dần. vì họ đã không bao giờ chết, mà chỉ đang ngủ yên trên quê hương. Ở Arlington, ở Biên Hòa hay trên bức tường đá, Những người lính đó sẽ muôn đời bình an. thế giới sẽ muôn đời tưởng nhớ, và thời gian sẽ không làm chìm vào lãng quên. Nước mắt chảy nhiều rồi cũng cạn khô, Đau thương nhiều rồi cũng vơi đi sầu muộn. Đất nước này chỉ cần những bông hoa và nỗi nhớ, Cho một đài tưởng niệm đến nghìn thu. Còn chỗ nào cho bức tượng Tiếc Thương? Dù giờ đây chỉ còn là cát bụi nhạt nhòa và những viên đá nhỏ NT2 Lê Trọng Dũng 22

MOÄT THOAÙNG NHÔÙ VEÀ Khi nhận được Email kêu gọi viết bài Mừng Đại Hội 21 của Tổng Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL và Kỷ niệm 50 năm Khóa NT3 ra trường, tôi thấy rộn rã niềm vui, nhưng cũng xao xuyến với những nỗi buồn. Ký ức lại hiện về... Bỏ qua cái thời “cơm cha, áo mẹ, chữ thầy”, chỉ kể từ ngày tôi “khoác chiến binh” - ngày 20 tháng 12 năm 1966 - đến nay đã 57 năm. Năm mươi bảy năm, với một đời người không phải là dài, nhưng nói đã trải qua trên nửa thế kỷ đau thương thì cảm thấy “thăm thẳm chiều trôi”... Chữ “thăm thẳm chiều trôi”, tôi mượn lời trong bài ca “Tạ Từ Trong Đêm” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Những năm lội suối, băng rừng trong khu “32 Chiến thuật” - từ Bến Cát đến Bình Long, từ Phước Long qua Dầu Tiếng... khi dừng quân vào buổi chiều tà, mắc võng trong những cánh rừng miền Đông Nam Bộ, mở radio nho nhỏ nghe Phương Dung ca: “Thăm thẳm chiều trôi, khuya anh đi rồi sao trời đưa lối…và rồi… Nếu anh có về khi tàn chinh chiến, xin em cúi mặt dấu lệ mừng nghe em…” lòng tôi mang mác nỗi buồn với “thăm thẳm chiều trôi...”. Đến một ngày - khi tàn chinh chiến - em chưa kịp dấu lệ mừng thì tôi lại phải xa em và bị đưa đến những nơi rừng sâu, núi thẳm trên vùng cao và trung du Việt Bắc. Những buổi chiều buồn, ngồi gặm “nhân sâm” (khoai mì), đợi hoàng hôn xuống để vào “chuồng” (nhà giam), tôi lại thấy chiều trôi thăm thẳm... Những lúc như thế, tôi nghĩ về vụ án oan khuất “Lệ Chi Viên” của Thánh Tổ Nguyễn Trãi. Một vài anh bạn cùng khóa, cùng trường, cũng đang ngồi nhấm nháp “nhân sâm” than rằng: “Trường mình chọn Ông Thánh Tổ bị tru di tam tộc, như một cái “huông” - dân Bắc Kỳ gọi là cái “dớp”, nên đến Khóa NT6 là “đứt chớn” và cả đám tụi mình phải vào vòng lao lý. 23

Một anh bạn khác lại bảo: “Hiền tài thường hay gặp nạn. Thánh tổ Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, nhưng 22 năm sau được vua Lê Thánh Tông giải oan. Biết đâu lịch sử sẽ có hồi lặp lại - những người lính Việt Nam Cộng Hòa rồi sẽ được lịch sử vinh danh và những hậu duệ của Ngài sẽ làm rạng danh Thánh Tổ. Ừ! Thì cứ đợi: “thử xem con tạo xoay vần đến đâu?”*. Ngày xưa, 22 năm sau, Nguyễn Trãi mới được giải oan. Ngày nay, chưa đến 22 năm, những người đã chọn Nguyễn Trãi làm Thánh Tổ - coi như hậu duệ của Ngài, tưởng chừng như đã bị “tru di” sau ngày 30 tháng 4 năm1975, nhưng “Trời còn để có hôm nay / Sương tan đầu ngõ vén mây chân trời”*. Năm 1983, Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/CTCT/ĐL được hồi sinh ở hải ngoại đã làm sống lại một thế hệ tưởng chừng như đã bị chôn vùi bởi sự oan nghiệt của chiến tranh và lịch sử. Nói là hồi sinh vì trước 1975, NT1 Đỗ Văn Phúc và NT2 Nguyễn Thế Thăng đã xúc tiến việc nộp hồ sơ xin thành lập Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/CTCT/ĐL với sự tiếp tay của NT2 Trịnh Tùng và NT1 Đỗ Minh Hưng (A). Kết quả đã được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép thành lập Hội vào cuối năm 1973. Lúc đó Hội Trưởng (trên giấy tờ) là NT1 Đỗ Minh Hưng A (đã giải ngũ), NT1 Vũ Văn Túy là Hội Trưởng điều hành. Rồi biến cố năm 1975 ập đến. Thế là “rã đám tan hàng” từ đây! Nhưng những hậu duệ Nguyễn Trãi còn sống sót thoát ra nước ngoài khi Sàigòn sụp đổ đã kêu gọi anh em xuất thân từ trường ĐH/CTCT/ĐL nối kết lại. Khởi đầu là những anh em ở California như NT1 Nguyễn Đức Luận, NT1 Nguyễn Ngọc Dậu, NT1 Nguyễn Hồng Vân, NT1 Đỗ Hữu Danh, NT4 Trần Thanh Sơn, NT5 Nguyễn Chí Tường v.v… ngồi lại với nhau, soạn thảo Nội Quy và đường hướng sinh hoạt của Hội. Sau đó, một Đại Hội được tổ chức năm 1983 ở CA - quy tụ khoảng hai mươi anh em NguyễnTrãi (NT) các khóa (theo lời kể của anh NT1 Nguyễn Đức Luận). 24

“Vạn sự khởi đầu nan” nhưng với lòng nhiệt thành hướng về tương lai và giữ gìn truyền thống vinh danh trường Mẹ, những người con xuất thân từ Đồi 4648, luôn giữ cái tình huynh đệ - tương thân tương ái với lời tâm tình tha thiết: “Chúng ta mất hết, chỉ còn có nhau” đã đưa anh em NT các khóa trên khắp Năm Châu quy về một mối. Kể từ Đại Hội đầu tiên năm 1983 ở hải ngoại, đến nay năm 2023, chúng ta tổ chức Đại Hội lần thứ 21. Bốn mươi năm, 21 lần Đại Hội. Đó là chưa kể các lần tổ chức lễ kỷ niệm ngày ra trường của các khóa, và các lần hội họp của các Hội địa phương. Như vậy chứng tỏ anh em Nguyễn Trãi chúng ta đã gắn bó với nhau rất mật thiết. Nhìn lại và so sánh những Bản Tin ngày xưa - viết tay, mỏng te, chừng vài mươi trang với các Đặc San dày cộm, đến mấy trăm trang như ngày nay, ta mới thấy sự nỗ lực không ngừng của những tấm lòng thiết tha với Hội. Còn cái tình đồng môn thì vô hạn - mỗi khi có một bạn đồng khóa hay cùng trường gặp khó khăn, hoạn nạn thì tất cả đều sẵn lòng giúp đỡ bằng mọi cách... Hễ hô lên là có bạn bè đáp ứng. 25

Nhớ lần đầu tiên tôi đến California, họp mặt với anh em Khóa NT1, đã lưu trong ký ức một kỷ niệm trân quý ít có trong đời. Lúc đó, vào khoảng năm 1988 (không nhớ chính xác ngày tháng), tôi mới định cư ở tiểu bang Maryland chưa đầy một năm, thì nhận được tin nhắn của NT1 Nguyễn Đức Luận, bảo về Cali họp mặt với anh em Khóa 1. Lúc bấy giờ tôi đang làm “thợ đụng”- là đụng việc gì làm việc đó (tiếng hay dùng của những tên lỡ thầy, lỡ thợ mới đến định cư nơi xứ người, chưa có công ăn việc làm ổn định) tiền bạc kiếm được đâu có bao nhiêu mà mua vé máy bay về Cali hội họp là cả vấn đề phải suy nghĩ, tính toán. Nhưng cái tâm, cái tình cứ thôi thúc… Gom góp đủ tiền mua vé máy bay đã “đứt đuôi”, chỉ còn vài chục lận lưng, thế mà tôi thực hiện được chuyến đi “họp mặt”. Quả là liều! Cái liều của tôi, nó có căn cơ là hơn sáu năm sống trong rừng với bọn “vượn thành người” và mấy năm sống cơ cực với bọn “khỉ đít đỏ” làm tôi quen “kiểu sống mới”: Đi đâu vài ngày là đem theo cơm nắm, muối vừng; lâu hơn thì mang theo “ruột tượng” gạo… Chuyện ăn nhà hàng, ngủ khách sạn như trước năm 1975 chỉ là bóng mờ dĩ vãng, tôi cứ “tự nhiên như người Hà Nội”, hăng hái lên đường đi phó hội. 26

Trước hôm lên đường tôi hỏi đùa ông Luận: - Có cần tôi mang theo “ruột tượng” gạo không? Anh ta cười bảo rằng: - Chỉ cần mang cái „long thể‟ về đây là được, mọi việc khác khỏi phải lo. Vào thời điểm này, “HO”chưa qua, nên ngoài anh em ở Cali, một số rất ít ở các tiểu bang xa bay về - gom lại chừng trên vài mươi. Anh em nào ở xa về được gia đình Nguyễn Đức Luận bao ăn, bao ở. Tôi được hưởng cái ân huệ ưu tiên đó. Hôm tôi đến đã có Thầy Lâm Ngươn Tánh và Phu nhân cùng một số anh em NT1 đến trước cùng xum họp trong căn nhà to đùng của Nguyễn Đức Luận. Đãi khách phương xa, tôi được xếp ngủ cùng một phòng với NT1 Dương Viết Điền và vài bạn khác (nếu tôi nhớ không nhầm). Còn Thầy Lâm Ngươn Tánh và Phu nhân dĩ nhiên là ở một phòng đặc biệt (master bedroom). Nhưng Thầy trò cùng chung dưới một mái ấm gia đình - sáng chiều hàn huyên tâm sự - ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu, rưng rưng nhìn nhau như muốn chia sẻ nỗi niềm cay đắng trên bước đường tỵ nạn và như có sợi dây vô hình nối kết tâm tình, coi nhau như những đứa con cùng chung một Mẹ. Và từ đấy đến nay cái truyền thống đó vẫn được duy trì - cứ nghe một tên xuất thân từ trường ĐH/CTCT/ĐL, dù chưa một lần gặp mặt mà đến nơi nào có anh em CTCT cư ngụ, ới lên một tiếng là tất cả sẽ tìm đến với nhau “chén chú, chén anh…” và hết lòng giúp đỡ khi có nhu cầu. Từ năm 1990, qua chương trình HO, anh em NT các khóa lần lượt đến Hoa Kỳ, rải rác trên các tiểu bang ngày một đông. Thế là những Đại Hội sau này đông vui hơn, nhưng nhu cầu ăn ở của anh em ở xa về Cali tham dự ĐH phải được giải quyết sao cho thuận tiện - ban tổ chức cho ở khách sạn. Lúc này, tôi hết làm “thợ đụng” tiến lên làm “cụ lý” - là công việc lao động chân tay, dân ta gọi là cu-ly - tôi nói trại “cụ lý” nghe cho sang, và tiền bạc cũng được thong thả hơn - việc ở khách sạn, ăn 27

nhà hàng không còn là vấn đề phải bận tâm… Nhưng trong lòng vẫn nhớ về cái mái ấm gia đình năm nào ở nhà Nguyễn Đức Luận, nên mỗi lần đi dự ĐH, tôi vẫn thích tá túc ở nhà bạn: lúc thì nhà NT1 Phạm Đức Khôi, lúc ở nhà NT1 Lê Văn Soại, lúc sang nhà NT1 Nguyễn Mạnh Vỹ… Cái không khí gia đình làm tôi cảm thấy vui hơn nằm trong khách sạn. Chỉ những năm sau này - tuổi già hom hem, đêm về ho hen, lại rị mọ đi xả bầu ba, bốn lần làm gia chủ mất ngủ khiến tôi ngại ngùng mới tính chuyện ra ở khách sạn. Nhưng lòng vẫn vấn vương những buổi sáng, ngồi sau vườn nhà, cây trái xum xuê, gia chủ pha cà phê, mời vài ba anh em cùng khóa đến nhâm nhi, nhắc chuyện ngày xưa cho đến lúc nắng lên… Nắng ấm Cali sưởi ấm không gian… sưởi ấm cả lòng người làm cho tuổi già bay bổng. Sự họp mặt nó quyến rũ như thế đó, nên hai năm gặp nhau một lần chưa thấy thỏa… các cụ Khóa NT1 mới tìm ra cái cớ như: Kỷ niệm 25 năm ngày nhập ngũ, Kỷ niệm 50 năm Khóa 1 ra trường… để có dịp gặp nhau. Tôi nhớ hôm đến dự tiệc “Kỷ niệm 25 năm ngày nhập ngũ”, nhà hàng đưa lên những món ăn hấp dẫn, nhưng mấy ông già răng cỏ sếu sáo, ăn uống chậm chạp… Thấy vậy, NT1 La Xuân Huệ, một người được anh em cùng khóa đặt cho cái biệt danh (nickname) “Se Sẻ” vì anh ta nhỏ con, lanh lẹ và trẻ tuổi trong đám bạn già, phát biểu: - Lần sau họp mặt, chúng ta đặt nhà hàng một nồi cháo trắng với mấy đĩa muối hầm là xong chuyện - vừa tiện vừa lợi. Cả bàn đều cười móm mém… Ấy vậy, mà mấy năm sau về tham dự Đại Hội “50 Năm Khóa NT1 ra trường” tôi thấy mấy ông già NT1 vẫn còn “gân”. Tôi xuống Cali, đến nhà thăm vài bạn già, thấy mà thương! Ở nhà bị các “lão bà” và con cháu ngăn cấm đủ điều: “Không được hút thuốc, uống rượu, kiêng khem đủ thứ; ăn nói phải giữ lời chớ để sui gia, dâu, rể chê cười”. Nên thấy bạn ta lù đù… 28

Nhưng hôm gặp nhau ở nhà hàng thì như “lân gặp pháo” - nổ tưng bừng! Cái hào phóng ngày nào trở về nguyênvẹn: ăn tục nói phét - mày mày… tao tao… tôm hùm, thịt nguội, thịt quay được chiếu cố tận tình; bia chai, bia lon cứ cụng, rượu mạnh cứ khui… bật lửa lập lòe, nhả khói mù trời như xe lửa sắp vào ga trước cửa nhà hàng… Các “lão bà” bấm đùi nhắc nhở, nhưng các “lão ông” cứ tỉnh bơ - cho các “lão bà” đi chỗ khác chơi để chúng ta làm việc… Cái “hội hè đàn đúm” của các “cụ ông” không được tích sự gì. Vậy mà lâu ngày không “đàn đúm” lại thấy nhớ... thấy buồn… Mấy hôm nay, vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn lạnh khiếp - có hôm xuống đến 50 độ F (320 F bằng 00 C) ngồi trong nhà nhìn tuyết rơi - buồn nẫu ruột, tôi lại nhớ và thèm cái nắng ấm Cali… Bỗng một ông bạn già ở xa gọi đến hỏi thăm sức khỏe và chúc mừng Năm Mới. Sau ba điều, bốn chuyện ông bạn kể cho nghe một chuyện lạ đời: “Cách đây mấy đêm ổng nằm mơ thấy một ông Thần, mũ áo cân đai, oai phong lẫm liệt, xưng là thần Bắc Đẩu đến báo tin rằng: Từ nay ta xếp „hồ sơ‟ những tên sống trên 80 tuổi sang một bên. Đứa nào qua tuổi 80 mà còn muốn sống - cứ sống! Khi nào chán cõi trần gian, thì phải nạp đơn xin„xuất cảnh‟ ta mới cứu xét cho về miền cực lạc”. Nghe ông bạn nói thế, tôi hỏi: - Vậy ông có biết Bắc Đẩu là ai không? Hồi nào đến giờ, mỗi khi nghe một người nói chuyện lung tung, mơ hồ, khó hiểu, người ta bảo: Ông này nói toàn những chuyện“Nam Tào, Bắc Đẩu”, tôi cũng nói theo, chứ thực tình không hiểu hết căn nguyên. - Nam Tào, Bắc Đẩu là hai quan cận thần của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Nam Tào, ngồi bên trái, có nhiệm vụ ghi chép sổ sinh và xếp đặt số phận của mỗi con người ở trần gian - sang hèn, giàu nghèo do ông ta định đoạt. Bắc Đẩu, ngồi bên phải, ghi chép sổ tử - tuổi thọ của con người do ông định. Cho nên 29

mới có câu: “Nam Tào chủ sanh, Bắc Đẩu chủ tử”. Hai ông Thần này lại thích được “hối lộ” - nên từ xa xưa dân ta đã lập đền thờ hai ông ở Kiếp Bạc - hằng năm có lễ hội cúng bái cầu xin tài lộc, sức khỏe vào ngày 14 tháng Giêng. Ông cứ lên Google tìm, sẽ biết thêm nhiều sự tích và truyền thuyết rất thú vị. Ông bạn tôi bảo thế. Mặc dù đã được giải thích, trong lòng tôi vẫn bán tín bán nghi - biết đâu ông bạn già biết tôi đã qua tuổi 80, “phịa” chuyện để an ủi(?). Còn giả dụ giấc mơ đó có thật và linh nghiệm thì tôi có nhiều ông bạn NT1, cũng đã qua tuổi 80, nếu một vài ông chán đời muốn nộp đơn xin “xuất cảnh” sớm thì sẽ không còn có dịp gặp nhau, nên tôi cứ thẫn thờ tìm ra “cái cớ” để họp mặt. Kẻo không sẽ muộn! Bỗng tôi nhớ ra chữ “dối già” mà “lão bà Bắc kỳ” nhà tôi mới nói hôm qua rằng: “Hè năm nay, mình du lịch một chuyến dối già ở Hawaii ông nhé”. Tôi hỏi “dối già” là sao? Bả giải thích: “Là làm một cái gì vui thích để lại một kỷ niệm trước khi chết”. Với ý nghĩa ấy, dân miền Trung của tôi nói nôm na là: “Vui chơi cú chót trước khi xụm”. Xem ra chữ “dối già” - ấy vậy mà hay - lấy nó làm cái “cớ” để chúng ta gặp nhau cho thỏa, trước khi nạp đơn xin “xuất cảnh”. Cứ lấy cái tên “Họp Mặt Dối Già”- nghe rất êm tai - hợp lý, hợp tình… Quý Cụ NT1 nghĩ sao? Có nên chăng? NT1 LÊ ĐỨC LUẬN (Đầu năm 2023) _______________ * TruyệnKiều - ND. 30

Uống miếng cà phê, nhớ Pleiku Ăn khúc sắn, xót ngày tù Lào Kay Đang ngồi tại Mỹ hôm nay Thương người chết trận, ôm hoài giấc mơ* Nhớ mẹ cha, húp ngụm trà Xuân chưa được hưởng! Đã già rồi sao? NT1 TÂM NGUYÊN *Tiếc thương người lính trận miền Nam hy sinh với giấc mộng bảo vệ quê hương không thành. 31

(Trích trong Hồi Ký CÒN MỘT CHÚT GÌ) NT2 Liễu Thiện Lộc Thành phố Pleiku hầu như bỏ trống. Chính quyền quốc gia, các cơ quan hành chánh, kể cả quân sự đã dời về Nha Trang mấy ngày rồi. Dân còn ở đây, những người không có phương tiện di tản hoặc vì một lý do nào đó, không ai cai quản ngó ngàng, tình trạng an ninh thật bấp bênh. Họ sợ Cộng Sản như một bóng ma, chập chờn, không biết xuất hiện lúc nào. Thành phố chỉ trong vài ngày đã trở thành hoang vắng. Ra khỏi thành phố, Lộc bước vội vàng trên đường quốc lộ, theo chân mọi người đang nhắm hướng về miền duyên hải, QL14. Người ơi là người, kẻ ngược người xuôi, vợ chồng con cái, dắt díu nhau đi. Gia tài bỏ lại đằng sau, chỉ mang theo một ít vật dụng thật cần thiết cho cuộc hành trình mà thời gian chưa định được vì chưa biết khi nào đến đích. Biết bao trở ngại, hiểm nguy trước mắt, trên dọc đường đi. Hai bên đường nhiều nhà cửa đóng kín, im lìm. Một số khác cửa banh toang hoác, phơi bày đồ đạc ngổn ngang, tứ tung lộn xộn, nói lên cái cảnh vội vã 32

ra đi, không còn thiết tha những gì để lại. Thành phố trong cơn hấp hối, không gian như bao trùm một màu đen tối kịt, dễ sợ. QL19 bị cắt đứt vì Việt Cộng đang chiếm giữ nên đồng bào di tản không thể dùng con đường này. Họ dồn vào QL14 nối liền với Phú Bổn để rồi từ đó lấy QL7, xuôi về về miền duyên hải. Trong lúc hỗn loạn, chả ai còn ý niệm gì về phương hướng. Thấy số đông đi đâu, họ theo đó. Cả đoàn người dài thườn thượt, lang thang lếch thếch nối đuôi nhau trên con đường vượt thoát hiểm họa Cộng Sản. Phải dùng chữ hiểm họa vì cho tới giờ phút này, dân chúng chưa thấy bóng dáng một tên bộ đội Việt Cộng nào cả. Nhưng hễ nghe đâu có Việt Cộng là đồng bào tìm cách lánh xa. Họ sợ chúng như lũ cùi hủi. Ra khỏi thành phố một đoạn khá xa, đang đi vội vàng như bao người khác mà đầu óc Lộc cứ suy tư, lo nghĩ miên man. Không biết mình có về được tới Phú Yên hay không nữa. Và nếu không về được thì vợ con sẽ ra sao? Làm thế nào đây? Đang lẫn trong đám người chạy loạn, không trật tự, chen chúc nhau mà đi như một dòng nước lũ cuồn cuộn trôi ra biển cả, bỗng Lộc nghe có tiếng gọi tên mình phát ra từ một chiếc xe be, với mấy cây rông cột ràng bên hông xe, trước mặt một khoảng không xa lắm. Nhìn lên, Lộc thấy ba anh lính thuộc tiểu đoàn cũ đang ngồi trên những thân cây gỗ lớn. Họ đưa tay ngoắc và hối Lộc chạy lại. Như người đang chết đuối giữa dòng nước cuộn vớ được cái phao, Lộc nhào tới bên hông xe thật nhanh. Hai anh lính thò tay xuống kéo Lộc lên. Mấy người gần đó cũng nhào lại ăn có. Nhưng họ không may mắn như Lộc, vì cố gắng trèo lên một chiếc xe đang di chuyển không phải dễ dàng gì. Cuối cùng, an vị được trên xe, Lộc mệt gần như đứt hơi. Nhưng vẫn còn đỡ hơn là lê đôi chân trên con đường đầy sỏi đá gập ghềnh trong đêm tối với đôi dép Nhật, cái loại dép chỉ để dùng trong nhà! Không có chiếc xe be và mấy anh lính này, chả hiểu Lộc có thể lê lết thêm được bao nhiêu đoạn đường nữa. Nhìn sang phía mấy người lính, anh lên tiếng: 33

- Cảm ơn mấy anh đã giúp tôi. - Thấy ông lết bết tội nghiệp quá, chúng tôi không nỡ. Dầu gì ông cũng cùng đơn vị, đâu cần phải cám ơn. Mà ông định về đâu? - Tôi tính về Tuy Hòa. Có anh nào mang gia đình đi cùng trên chuyến xe này không? - Tiểu đoàn mình về phố quá trễ. Gia đình tụi em đã đi khỏi Pleiku mấy ngày rồi. Có để giấy lại nhắn tin cho tụi em biết. Họ tưởng Quân Đoàn và Tiểu Khu dời về Nha Trang trước, chắc các tiểu đoàn cũng theo sau. Ngờ đâu, giờ này chúng ta thê thảm thế này! Sau một hồi trò chuyện, Lộc đã rõ tên ba người lính. Anh hỏi từng người: - Hàng về đâu? - Quê em tận ngoài Quảng Nam, xa quá em chưa biết tính sao. Cứ thoát khỏi chỗ này trước đã. - Còn Chung? - Em về Bình Định. - Phần Quang định thế nào? - Em người quận Hiếu Xương, Phú Yên. Em phải tìm đường về đó thôi chứ còn đi đâu nữa. - Như vậy chúng ta đi cùng một hướng rồi. Về Phú Yên trước rồi tính sau. Chúng ta phải bám sát nhau, không được tách rời. Nếu tới được Tuy Hòa, tôi sẽ bằng mọi cách lo liệu cho các em về với gia đình. Lộc đưa ra cho họ một giải pháp như sau: - Chúng ta đi như thế này không biết chừng nào mới tới. Đoàn người di tản trên đường quá đông, xe không thể chạy nhanh được vì xe và người cứ liên tục nối đuôi nhau. Như vậy hành trình di tản còn quá nhiều gian nan. Để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra dọc đường, tôi đề nghị chúng ta nên gọi 34

nhau bằng anh em như những người dân bình thường. Đừng dùng tiếng ông thầy hay kêu nhau bằng cấp bậc sẽ lộ ra mình là lính, điều tối kỵ phải tránh né lúc này. Hàng nói mình là thợ hớt tóc nếu có ai hỏi. Chung và Quang cứ coi mình là dân xe be chính hiệu. Phần tôi là thầy giáo dạy học, dạy ở trường Trung Học Pleime. Tôi chưa làm nghề này bao giờ nhưng ông anh ruột là thày giáo chính gốc nên tôi cũng hiểu về công việc này khá rành. Trường hợp có ai đó nghi ngờ hoặc đã từng gặp một trong chúng ta mặc đồ lính thì cứ nói đại là lúc trước có thời gian chạy tiền làm lính kiểng để khỏi phải cầm súng đánh nhau. Tất cả có rõ và đồng ý không? - Còn gì mà không đồng ý. Chúng em sẽ làm theo lời anh. Cả ba đồng thanh trả lời. Lộc tiếp thêm: - Tôi chỉ lo, trường hợp bất trắc, Việt Cộng chận đường, chúng ta cần bình tĩnh để đối đáp. Hy vọng sẽ thoát. Trên quãng đường dài hàng trăm cây số, đâu đâu cũng thấy người. Từng hàng, từng lớp, người gồng gánh, người bồng bế nhau, chen lẫn với đủ loại xe cộ mà đi. Ban ngày, đoàn người lê lết dưới cái nắng gắt chói chang, mồ hôi nhễ nhại tuôn ra trên từng khuôn mặt, ướt đẵm khắp thân mình, bê bết vào quần áo lẫn với cát bụi đỏ lòm. Phần mệt nhọc, phần đói khát, cộng thêm cái lo lắng, không còn một khuôn mặt nào ra vẻ con người. Đoàn người vật vờ, nặng nhọc lê lết thân xác trên con đường, y hệt những con vật vì bản năng sinh tồn phải tìm cách để tự tồn tại. Họ tạm dừng chân khi quá mệt mỏi, một thời gian ngắn ngủi để rồi sau đó lại vội vã tiếp tục hòa nhập vào đoàn người lê thê đó. Họ không muốn bị bỏ lại đàng sau, không muốn bị tách rời khỏi cái tập thể, dù chính cái tập thể đó cũng chỉ là một con rắn không đầu. Họ chỉ thực sự dừng lại nghỉ ngơi lấy sức khi màn đêm buông xuống. Nói cho cùng, trong bóng tối, họ không thể thấy đường mà đi! Đứng trên xe nhìn xuống, Lộc thấy lòng xót xa. Chỉ biết xót xa vậy thôi chứ có làm gì cho họ được đâu! Lộc chỉ may mắn hơn họ, hạnh phúc hơn họ là không phải lê lết đôi chân trên con 35

đường đầy sỏi đá, gập gềnh mà thôi. Trong lòng Lộc cũng còn trăm mối tơ vò. Số phận mình sẽ ra sao? Số phận đám người trên con đường này sẽ thế nào? Cuộc đời như thế đấy! Có những cái ở ngay trước mặt, có những vật nắm trong lòng bàn tay, ta không coi trọng, không trân quý. Một khi, chúng vuột khỏi tầm tay, chúng ta thấy được giá trị thực sự thì đã quá muộn. Đoàn người dưới kia đang làm gì? Họ đi đâu? Ai cũng biết. Ai cũng hiểu. Họ đi về miền ánh sáng. Họ đi tìm tự do. TỰ DO thật sự quý lắm hay sao? Đúng vậy. Trên cuộc đời này, dù giàu sang hay nghèo khó, ai cũng muốn mình được tự do. Thà hy sinh tất cả, thà mất đi tất cả nhưng nhất định không thể mất tự do. Vượt qua hàng trăm cây số đường rừng, đầy gian nan khổ lụy, giờ đoàn người thật đông, trong đó có bọn Lộc, cũng đã đến được Phú Bổn. Mọi người tụ lại ở khu bến xe cùng với những người đã đến trước đây. QL7 giờ cũng đã đứt vì Việt Cộng đang chế ngự. Đại tá Tất, được lệnh của Quân Đoàn, chỉ huy các đơn vị Địa Phương Quân cùng một số các đơn vị không còn nguyên ven thuộc các Sư Đoàn, đang cố gắng khai thông QL7. Mọi người đang bàn tán về tin này như một hy vọng. Có vài anh lính thuộc Sư Đoàn hoặc binh chủng còn mang theo máy truyền tin PRC25, cũng đi theo đoàn di tản, mở máy và bắt được tần số liên lạc của Đại tá Tất. Họ cho biết ông đang bay trên trực thăng để chỉ huy các đơn vị dưới đất, cố gắng giải tỏa QL7. Đâu có máy là đó có nhiều người tụ lại lắng nghe, theo dõi. Một hy vọng mỏng manh, nhưng ít ra cũng có cái gì để bám víu trong giờ phút tuyệt vọng. Có còn hơn không. Thời gian chầm chậm trôi qua. Ánh nắng chiều bắt đầu yếu dần, nhạt nhòa trên bờ cây bụi cỏ, không còn đủ sức để đổ dài những bóng người trên mặt đất. Lệnh vẫn là lệnh, nhưng giờ 36

này hình như không còn hiệu lực. Các đơn vị đã tan rã, đâu còn ai chỉ huy, việc khai thông trục lộ không thành. Bóng đêm lan dần bao trùm lên vạn vật, mọi người ngao ngán, thất vọng, buồn nản. Cái hy vọng mong manh cuối cùng, giống như tia nắng cuối ngày đã bị màn đêm kéo tới vùi dập tắt lịm. Mỗi người giờ phải tự lo lấy bản thân. Họ ăn uống vội vàng với những thực phẩm mang theo. Bọn Lộc cũng thế. Chuẩn bị tinh thần cho cuộc hành trình ngày mai mà tương lai thật mịt mù, đen tối. Đường về duyên hải còn xa diệu vợi. Đang tính sửa soạn tìm chỗ ngủ qua đêm chờ sáng, thình lình Lộc nghe có tiếng huyên náo, tiếng chân chạy rầm rập của cả một đám đông từ phía đầu bến xe chạy ngược lại. Có những tiếng la hốt hoảng vang lên: “Việt Cộng... Việt Cộng đến...” Tiếng la vang trong đêm khuya sao nghe rùng rợn quá. Cùng một lúc từ cuối bến xe cũng diễn ra cảnh tương tự. Cả đám đông dân chúng bây giờ đã bị bọn Việt Cộng lùa chụm lại khoảng giữa bến xe. Loài chồn cáo dữ có lẽ đã đánh hơi được mùi của đàn vịt ngơ ngác tụ họp nơi đây. Cả một đám người nháo nhác, rối 37

loạn. Tiếng kêu ơi ới, vợ gọi chồng, mẹ gọi con... vang lên cả một góc trời giữa đêm thanh vắng. Họ đã thất lạc nhau trong cơn hỗn loạn bỏ chạy khi thấy bóng dáng những tên bộ đội Cộng Sản. Mạnh ai nấy lủi, cố tìm cho mình một chỗ ẩn núp: một bụi cây, bờ tường, ụ đất, đám lau sậy ven đường... Phần Lộc và ba người lính, trước tình thế quá bất ngờ, chưa biết tính toán thế nào thì trước mặt một toán Việt Cộng có vũ trang súng đạn đang tiến tới. Không còn đủ thời gian, cả bốn đành liều, chui đại xuống gầm một chiếc xe đò để tránh bọn chúng. Lúc Lộc vừa yên vị dưới gầm xe thì phát hiện bên cạnh hông xe, phía trước đã có một anh thanh niên. Vì không đủ chỗ nên Quang và Chung bảo Lộc leo lên cảng xe nằm. Ổn định được chỗ ẩn núp tạm, Lộc thấy một bàn tay từ bên ngoài đưa vào cho anh thanh niên một cái gói nho nhỏ, cỡ hai viên gạch. Trời quá tối, Lộc không thể phán đoán là thứ gì. Họ trao cho nhau lại không nói tiếng nào. Đây cũng là một sự việc lạ lùng, kỳ quái khiến Lộc lo ngại. Muốn tránh đi chỗ khác nhưng làm sao có thể dẫn ba ngưới lính kia thoát khỏi nơi đây trong tình trạng này. Bọn Việt Cộng đang lùng sục, thỉnh thoảng có tiếng súng AK lên đạn, rồi những tiếng tạch đùng. Bắn chỉ thiên đe dọa, uy hiếp tinh thần hay bắn thẳng vào đồng bào lúc này đối với bọn chúng cũng chẳng có gì khác biệt. Xí xa xí xô đâu đó có những tiếng kêu: Chú Ba, Anh Tư, Chị sáu... cách xưng hô của đám Việt Cộng nằm vùng, ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng sản hoặc bọn đón gió trở cờ xum xoe trước mặt đám bộ đội ra vẻ ta đây thuộc phe cách mạng. Chúng đang tìm cách lập công, kiếm điểm. Ngoài những âm thanh đó, khu vực bến xe hoàn toàn im phăng phắc. Dưới gầm xe, bọn Lộc cũng nín thở, lắng tai nghe ngóng động tịnh. Đó đây chập chờn những ánh đèn pin lóe sáng yếu ớt trên tay đám Việt Cộng, quét qua những chỗ chúng nghi ngờ tìm người ẩn núp. Một toán Việt Cộng lùa đồng bào, những người chậm chân, không tìm nơi trú ẩn kịp vì vướng bận vợ con, cha già mẹ yếu... Chúng đưa họ vào tập trung tại một 38

khu nhà dân cách đó độ vài trăm thước, trước một sân tráng xi măng khá rộng. Có lẽ đây là nhà của một gia đình khá giả. Những bó đuốc được bọn Việt Cộng đốt lên. Cũng chỉ là những bó đuốc dã chiến, bó lại bằng mấy lá dừa khô, trông thật nghèo nàn, thê thảm, không khác gì bộ dạng tơi tả, luộm thuộm của bọn chúng. Những đốm sáng yếu ớt phát ra từ những bó đuốc không đủ soi rọi qua màn đêm dày đặc, nhưng cũng đủ cho nhóm đồng bào bị tập trung ở đây thấy được những bộ mặt đầy thù hận, đằng đằng sát khí. Những cái mồm ngoạc ra, những tiếng chửi bới, nguyền rủa, hăm dọa... nào là ôm chân đế quốc, bám đít chạy theo “ngụy quân ngụy quyền”, cố tình chống lại “cách mạng” v.v... Chỉ cách vài trăm thước, nhất là đêm khuya thanh vắng, Lộc nghe rất rõ. Lần đầu tiên những từ ngữ lạ tai lọt vào tai Lộc, nghe thật quái đản. Ngờ đâu, sau này, cái điệp khúc đó còn đeo đuổi Lộc suốt những năm dài trong lao tù Cộng Sản, từ anh vệ binh đến cán bộ cao cấp, những lời lẽ hoàn toàn rập khuôn, không sai chạy một chữ! Lý lẽ của kẻ thắng cuộc, nói sao chẳng được. Trong khi đó cùng còn vài toán đi lùng sục những người lẩn trốn. Có toán đi sục sạo những vật dụng của nhóm người bỏ chạy để rớt lại. Cũng may cho bọn Lộc, chúng tiến xa vào hướng bìa rừng vì không nghĩ là có người dám ẩn núp dưới gầm những chiếc xe ngay tại bến. Tuy nhiên vẫn chưa hết nỗi lo sợ. Anh chàng cạnh Lộc, không hiểu sao có thể ngủ ngon lành được, đang cất tiếng ngáy. Có lẽ anh ta quá mệt mỏi vì lặn lội đường xa. Mỗi tiếng ngáy vang lên, tim Lộc lại thót mạnh. Lộc sợ bọn Việt Cộng gần đó phát hiện thì coi như đi đời. Lộc bèn rời khỏi càng xe, bò thật nhẹ đến sát chỗ anh ta nằm, ghé sát vào tai nói nhỏ, gần như năn nỉ: - Anh ơi, tôi không biết anh là người thế nào, chúng ta cũng chẳng thù oán, tôi chỉ là người dân lương thiện làm ăn ở Pleiku, muốn về xum họp với gia đình, chẳng may bị kẹt ở đây. Tôi là 39

người theo đạo Phật, một đời chỉ biết làm lành, mong anh có chút từ bi tha cho chúng tôi. Nếu anh tiếp tục thế này chắc chúng tôi thế nào cũng bị phát hiện, bị giữ lại thì gia đình chúng tôi sẽ vô cùng đau khổ. Nói xong, Lộc lần tay lên cổ, tháo sợi dây chuyền vàng tây có đính tượng Phật Bà Quan Âm bằng ngà voi mạ vàng. Trong quãng đời binh nghiệp vào sanh ra tử, có những lúc nguy hiểm ngặt nghèo, Lộc vẫn thường dùng nó để khấn nguyện, xin bảo vệ thân xác bình an. Lộc luôn có một niềm tin mãnh liệt với tượng Phật Bà Quan Âm này. Giờ đây, cũng là giây phút hiểm nghèo nhất trong cuộc đời còn lại, một lần nữa Lộc cần đến nó. Cầm tượng Phật, Lộc đặt nhẹ vào lòng bàn tay anh ta và bóp nhẹ nhẹ. 40

Một điều lạ lùng, không hiểu tại anh ta đã tròn giấc ngủ hay lời cầu xin của Lộc đã hiển linh, anh ta tự nhiên thôi ngáy. Bên kia, đám Việt Cộng sau khi sinh hoạt vội vàng khoảng chừng vài chục phút cũng đã cho đồng bào giải tán. Những ánh đèn pin ma trơi của chúng vung qua vung lại vài lần về phía bến xe rồi từ từ biến mất. Loài ma ăn đêm phải biến dạng trước khi bình minh xuất hiện. Vừng sáng từ chân trời bắt đầu hé lộ mở màn cho một ngày mới. Đồng bào bị tập trung từ từ trở lại bến đậu xe. Một người đàn bà đi ngang chỗ bọn Lộc đang ẩn núp, dừng lại, cúi xuống bên hông xe và bảo: - Ra đi mày. Anh chàng khi hôm nằm cạnh Lộc vội vàng lăn ra khỏi xe. Bọn Lộc thấy đã tạm yên cũng chui ra khỏi gầm xe. Đến nước này, Lộc phải tính lại. Không thể đi chung với đám dân được nữa, QL7 cũng không thể đi. Chỉ còn cách băng rừng. Điều cần thiết là phải kiếm cho được một can nhựa đựng nước uống dọc đường, một cái nồi nhỏ cho trường hợp cần nấu nướng và quan trọng nhất phải có lửa. Bọn ba người nhao nhao: - Cái gì chứ lửa, tụi em đứa nào cũng sẵn. Toàn là dân “phê” mà anh! Sau khi phân công, bọn họ kiếm được những thứ cần thiết. Chung lục lọi đâu đó được ít mì gói không biết ai bỏ lại. Lộc hướng dẫn cả bọn, đi ngược lại về hướng Pleiku một đoạn, đánh lạc hướng những người khác khi họ ngó theo. Khi đã hút tầm mắt, Lộc dẫn cả bọn nhắm hướng đông, cắt rừng băng vào. Hướng đông là hướng biển cũng là hướng mặt trời mọc. Sương mù buổi sáng đọng trên cây cỏ, thấm vào quần áo, cả bọn cảm nhận được cái lạnh ngấm vào thịt da nhưng vẫn dấn bước. Băng qua một cánh đồng nhỏ rồi một trảng trống, tương đối bằng phẳng, đầy cỏ dại chen lẫn những cây và bụi thấp lưng chừng, xuất hiện trước mặt một làng Thượng, có vẻ khá lớn, những mái nhà ló dạng bên kia một dãy hàng rào tre dày đặc. 41

Có lẽ đây là một làng Thượng nằm trong kế hoạch của chính phủ, tập hợp các làng Thượng từ những vùng xa xôi, thiếu an ninh, về đây để tái định cư. Mặt trời đã lên khá cao, từng cơn gió mạnh lùa qua, đẩy những cành tre uốn mình trong nắng, những bụi chuối gần đó cũng rít lên rào rào. Chim chóc trên những cành cây đang líu lo ca hát, đón chào buổi bình minh. Chúng có hiểu được tâm trạng những kẻ đang tìm đường lánh nạn của bọn Lộc không? Làng Thượng đây rồi. Lộc quyết định ghé vào để dọ hỏi hướng đi về Phú Yên cho chắc, và hy vọng có thể tìm thuê được người dẫn đường. Trước khi rời Pleiku, Lộc có gom góp được khoảng gần năm chục ngàn và đang mang theo trong người. Nếu có người chịu dẫn đường, Lộc sẽ dùng số tiền này trả công cho họ. Tất cả hy vọng đều tiêu tan. Ai cũng từ chối. Có lẽ họ cũng theo dõi và đã thông hiểu các tin tức chiến sự bên ngoài. Họ cũng còn gia đình phải lo. Họ vui lòng, sẵn sàng chỉ đường và chỉ có thế mà thôi. Phần đông, đồng bào Thượng vốn thật thà chất phác, tuy cũng có một thiểu số điêu ngoa, gian trá. Những năm tháng 42

chiến đấu, sống qua các làng Thượng, có dịp tiếp xúc giúp Lộc hiểu biết khá nhiều về họ. Vì vậy Lộc không hỏi chỉ một người. Sau khi hỏi nhiều người họ đều nói như nhau. Ít ra cũng có hướng đi. Lộc cám ơn tấm lòng của họ, yên tâm dẫn ba anh lính, giã từ làng Thượng, bắt đầu một cuộc hành trình bôn tẩu, gian nan dặm trường. Vượt rừng, băng suối, lên đèo, xuống dốc, bất chấp hiểm nguy. Tất cả cùng một chí hướng, tìm về miền tự do, về với gia đình. Chính với ý nguyện này, dù không gian trước mặt có bao la mịt mùng, dù thời gian có kéo dài bao lâu, bọn Lộc nhất định phải tiến tới. Rời làng Thượng, bốn người băng qua mấy rẫy trồng khoai mì và bắt đầu chui vào một khu lau sậy. Những cây sậy cao vượt đầu người, dầy đặc còn phủ đầy sương mai khiến bọn Lộc vất vả vô cùng. Vừa phải vạch từng lớp sậy tách ra một khoảng rộng vửa đủ để có thể lách mình đi, vừa phải nhắm hướng. Quần áo cả bọn chỉ trong chốc lát đã ướt đẵm. nửa mồ hôi, nửa sương mai. Ra khỏi được đám sậy cả bọn ngất ngây phải dừng nghỉ một lúc. Phía trước, từng ngọn đồi, núi trải dài kế tiếp nhau, một màu xanh thăm thẳm sẽ lần lượt nuốt chửng bọn Lộc vào trong đó. Sau một hồi nghỉ ngơi, cả bọn tiếp tục lên đường. Mặt trời đã lên, những tia nắng yếu ớt buổi ban mai, xuyên qua những cành lá màu xanh xậm, chiếu vào thân thể, bọn Lộc cảm thấy ấm áp dễ chịu hơn lúc chui qua đám sậy. Nhắm hướng mặt trời, cả bọn tiến bước. Được một đoạn, Lộc phát hiện họ bắt đầu xuống dốc. Tới đáy dốc, Lộc nhận ra đó là một con suối vì dọc hai bên là lớp bờ cao hơn. Đáng tiếc suối cạn, không một giọt nước. Lộc cảm thấy lo lắng. Mùa hè năm nay, thời tiết khá khắc nghiệt, không một trận mưa. Với tình trạng này, bọn Lộc có thể chết khát. Đói không đáng sợ lắm. Trong rừng, hàng chục loại cỏ cây có thể ăn được. Không có nước thì nguy. Nghĩ như thế nhưng Lộc không để lộ ra mặt, sợ ba anh lính mất tinh thần. Chừng nửa tiếng đồng hồ đi tiếp tục, cả bọn bắt đầu tiến vào rừng rậm. Những thân cây cao ngút, những đám dây leo chằng 43

chịt. Không có dụng cụ để phá, bọn Lộc nhiều lúc phải tránh tạt qua các bụi rậm quá dầy. Dù vậy họ cũng không dám né quá xa vì sợ lạc phương hướng. Không có địa bàn, cách định hướng duy nhất là dựa vào mặt trời. Kẹt một nỗi, trong rừng già, cây cối rậm rạp, đôi lúc ánh nắng cũng không chen chân nổi. Trong trường hợp này chỉ còn một cách duy nhất, Lộc nhắm chuẩn hướng đầu tiên, cho một người lên trước đứng, rồi người thứ hai vượt qua một đoạn đến vị trí thẳng hàng là xong. Tuy chậm nhưng chắc chắn không lạc hướng. Cũng may trên đoạn đường, không phải lúc nào cũng là rừng già. Khoảng quá trưa, bốn người ra khỏi khu rừng rậm. Trước mặt, khoảng hơn trăm thước, Lộc chợt thấy một dải trắng khá lớn, giống như một tảng đá trải bằng bên dòng suối. Hiếu kỳ, Lộc chạy vội tới. Hóa ra đây là một vũng nước còn lại của một dòng suối khô, chu vi bằng khoảng vài cái thau giặt đồ. Chung quanh, phân chim rải rác trắng xóa. Đây là một hiện tượng không tốt. Vùng đất hạn hán. Dòng suối cạn, chỉ còn sót lại cái vũng nước bé xíu này. Trong cái vũng nước cạn đó, cũng còn sự hiện diện của cả một bầy cá lúc nhúc, lớn có bé có, chen chúc nhau vì chẳng còn chỗ để đi. Có thể nói cá nhiều hơn nước, lẫn trong đó là phân chim. Cá quậy vẫy trong vũng nước trộn phân chim khiến vũng nước trở nên nhầy nhụa, bốc mùi tanh tưởi như mùi vựa cá. Ngước nhìn mặt trời đang ngả thấp về hướng tây, Lộc đoán cũng khoảng 4 giờ chiều. Một ngày trôi qua khá nhanh. Cả bọn 44

đã vất vả từ sáng tới giờ, băng qua bao nhiêu đoạn đường. Cái nóng bức ban ngày cũng đã dịu lại. Bầu trời vẫn xanh ngắt, những đám mây bàng bạc vẫn lững thững trôi về cõi xa xăm nào đó, từng đàn chim lượn qua cất tiếng kêu ríu rít. Thiên nhiên vẫn sinh hoạt bình thường, chỉ con người dưới thế mới quay cuồng theo thời cuộc. Lộc quyết định cho cả bọn dừng chân, qua đêm tại đây. Trời đã ban cho họ mớ thực phẩm tươi này, không tận dụng quả là phí phạm. Phân công Hàng và Chung tìm cách bắt mớ cá lên, Lộc và Quang đi gom củi khô chuẩn bị cơm chiều. Cả bọn bắt tay vào việc, vui vẻ, quên đi mệt nhọc trèo đèo, lội suối, băng rừng, vượt núi cả ngày. Cái đói bụng bây giờ mới ló dạng khi mùi cá nướng bốc lên thơm phức. Những con cá tưới rói màu xanh rong, đang dẫy nhẩy trên mặt cát trắng được bốc lên, xuyên qua thân bằng những cây que nhọn, hơ trên lửa hồng, từ từ bốc khói, nhỏ xuống vài giọt nước, phát ra những tiếng xèo xèo. Lớp vẩy ngoài bắt đầu cháy xém, dộp lên. Chờ chừng một lát cho lớp thịt bên trong vừa chín, mỗi người đem ra, cạo sơ lớp vẩy cháy đen, bóc thịt cá bỏ vào miệng. Thịt cá tươi, chất ngọt thấm vào lưỡi, không cần một chút mắm muối gia vị. Cả bọn sảng khoái nói cười luôn miệng, không khí vui như một buổi du ngoạn, khiến họ như quên mất cái thực tại không mấy sáng sủa đang chờ đợi họ ngày mai. Thực sự mà nói, tự sáng đến giờ, cả bọn đâu có cái gì vào bụng. Dọc đường, nhiều lúc khát, Lộc cũng hạn chế nước uống. Mỗi người chỉ được ba nắp can nhỏ xíu, mỗi lần uống thì đều tập trung uống một lần cho đồng đều. Bốn người đang tận hưởng cái hạnh phúc mỏng manh do thiên nhiên đãi ngộ. Cái hạnh phúc ấy cũng chẳng kéo dài khi mớ cá bắt lên vừa hết. No bụng, họ nằm lăn ra trên mặt đất, cạnh đống lửa, để tìm chút ấm áp, mong qua đi một đêm giá lạnh giữa vùng rừng núi trùng trùng điệp điệp của miền cao nguyên. Sự mệt mỏi khiến họ nhanh chóng thiếp vào giấc ngủ, trả lại cảnh yên lặng cho núi rừng. 45

Đêm chưa qua nhưng trời vội sáng. Không ai bảo ai, bốn anh em đều thức dậy. Phải chăng cùng chung tâm trạng, khiến họ luôn luôn thấp thỏm, bồn chồn, nôn nóng mong sớm gặp gia đình. Họ lại xăng xái, đuổi xua đi những uể oải mệt nhọc hôm qua để bắt đầu cho một cuộc hành trình mới, đầy bất trắc đang chờ đón họ phía trước. Tận chân trời xa thẳm, một vừng hồng rực rỡ, mỗi lúc một lan rộng, ánh dương tỏa sáng chan hòa. Những giọt sương mai còn đọng trên cành cây, ngọn cỏ, lấp lánh dưới ánh mặt trời như những hạt kim cương. Không gian bao la nhưng thật gần gũi. Bên dòng Thu Bồn, cả một đoàn người đang tụ lại ở đây. Họ từ muôn phương, cũng như bọn Lộc, đang trên đường bôn tẩu, tình cờ gặp nhau. Đủ cả hạng người, có người còn trẻ, khỏe mạnh, có những cụ già lụm khụm với khúc gậy cầm tay, những gia đình đông đúc lê thê, cha bồng mẹ dắt... Bọn Lộc dầu vất vả nhiều trong những ngày vừa qua nhưng so với họ, Lộc cũng cảm thấy ái ngại dùm. Ái ngại vì anh thấy được những hiểm nghèo, gian nan phía trước. Bọn anh, không tay xách nách mang mà còn vất vả huống gì những gia đình này! Làm sao họ có thể vượt qua. Giây phút dừng chân tạm rồi cũng chấm dứt. Mọi người lại vội vã ra đi. Bốn người Lộc cũng hòa nhập đoàn người men dọc bên dòng sông cất bước. Không được bao lâu, đoàn người vỡ ra từng mảng vụn. Từng nhóm nhỏ tự tách ra khỏi đám đông. Mỗi nhóm có hoàn cảnh riêng, mục đích riêng nên tự tìm cho họ một hướng đi. Vẫn còn những người tiếp tục theo con đường cũ men sông. Lộc cũng quyết định cho nhóm mình một đường đi khác. Mặt trời đã đổ về hướng tây, bọn Lộc đạp bừa lên những đám cỏ dại cao gần tới đầu gối, lách mình qua từng bụi lau sậy. Nhắm bóng đổ trên mặt đất để định hướng đi. Mệt lả người, mồ hôi tuôn đầy trên trán, chảy xuống cả mặt. Một điều kỳ lạ, tới đây bọn Lộc phát hiện có nhiều dấu chân của đám người nào đi trước. Dấu vết những cành cây bẻ rất còn tươi. Phải chăng bọn 46

Lộc đã chọn đúng đường? Ý nghĩ có kẻ đồng hành, dù là đi trước, khiến Lộc phấn khởi. Mặt trời mỗi lúc một xuống thấp phía bên kia triền núi. Cả bọn rảo bước nhanh. Thời gian không chờ đợi ai. Trước mặt, một ngọn đồi thấp hơn nằm chắn lối. Thế nào cũng phải vượt qua trước khi mặt trời lặn, xem đó như một mức khởi hành cho ngày mai. Không còn cách ngọn đồi bao xa, Lộc chợt nghe có tiếng người rên rỉ cầu cứu. Lần theo dấu vết những người đi trước, bọn Lộc tiến lại. Chẳng bao lâu, đỉnh đồi xuất hiện trước mắt. Một cảnh tượng đau lòng đang diễn ra. Một người đàn ông, có lẽ là chồng, là chủ gia đình, tay cầm cây rựa, đôi mắt đẫn đờ, bước chân mệt nhọc, nặng nề cố lê đi quanh đó tìm những rễ cây dây leo chặt, hy vọng có được chút nước cho vợ con. Khốn khổ, cả một dòng nước kế cận cũng đã cạn queo thì rễ cây nào có nước được. Thấy bọn Lộc, ông sụp người xuống vái lạy, miệng nài nỉ xin chút nước cứu mạng vợ con. Lộc kéo ông ta lên nhưng ông trì lại không chịu và cứ tiếp tục van xin. Lộc ngó qua quan sát, người vợ đang ngồi tựa đầu vào một gốc cây, hầu như đã kiệt sức, cặp mắt lờ đờ không còn chút 47

thần sắc, miệng thều thào không ra hơi, đôi tay ôm chặt đứa con trong lòng. Một đứa nhỏ khác, đang nằm dài dưới đất, bên cạnh, đầu tựa lên đùi mẹ nó. Có lẽ chúng quá đói và khát, miệng cứ hé mấp máy còn cặp mắt thì nhắm tịt. Trước cảnh đau lòng này, Lộc không thể làm ngơ. Anh kéo ba người kia ra một góc. - Hãy bớt cho họ một chút nước dù chúng ta chỉ còn chưa tới nửa can. Chúng ta dầu gì cũng còn xoay sở được. Cứ coi như hy sinh một lần uống nước trên đường. Chúng ta làm phúc sẽ được ông trời đền bù. Cả ba không có lời phản đối khi nghe Lộc thuyết phục. Họ cũng là con người, cũng còn chút lương tri đồng loại. Trong khi trút cho gia đình họ mỗi người ba nắp can nước, Lộc tò mò hỏi thăm: - Tại sao gia đình ông lại ở đây? - Tôi đưa vợ con theo đoàn người di tản. Họ cũng đi hướng này nhưng tất cả đã đi qua. Gia đình tôi vì quá mệt, phần vì thiếu nước nên không theo kịp, đành phải ở lại đây. Các anh có vui lòng giúp đỡ cho gia đình tôi theo với không? - Còn nước còn tát, ông nên đưa vợ con về lại đường cũ, trở lại chỗ dòng sông. Ít ra ở đó cũng có nước uống. Thực phẩm có thể dùng rau rừng, cỏ dại đỡ lòng. Ở chỗ này chắc chắn gia đình ông sẽ chết khát. Chúng tôi cũng chưa biết thế nào, làm sao có thể cưu mang gia đình ông được. Lộc ra dấu, cả bọn vội vã chào và đứng dậy bước nhanh. Trên đường Lộc cảm thấy lâng lâng một niềm vui, có chút gì hạnh phúc khi làm được một điều, dù nhỏ nhoi, cho người khác, kém may mắn hơn mình. Đi thêm một đoạn đường, nhóm Lộc tới một trảng đất bằng, bỏ lại sau lưng con đường sỏi đá gập gềnh chông chênh bên bờ suối cạn. Trời cũng vừa tối, không cách gì hơn, phải dừng chân nghỉ lại. Hơn nữa, tất cả cũng đã thấm mệt. Một may mắn 48

không ngờ, cạnh chỗ ngủ không xa là một rẫy khoai mì bỏ hoang. Chung phát hiện khi ra xa đi tiểu. Lộc đoán không phải rẫy bỏ hoang. Có lẽ rẫy này là loại rẫy trước đây bọn Việt Cộng trồng dọc theo đường di chuyển, để những toán quân di chuyển ngang hoặc đám giao liên có thực phẩm mà dùng. Cả bọn mừng húm, hè nhau nhổ ít bụi bỏ lên bếp nướng ngay. Ăn xong, cả bọn còn nướng thêm cho mình ít củ làm thực phẩm đem theo dọc đường. Dù biết rằng chưa chắc ngày mai cũng có được may mắn này nhưng không ai có thể mang nhiều hơn vì đã quá mỏi mệt. Đêm nghỉ ngày đi. Những may mắn như vừa rồi không hề tái diễn. Có những ngày bọn Lộc đói thê thảm. thỉnh thoảng tìm được những trái sung, nhưng rất hiếm. Thường thì cải trời, lá tàu bay, rau sam, rau má... luộc, chia nhau ăn cho đỡ cồn ruột, qua đi cơn đói. Ròng rã hơn tuần lễ, bọn Lộc vẫn chưa tìm được lối ra. Thỉnh thoảng còn lạc vào những mật khu cũ của Việt Cộng. Cũng may, lúc này chúng đã tràn ra thành phố hoặc làng xã mà chúng cưỡng chiếm được và bỏ trống nơi đây với đầy đủ chòi, 49

lán, vọng gác trên cây, bếp nấu, nồi niêu, xoong chảo, nương khoai, cơ sở chăn nuôi heo, gà, vật dụng sản xuất v.v... Trong những ngày đói khát, bọn Lộc thèm đủ thứ. Điều bất hạnh, những thứ đó lại không có ở đây mặc dù cả nhóm đã lục lọi tìm kiếm rất kỹ. Cuối cùng cũng chỉ moi được vài củ khoai, vội lấy đem theo. Lúc đói quá, con người đâm ra liều mạng, đôi khi quên mất thân phận của mình, không còn biết sợ Việt Cộng là gì, nên mới xông đại vào các căn cứ của chúng. Khi no bụng một chút lại lo sợ gặp chúng dọc đường! Vì vậy mỗi lần gặp đường mòn hoặc từ xa nếu thấy có lều tranh là bọn Lộc né tránh, mở đường khác mà đi. Thỉnh thoảng, dọc đường bọn Lộc cũng ngửi được những mùi hôi thối, khăm khẳm quyện lẫn trong gió là biết gần đó thế nào cũng có xác người chết. Ai đã từng ngửi qua mùi xác người chết mới hiểu, cái mùi thật kinh khủng! Bịt mũi, nín thở nó vẫn thấm vào khứu giác. Người chết đủ loại, chết vì kiệt sức, chết vì đói, chết vì khát, chết vì súng đạn giao tranh... Có những người lính không chịu buông súng đầu hàng. Bị Việt Cộng truy kích, họ vẫn anh dũng chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng. Ôi! Những người chiến sĩ vô danh. Thương cảm thay và ngậm ngùi cho thân phận những anh hùng đã nằm xuống, vĩnh viễn không có ngày trở lại. Túy ngọa sa trường quân mạc vấn Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Như muôn vạn dòng sông đổ dồn ra biển cả, bao ngày qua, người dân vùng cao nguyên đã bất chấp hiểm nguy, đói khát, vượt rừng, băng suối, mong có ngày về được miền duyên hải: Tuy Hòa, Nha Trang... bất cứ chỗ nào, miễn là nơi đó có ánh sáng tự do. Nhưng, suối cũng khô, sông đã cạn, giờ chỉ còn một điểm khô cằn sỏi đá. Trăm ngàn lối đi cũng chỉ quy về một chỗ. Đồng bào cũng như bọn Lộc, đã bị giữ lại trên khoảng đường 50


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook