PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO *********************** Mã SKKN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 3-4 TUỔI Lĩnh vực: Giáo dục mẫu giáo Cấp học: Mầm non NĂM HỌC 2018 - 2019
PHÒNG GD&ĐT QUẬN NAM TỪ LIÊM *********************** Mã SKKN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 3-4 TUỔI Lĩnh vực: Giáo dục mẫu giáo Cấp học: Mầm non Tác giả: Đoàn Thị Hường Đơn vị công tác: Trường Mầm non Phùng Khoang Chức vụ: Giáo viên NĂM HỌC 2018 – 2019
Mục Lục Trang Nội dung 1 Phần I: Đặt vấn đề 1 1.Tên đề tài. 1 2.Lý do chọn đề tài 2 3.Mục đích nghiên cứu 2 4. Đối tượng nghiên cứu 2 5. Phạm vi và thời gian thực hiện 2 Phần II. Giải quyết vấn đề 2 1.Cơ sở lý luận 3 2.Thực trạng của vấn đề 3 *Thuận lợi và khó khăn 4 *Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài 5 3.Những biện pháp thực hiện. 5 3.1. Biện pháp 1: Tìm tòi, bồi dưỡng bản thân, chia sẻ với đồng nghiệp. 7 3.2. Biện pháp 2: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ. 10 3.3. Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày 15 3.4. Biện pháp 4: Giáo dục trẻ kỹ năng sống thông qua các hoạt động khác trong ngày. 18 3.5. Biện pháp 5. Dạy kỹ năng đơn giản cho trẻ tự kỷ 20 3.6. Biện pháp 6. Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đưa vào các chủ đề. 22 3.7. Biện pháp 7:Tuyên truyền, phối kết hợp với các bậc phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 22 4. Kết quả đạt được 24 24 Phần III. Kết luận và khuyến nghị 24 1.Kết luận 26 2. Khuyến nghị Phần IV. Tài liệu tham khảo
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổ ở trường mầm non.”, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều của các cấp lãnh đạo, của các bậc phụ huynh và đã tham khảo một số tài liệu cũng như tham quan học hỏi một số trường bạn … Đặc biệt là sự chỉ đạo cụ thể của Phòng GD & ĐT quận Nam Từ Liêm: đã tổ chức các lớp tập huấn, tạo điều kiện trong việc tham quan học tập… Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám Hiệu, các đồng chí giáo viên trong Hội đồng nhà trường, đã tạo điều kiện giúp đỡ về tài liệu cũng như những ý kiến trao đổi quý báu trong quá trình giảng dạy để bản thân hoàn thành đề tài sáng kiến kinh nghiệm này. Trong quá trình viết chắc chắn còn những hạn chế và thiếu sót, rất mong sự quan tâm giúp đỡ thêm để đề tài của tôi được hoàn thành và cũng là kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình công tác chuyên môn tại trường đạt hiệu quả hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài của mình Tôi xin chúc các đồng chí luôn thành công hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục của mình!
1/24 1. PHẦN MỞ ĐẦU: 1.1. Lý do chọn đề tài: Giáo dục Kỹ năng sống là rất quan trọng và cần thiết cho trẻ nhỏ. Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ phát triển nhân cách, thể chất, tình cảm, giao tiếp, ngôn ngữ, tư duy một cách toàn diện, “ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Chính trẻ em hôm nay sẽ là những nhân tố quan trọng quyết định đến sự phồn thịnh và văn minh của một quốc gia sau này. Để đạt được điều đó thì việc chăm sóc giáo dục trẻ phải có sự chung tay góp sức của nhà trường, gia đình và xã hội. Trước sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của nền kinh tế cũng như công nghệ số hiện nay thì rất nhiều các bậc phụ huynh có rất ít thời gian để quan tâm đến con cái. Một số không nhỏ phụ huynh đã cho trẻ dùng điện thoại từ sớm để bản thân rảnh hơn. Hay vì mỗi gia đình chỉ có 1-2 con nên các bố, mẹ, ông, bà cưng chiều con và làm hết mọi việc giúp con như: Đi giày, dép, mặc quần áo, rử tay, lau mặt, xúc cho ăn… chính vì vậy trẻ không có điều kiện để giao tiếp, tiếp xúc với thế giới bên ngoài, không có các kỹ năng cơ bản trong cuộc sống, nhất là các kỹ năng phục vụ và kỹ năng xã hội khác... Trẻ hay thu mình và rất ít khi giao tiếp với thế giới bên ngoài. Điều này làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nhận thức, tình cảm và sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là hầu hết trẻ không có vốn kỹ năng sống. Vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết để giúp trẻ khám phá thế giới một cách có định hướng, khiến trẻ biết quý trọng bản thân, nuôi dưỡng những giá trị sống nền tảng và hình thành những kỹ năng sống tích cực cho trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên bốn lĩnh vực : Thể trạng, tâm hồn, trí tuệ, tinh thần, từ đó xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống hòa nhập với thế giới xung quanh. Câu hỏi đặt ra là: Bắt đầu giáo dục Kỹ năng sống từ lứa tuổi nào? Đó chính lứa tuổi mầm non. Đây là thời điểm vàng để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Bởi vì lứa tuổi này đã và đang hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách con người Là giáo viên trực tiếp đứng lớp mẫu giáo bé 3 tuổi (Lứa tuổi đã qua giai đoạn khủng hoảng tuổi lên 3 nhưng cái tôi của trẻ còn rất cao. Trẻ thích làm theo ý mình và chưa chú ý nhiều đến xung quanh cũng như lời nói của người khác) tôi nhận thấy rằng ở lứa tuổi này việc giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ tự thay đổi hành vi của mình, tự phục vụ bản thân, học hỏi những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống như: Cảm ơn, xin lỗi hay tránh những điều nguy hiểm xung quanh trẻ. Hình thành cho trẻ năng lực để tự lựa chọn những giải pháp khác nhau để giải quyết tình huống, vì thế học phải hết sức gần gũi với cuộc sống, nội dung phải xuất phát từ chính nhu cầu và kinh nghiệm của trẻ, trẻ cần có điều kiện để cọ sát, tập tành, thực hành và áp dụng. Trẻ phải được hướng dẫn tỉ mỉ với các tình huống gần gũi trẻ gặp hàng ngày. Được sắm vai trong tình huống và được nói lên ý kiến của mình và được cô chỉnh sửa, chính xác lại cho trẻ biết và thích nghi, thể hiện cảm xúc, có khả năng hòa nhập. Đó chính là tiền đề gieo mầm hạt giống nhằm hình thành kỹ năng sống cho trẻ.
2/24 Song tôi thấy thực tế trẻ lớp tôi hoàn toàn chưa có những kỹ năng cơ bản ấy. Là giáo viên trực tiếp đứng lớp 3 tuổi tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để có một phương pháp truyền đạt đến trẻ những kỹ năng sống tốt nhất? và dạy dưới hình thức nào? Qua một thời gian tìm tòi nghiên cứu, nhận thức được sâu sắc, ý nghĩa vai trò quan trọng của các kỹ năng sống đối với sự phát triển của trẻ, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3- 4 tuổi ở trường mầm non”. 1.2. Mục đích của đề tài: Nhằm tìm ra một số biện pháp, hình thức để giúp trẻ làm quen với một số kỹ năng sống, nhằm phát huy nâng cao tính tích cực, năng động, sáng tạo, mạnh dạn, tự tin trong mọi hoạt động và mọi hoàn cảnh của trẻ, nhằm củng cố, rèn luyện cho trẻ những kỹ năng sống cơ bản thông qua các hoạt động. Ban đầu cho trẻ làm quen một cách nhẹ nhàng, trẻ được thoải mái, tự nhiên hoạt động không gò bó để việc làm quen với một số kỹ năng sống của trẻ đạt được kết quả tốt nhất. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: 34 trẻ lớp mẫu giáo bé 3-4 tuổi (Lớp C4 - Trường mầm non Phùng Khoang) 1.4. Phạm vi thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện trong năm học 2022 – 2023, bắt đầu từ tháng 8/ 2022 đến tháng 4/2023 1.5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu: 1.5.1. Nhiệm vụ: Với vai trò là một giáo viên mầm non tôi luôn thực hiên nghiêm túc chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ, quan tâm chăm sóc giáo dục trẻ theo đúng kế hoạch, không bớt xén chương trình. Do vậy nhiệm vụ chính của tôi là làm sao tìm ra biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ một cách phù hợp nhất như xây dựng kế hoạch theo từng tháng từ dễ đến khó và sử dụng các hình thức như: kể chuyện, đóng kịch, lồng ghép vào trong bài học một cách tốt nhất để đem đến cho trẻ niềm vui và sự hứng thú thông qua các hoạt động, tạo cho trẻ có niềm tin, kỹ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống. 1.5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp đàm thoại Phương pháp quan sát Phương pháp giảng giải 2. PHẦN NỘI DUNG 2.1. Cơ sở lý luận. Theo Unesco: Kỹ năng sống là năng lực của mỗi cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. kỹ năng sống gắn với bốn trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết; học làm người; học để khẳng định mình và học để chung sống. Kỹ năng sống chính là phương tiện không thể thiếu để giúp trẻ tăng năng lực hội nhập, tích cực, chủ động, sáng
3/24 tạo, mạnh dạn, tự tin vững vàng trước mọi khó khăn thử thách. Kỹ năng sống chính là chiếc chiều khóa vàng cho sự sống còn, sự phát triển và sự thành công của mỗi con người. Ở lứa tuổi mẫu giáo, kỹ năng sống chiếm một vị trí hết sức quan trọng nó góp phần giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách con người, giúp trẻ học tập, lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội để trẻ vận dụng trong cuộc sống sau này. Xã hội hiện đại, chất lượng cuộc sống được nâng cao và trẻ em được sống đầy đủ, được ăn ngon mặc đẹp… Tuy nhiên một thực tế đó chính là bởi vì được chăm lo như vậy nên trẻ dần mất đi tính tự lập do được bố mẹ bao bọc, nuông chiều. Trẻ trở nên ỷ lại, lười nhác và điều này sẽ khiến cho trẻ khi lớn lên không muốn phấn đấu và khó có thể tự lập. Bên cạnh đó khi công nghệ ngày càng phát triển, mạng xã hội trở nên thông dụng thì việc trao đổi thông tin bằng ngôn ngữ ngày càng kém đi. Ngay cả trong gia đình bố mẹ và con cái nhiều khi cũng rất ít trò chuyện với nhau và vô hình chung khiến trẻ cảm thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Trẻ không cảm thấy được tình cảm gia đình, tình yêu thương và lâu dần sẽ bị chai sạn về mặt tình cảm, dễ dẫn đến những tâm lý tiêu cực. Chính vì vậy mà dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non là việc làm cực kỳ cần thiết để trẻ có thể phát triển toàn diện về mọi mặt. Những kỹ năng sống sẽ giúp các em trở thành những công dân có ích, thực hiện tốt trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội góp phần phát triển đất nước trong tương lai Trẻ được giáo dục kỹ năng sống đúng cách không chỉ được trang bị những kỹ năng sống cơ bản mà còn phát triển được những kỹ năng cực kỳ quan trọng giúp tạo ra thành công cho trẻ trong cuộc đời. 2.2. Cơ sở thực tiễn: 2.2.1 Thực trạng của nhà trường: Trường mầm non Phùng Khoang là 1 trong 2 trường mầm non của Phường Trung Văn và là ngôi trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Trường có 17 lớp và, nên thuận lợi trong việc thực hiện nội dung xây dựng môi trường giáo dục sạch đẹp, an toàn thân thiện cho trẻ. Phòng học rộng rãi thuận lợi tổ chức các hoạt động Đội ngũ giáo viên 100% đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, yêu nghề, mến trẻ luôn nhiệt tình trong công tác giảng dạy. Phụ huynh đa số là công nhân nhà nước và buôn bán nhỏ. + 45 - 50% phụ huynh làm công nhân nhà nước + 20% buôn bán nhỏ lẻ + 25% - 30% phụ huynh ở nhà
4/24 Năm học 2022 – 2023 tôi được ban giám hiệu nhà trường phân công phụ trách lớp Mẫu giáo bé C4 (3 – 4 tuổi) với số trẻ 34 cháu trong đó: + Nam: 19 trẻ + Nữ: 15 trẻ Lớp có 2 cô giáo đều có trình độ đại học 2.2.1. Thuận lợi: Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục đào tạo cùng với sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà Trường đã thường xuyên quan tâm bồi dưỡng và nâng cao, chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên. Trẻ đi học chuyên cần, trẻ khỏe mạnh nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp. Bản thân là một giáo viên Mầm non tôi nắm vững chuyên môn, luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề ham học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Tôi có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy ở lứa tuổi 3- 4 tuổi tôi nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý thói quen của trẻ trong lớp. Được phụ huynh ủng hộ luôn quan tâm tới các con và thường xuyên trao đổi thông tin với các cô giáo. Là một giáo viên ở trường đã lâu nhưng tôi vẫn không ngừng học hỏi những kinh nghiệm thực tế, nên vẫn không tránh khỏi những khó khăn trong công tác giảng dạy. Vì thế, bên cạnh việc học hỏi các kinh nghiệm của các chị em trong trường mà tôi còn tìm tòi những kinh nghiệm qua sách báo, qua Internet và không ngừng học hỏi những kinh nghiệm của các trường bạn để tự trau dồi kiến thức cho mình từ đó có những biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 2.2.2 Khó khăn: Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công phụ trách lớp Mẫu giáo bé với tổng số là 34 cháu, trong đó có 19 bé trai và 15 bé gái Giáo viên và cả gia đình chưa xác định được các kỹ năng sống nào cần dạy cho trẻ ở lứa tuổi này Về phía các bậc cha mẹ, ông bà phần lớn luôn nóng vội trong việc dạy con! Đồng thời lại chiều chuộng con cái khiến trẻ không có kỹ năng tự phục vụ, làm hộ hết cho trẻ mà không dạy trẻ làm. Chỉ chú ý đến việc con có ăn được không chứ không cần biết con có tự xúc ăn không, không chú ý tới việc dạy con cháu các kỹ năng sống, nhất là kỹ năng tự phục vụ bản thân Trong lớp có hơn 20 trẻ chưa được học lớp nhà trẻ, 6 trẻ chậm nói, 4 trẻ tăng động giảm chú ý, nhiều trẻ không biết tự phục vụ được bản thân nên chưa có nề nếp. các cháu còn bỡ ngỡ và nhút nhát, khả năng tiếp thu bài chậm. Một số trẻ ngôn ngữ, vốn từ còn hạn chế, trẻ nói chưa đủ câu, nói còn ngọng, nói lắp, kỹ năng sống của trẻ còn nghèo nàn, trẻ chưa mạnh dạn, chưa biết cách xử lý một số tình huống
5/24 Năm học 2021 – 2022 do bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 nên hầu hết trẻ đều ở nhà với bố, mẹ, ông, bà, Trẻ không được tiếp xúc nhiều với thế giời bên ngoài, nên trẻ nhút nhát và chậm nói, kỹ năng tự phục vụ bản thân hầu như không có do được gia đình bao bọc, cưng chiều khiến trẻ quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh.. Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử... vì thế khi vào năm học 2022 – 2023 trẻ gần như không có kỹ sống phù hợp với lứa tuổi 2.2.3. Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài: Điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của trẻ trong lớp tôi cho kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài như sau: 2.2.3.1 Về phía trẻ: Đạt Chưa đạt Mức độ nội dung khảo sát Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Lượng % Lượng % 1.Kỹ năng giao tiếp, chào hỏi 6 17,6% 28 82,4% 2.Kỹ năng tự lập, tự phục vụ 5 14,7% 29 85,3% 3.Kỹ năng hợp tác 9 26,5% 21 73,5% 4.Trẻ mạnh dạn tự tin 7 20,5% 27 79,5% 5.Kỹ năng nhận thức 7 20,5% 27 79,5% 6.Kỹ năng vận động 9 26,5% 25 73,5% 7. Kỹ năng vệ sinh 8 23,5% 26 76,5% 2.2.3.2 Về phía giáo viên: Giáo viên còn chưa chú trọng đến việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Chưa mạnh dạn tự tin, chưa nhiệt tình trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ . Chưa phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 2.2.3.3 Về phía phụ huynh: - Đa số phụ huynh chưa có nhận thức đúng trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. - Phụ huynh còn nuông chiều trẻ thường làm thay cho trẻ những công việc của trẻ. Nhiều phụ huynh còn gợi ý để làm hộ cho trẻ mọi việc khi trẻ chưa muốn: Ví dụ: Nâng chân bé lên và tháo giày, dép cho trẻ... - Nhiều phụ huynh chưa có hành vi đúng đắn và lời nói mẫu mực. Bỏ mặc trẻ với điện thoại hay ti vi để rảnh việc cho mình Từ những tình hình và số liệu trên cho thấy kỹ năng sống và việc thực hiện kỹ năng sống của trẻ là rất thấp. Vì vậy mà tôi đã mạnh dạn tìm cách trang bị các kiến thức về kỹ năng sống và bền bỉ, tận tâm rèn luyện những kỹ năng sống cơ bản nhất cho trẻ lớp tôi thông qua đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non.”. Sau khi đã chọn đề tài tôi tổng hợp lại từng tiêu chí, cháu nào chưa đạt thì lập một danh sách riêng và có kế hoạch rèn trẻ thông qua các hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, giờ đón trả trẻ...
6/24 3. Những biện pháp thực hiện: Với mục tiêu tất cả trẻ trong lớp đều có các kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi: Trẻ biết chào hỏi, biết tự lập, tự phục vụ: tự xúc cơm ăn, tự uống nước, đi giày, dép... biết hợp tác với cô, với bạn trong các hoạt động. Trẻ có kỹ năng vận động đúng để tránh được tai nạn trong cuộc sống và vui chơi. Trẻ biết làm vệ sinh thân thể: Tự rửa tay, lau mặt, lau miệng,....Tôi đã thực hiện các biện pháp sau: 3.1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ: Ngay từ đầu năm học thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và thực tế của lớp, tôi đã xây dựng nôi dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như sau: THÁNG Nội dung kỹ năng sống Bài tập thực hành Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách bê ghế thân 8 Kỹ năng bảo vệ bản - Ai được quyền đón trẻ thân Kỹ năng giao tiếp xã hội - Chào hỏi lễ phép Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách rửa tay thân 9 Kỹ năng giao tiếp xã hội - Biết quan tâm, hỏi han, đoàn kết, chia sẻ với mọi người Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách sử dụng thìa thân 10 Kỹ năng bảo vệ bản Nếu có người không quen biết cho quà, thân bé sẽ làm thế nào? Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách lấy nước và uống nước thân 11 Kỹ năng bảo vệ bản - Nếu bé thấy khói hoặc cháy ở đâu đó, thân bé sẽ làm gì? Kỹ năng bảo vệ bản Nếu con ở trong nhà một mình nếu có thân người gọi mở cửa con sẽ làm gì? 12 Kỹ năng giao tiếp xã hội - Nói lời “cảm ơn” khi nhận được sự giúp đỡ Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách mặc áo, cởi áo thân 1 Kỹ năng bảo vệ bản - Nếu bạn đến nhà con chơi, nghịch dây thân điện đang cắm ở ổ bị điện giật con sẽ làm gì? Kỹ năng bảo vệ bản Nếu bé nghịch chẳng may bị bỏng bé thân phải làm gì? 2 Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách xúc miệng nước muối thân Kỹ năng bảo vệ bản Nếu bị lạm dụng, xâm hại thân thể, bé 3 thân phải làm gì?
7/24 Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách xử lý hỉ mũi thân Kỹ năng giao tiếp xã hội - Biết nhận lỗi và nói lời “xin lỗi” Kỹ năng tự phục vụ bản - Cách cầm dao, kéo, dĩa thân 4 Kỹ năng bảo vệ bản - Khi con bị lạc mẹ trong siêu thị, con thân sẽ làm gì? Qua việc lựa chọn sắp xếp 1 cách khoa học về kế hoạch giáo dục kỹ năng sống theo từng tháng cho trẻ tôi nhận thấy rất thuận lợi cho việc giáo dục và thông qua từng tháng phụ huynh cũng nắm được kế hoạch để phối kết hợp cùng cô giáo tại lớp dạy trẻ thêm trong cuộc sống hàng ngày ở nhà. 3.2. Bồi dưỡng bản thân, chia sẻ với đồng nghiệp. Ở trẻ lứa tuổi này chưa nhận thức được nguy cơ gây nguy hiểm cho trẻ khi trẻ tò mò, nghịch mà trẻ không biết đến tác hại của chúng: như nước sôi, các vật sắc nhọn, hột hạt, chun vòng, có thể làm trẻ bị thương, nguy hiểm đến tính mạng của trẻ. Từ đó tôi xây dựng những tình huống dựa trên các yếu tố trên để hướng dẫn trẻ tránh khỏi những yếu tố gây hại cho trẻ. Để có thể thực hiện tốt đề tài này giáo viên không chỉ nghiên cứu rõ mục đích yêu cầu của hoạt động, hiểu được tâm sinh lý của từng trẻ mà giáo viên còn cần phải nắm chắc được các phương pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó, áp đặt, giúp trẻ hiểu bài sâu và vận dụng những điều đã học vào thực tế hàng ngày của trẻ. Vì vậy, để giúp trẻ 3 - 4 tuổi lớp tôi có được những kỹ năng sống cơ bản đó thì sự nhiệt tình, sáng tạo và yêu nghề đòi hỏi tôi phải không ngừng đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non 3-4 tuổi.Vì vậy, để giúp trẻ 3-4 tuổi lớp tôi có được những kỹ năng sống cơ bản đó đòi hỏi tôi phải không ngừng đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non 3-4 tuổi. Tham gia các đợt kiến tập và các chương trình chuyên đề do phòng tổ chức. Tìm đọc tham khảo biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ trên sách báo, tạp chí mầm non, Trên chuyền hình, internet như: - Sách hướng dẫn các hoạt động phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ mầm non cho trẻ 3 tuổi. - Sách giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non (nhà xuất bản đại học quốc gia). - Sách bé thực hành các tình huống giáo dục kỹ năng sống dành cho trẻ mẫu giáo. - Sách các hoạt động phát triển kĩ năng xã hội dành cho trẻ mẫu giáo. - Xem các chương trình truyền hình như quà tặng cuộc sống, cuộc sống quanh ta trên các kênh truyền hình như VTV3 vào tối chủ nhật hàng tuần… - Trên kênh youtube hoạt hình dạy những kỹ năng sống cho trẻ mầm non Trên thực tế hiện nay ở trường chúng tôi, đội ngũ giáo viên còn chưa được đồng đều. Nhiều giáo viên đã có tuổi tuy nắm vững phương pháp nhưng
8/24 việc đổi mới thì còn hạn chế còn các cô giáo trẻ thì lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Qua kiểm tra, đánh giá đầu năm có rất nhiều trẻ còn chưa biết chào cô, chào khách, chưa có kỹ năng giao tiếp, chưa có kỹ năng tự phục vụ…Hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng chưa thực hiện tốt, chưa lồng ghép tích hợp vào các hoạt động, giáo viên hầu như không mấy để ý và đi sâu vào hoạt động này. Tôi nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng vì nó quyết định đến nhân cách của trẻ sau này. Chính vì vậy qua việc tự bồi dưỡng bản thân, học hỏi qua truyền thông, báo đài, tài liệu cũng như xem các phương tiện thông tin hiện đại, tôi đã nắm vững được các phương pháp để dạy trẻ một số kỹ năng cơ bản nhất. Nhận thấy đây là việc quan trọng và cần thiết đối với trẻ nên trong các buổi họp sinh hoạt chuyên môn của khối tôi chia sẻ với đồng nghiệp về các biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ. Để dạy trẻ được những kỹ năng sống thì việc đầu tiên cô giáo phải là tấm gương để trẻ soi vào, để trẻ học làm người. Chính vì vậy, không phương pháp nào hiệu quả bằng phương pháp “Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Những người dạy nội dung giá trị và kỹ năng sống càng cần là tấm gương mẫu mực về hành vi, lời ăn, tiếng nói, cách ứng sử, cách giải quyết vấn đề…Đây là những yêu cầu rất cao và đòi hỏi các cô giáo cũng luôn phải tự rèn luyện mình để công tác giáo dục trẻ hiệu quả hơn. Và tôi rút ra những điều mà giáo viên nên và không nên trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đó là: - Không nói dài và nói nhiều. Nói ngắn gọn, dễ hiểu - Luôn đặt câu hỏi và tạo tình huống để trẻ tự tìm tòi, phán đoán theo ý của mình, được nói lên suy nghĩ của bản thân, không mớm ý cho trẻ theo ý chủ quan của người lớn mà chỉ chính xác lại đáp án khi trẻ đã hiểu câu trả lời - Không vội vàng phê phán đúng, sai như một quan tòa mà kiên trì giúp trẻ giao tiếp với nhau, tự nhận thấy cái sai và giải quyết vấn đề. Sau đó cô sẽ kết luận lại giúp trẻ hiểu ra vấn đề Ví dụ: Khi cô nhìn thấy bé này đẩy bé khác cô nói với bé bị đẩy, nói một cách cương quyết, nhưng phải ôn tồn với bạn mình như: “Mình không thích bạn đẩy mình, cánh tay là để ôm nhau, không phải là để đẩy nhau”. Động viên trẻ có lỗi nhận lỗi và xin lỗi bạn - Không nên bắt trẻ hoạt động liên tục mà phải để dành thời gian và khoảng chống cho trẻ suy nghĩ. Luôn khuyến khích và động viên khen ngợi trẻ kịp thời Ví dụ: “Các con đã tự làm được, các con rất giỏi và rất xứng đáng nhận được một tràng pháo tay”. Điều này sẽ giúp cho trẻ tự tin hơn, dám tự tìm tòi và suy nghĩ, giám đưa ra ý kiến của mình. - Quả thật việc thay đổi nếp cũ là rất khó, nhưng tôi đã nhận ra những giá trị của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như: + Tin tưởng vào trẻ và năng lực của trẻ. Câu hỏi mở để cho trẻ phát biểu ý kiến mà người lớn trông đợi + Kiên nhẫn và có kỹ năng lắng nghe tốt. + Tôn trọng ý kiến của trẻ, không áp đặt ý kiến của mình lên trẻ.
9/24 + Biết sắp xếp phòng, nhóm lớp tạo bầu không khí hấp dẫn + Biết chủ động sử dụng các phương pháp giáo dục khác nhau. Tác động kịp thời khi trẻ bế tắc + Biết tạo bầu không khí trò chuyện sôi nổi. Vui vẻ, hòa đồng +Có những thủ thuật tạo hứng thú đưa trẻ vào hoạt động nhẹ nhàng mà hiệu quả. Trẻ học mà như đang chơi vậy 3.3. Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ: Cách giao tiếp không chỉ quan trọng trong những năm trẻ đi học mà còn rất quan trọng đối với cuộc sống sau này của trẻ. Kỹ năng giao tiếp là một kỹ năng nền tảng để giúp trẻ nhận biết giá trị sống và hình thành kỹ năng sống. Vì thế cần quan tâm và giúp trẻ một cách tự nhiên từng bước một trong suốt chiều dài phát triển nhân cách của trẻ. 3.3.1. Kỹ năng trẻ giao tiếp với bạn bè: Lớp học chính là một thế giới thu nhỏ của xã hội chúng ta ngày nay, là nơi đa văn hóa, đa tính cách và cũng đa sở thích. Mô hình này tạo cơ hội cho giáo viên có thể dạy cho trẻ học cách chấp nhận và có cơ hội để khám phá những sở thích, những mối quan tâm chung của nhau. Để giúp trẻ phát triển kỹ năng chơi với các trẻ khác tôi tạo môi trường cho trẻ giao tiếp với nhau và tạo tình huống cho trẻ tự giải quyết. Và tôi đưa ra tiêu chí không tranh giành đồ chơi với bạn. trong tiêu chí này tôi lên kế hoạch rèn cả lớp nói chung, cứ vào các buổi chiều bình bầu và nhận xét buổi chơi, tôi cho cả lớp nhận xét xem trong giờ chơi bạn nào còn tranh giành đồ chơi thì bạn đó sẽ không được cắm cờ, cuối tuần bạn nào có nhiều cờ sẽ được bé ngoan, ngoài ra trong các giờ chơi, giờ đón trả trẻ, trẻ nào có biểu hiện hành vi sai trái là tôi giải thích và sửa ngay cho trẻ, việc làm đó rất tốt đối với trẻ vì trẻ biết được điều gì nên làm và điều gì không nên làm và nhân cách sống của trẻ sẽ được phát triển toàn diện hơn. Môi trường giáo dục luôn an toàn, thân thiện thì sẽ tạo cho trẻ sự yên tâm, hưng phấn khi tham gia vào các hoạt động. Trong lớp học việc xây dựng các góc chơi cũng rất quan trọng khi trẻ tham gia vào các góc chơi cũng chính là lúc trẻ học cách giao tiếp với các bạn. Tên góc Cách giáo dục trẻ kỹ năng Góc bán hàng Dạy trẻ kỹ năng giao tiếp chào hỏi lịch sự. Hỏi khách muốn mua gì? Tư vấn cho khách chọn đồ… Góc bác sĩ Dạy trẻ kỹ năng giao tiếp ứng xử với bệnh nhân nhẹ nhàng, quan tâm, chăm sóc bệnh nhân. Dựa trên kinh nghiệm cá nhân chuẩn đoán bệnh và cách chữa trị… Góc xây dựng Dạy trẻ kỹ năng giao tiếp ứng xử, phân công sắp xếp công việc, đoàn kết cùng nhau xây những công trình.
10/24 Góc khám phá Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ mình tránh xa các vật dụng nguy hiểm như ấm nước nóng, bếp ga, dao, kéo… Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt bát, hiếu động nhưng cũng có những trẻ chậm chạp, thụ động hay quá nóng nảy… Vì thế giáo viên cần phải biết rõ tính cách của từng trẻ để có thể cho các trẻ chơi với những người bạn thích hợp với cá tính nhằm tránh sảy ra những va chạm về tính cách. Vì vậy trước khi chơi tôi thường cho trẻ đọc bài thơ: “Giờ chơi của bé” Giờ chơi đến rồi Chờ bạn cùng chơi Bạn lấy đồ chơi Cô thấy cô mừng Tôi ra trước nhé Cô khen ngoan thế. Ngoài ra tôi còn dạy trẻ “Giao tiếp” bằng mắt và nở một nụ cười thân thiện, tự nhiên. Dạy trẻ phải luôn luôn giữ lời hứa khiến cho buổi nói chuyện trở nên thật thoải mái thật chân thành khi tham gia những hoạt động vui chơi ở lớp. Và bản thân tôi cũng luôn phải giữ lời hứa với các con (Hình ảnh 1: Các bé lớp C2 giao tiếp với nhau trong khi chơi) 3.2.2. Kỹ năng trẻ chào hỏi khi giao tiếp với người lớn tuổi. Như ở phần đặt vấn đề tôi đã nêu các cháu hầu hết chưa có các kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng chào hỏi… lí do phụ huynh nhiều là lao động tự do và điều quan trọng họ chưa có khái niệm dạy kỹ năng cho trẻ, mà chủ yếu là nuông chiều với suy nghĩ đơn giản là trẻ nhỏ chưa biết gì, chiều nó chút cũng không sao. Nhưng điều đó sẽ tạo nên những hành vi và nhận thức sai lệch của trẻ mà dần dần sẽ biến thành thói quen khó thay đổi. Vì vậy đối với trẻ, người lớn cần tập cho trẻ những lời nói lễ phép và tự nhiên, không quá màu mè và hình thức, cũng không được phép cộc lốc và xuồng xã. Điều này trẻ sẽ học được một cách hiệu quả thông qua cách giao tiếp và ứng xử của bố, mẹ, người thân trong gia đình, cô giáo và người khác. Chúng ta sẽ không thể kiểm soát được khi người lớn trong gia đình nói năng thô lỗ và không có hành vi lịch sự tối thiểu. Trong xã hội hiện nay với công nghệ tiên tiến, phát triển không ngừng về mọi mặt, thì những kỹ năng giao tiếp, chào hỏi tối thiểu lại mất dần đi. Và tôi quyết định đưa kỹ năng chào hỏi và kỹ năng giao tiếp vào những giờ đón, trả trẻ: Ví dụ: Thời gian đầu trẻ chưa có kỹ năng chào hỏi và giao tiếp với cô cùng bạn bè, tôi chủ động chào trẻ trước “Cô chào Bảo Chân”, lúc đó có thể trẻ chưa biết đáp lại câu “Con chào cô ạ” Tôi sẽ nhắc các con chào cô và tôi nhắc trẻ con chào bố, mẹ đi để vào lớp với cô. Hoặc khi trẻ đang chơi mà có khách đến lớp tôi sẽ chào khách và nhắc trẻ “các con chào bác, bà… đi nào” cứ như vậy dần dần trẻ có thói quen chào cô, chào bố mẹ và chào khách, khi đến lớp, khi ra về. Còn với trẻ chưa có kỹ năng giao tiếp nhiều với cô, với bạn tôi thường xuyên gần gũi trẻ hơn, trò chuyện với trẻ nhiều hơn về những người thân của trẻ, về thế giới xung quanh từ đó trẻ sẽ mạnh dạn hơn khi tiếp xúc và giao tiếp với cô, với bạn bè và người khác. (Hình ảnh 2: Bé chào cô và chào bố mẹ. Phụ lục)
11/24 Ngoài ra tôi còn sưu tầm những bài thơ , câu truyện, bài hát có nội dung giáo dục về lễ giáo với nội dung cụ thể như: Bài thơ: Che mưa cho bạn, Phải là hai tay, Cảm ơn xin lỗi, và phô tô gửi cho phụ huynh để phụ huynh nắm được và giúp trẻ học thuộc các bài thơ đó. Qua đó giúp trẻ có những hành vi và kỹ năng tốt qua các bài thơ, câu truyện “Bà ốm, yêu bà, Thương ông, bó hoa tặng cô, bé mai đến trường…Tôi cũng tự sáng tác được một số bài thơ giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như bài thơ. “Bé ngoan” Bé thật là ngoan Chào các bạn yêu Mỗi khi đến lớp Đến lớp thật vui Bé khoanh tay chào Học bao nhiêu điều Chào cô chào mẹ Thích ơi là thích. Tôi còn cho trẻ tham gia trò chơi đóng vai để trải nghiệm những kỹ năng chào hỏi và giao tiếp. Tạo tình huống cụ thể để giúp trẻ giải quyết và chọn cách giao tiếp với người lớn cho phù hợp. 3.3. Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày: Rửa tay, lau mặt, vệ sinh cá nhân hay giúp cô các công việc đơn giản trong giờ ăn như: chia thìa, xắp xếp bát, khăn tại bàn ăn... 3.3.1. Giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động học. - Thông qua hoạt động làm quen văn học: Với hoạt động kể chuyện “Đôi bạn tốt”, hoạt động “đóng kịch cây tre trăm đốt”, Đóng kịch: “Vì sao thỏi cụt đuôi”. Tôi kể cho trẻ nghe, đặt câu hỏi đàm thoại để trẻ trả lời, Cho trẻ nhập vào vai các nhân vật trong câu truyện. giáo dục trẻ làm việc theo nhóm, không tham lam ích kỷ, biết lắng nghe ý kiến của người khác, tôn trọng hợp tác với bạn bè, với những người xung quanh. - Thông qua hoạt động nghệ thuật: Như nhảy múa, ca hát, vẽ tranh…Tôi sẽ kích thích trẻ bộc lộ những suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, khả năng tưởng tượng và sáng tạo của mình. Ví dụ: Trong tiết vận động múa minh họa cho bài hát “Múa cho mẹ xem”, trẻ không muốn tập múa. Cô: Con có yêu quý mẹ của mình không? À con yêu quý mẹ của mình, vậy cô và con cùng tập múa để về múa cho mẹ xem nhé. Từ những lời động viên khích lệ đó trẻ sẽ có hứng thú và tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong hoạt động để từ đó trẻ sẽ mạnh dạn, chủ động, tự tin trong những giờ hoạt động khác… ẢNH MÚA CHO MẸ XEM
12/24 Hình ảnh: Cô và trẻ múa vận động minh họa bài. Múa cho mẹ xem - Thông qua hoạt động khám phá xã hội: Qua bài tìm hiểu động vật sống trong rừng “Hổ, báo, cừu, khỉ, voi…” Trẻ biết đặc điểm riêng của từng con vật từ những câu hỏi cô đưa ra như: Các con có biết con voi có mấy chân và con voi sống ở đâu? Con voi thích ăn gì các con nhỉ?... Trẻ trả lời “thưa cô con voi thích ăn mía ạ” cứ như vậy trong một tiết học với hàng loạt câu hỏi cô đưa ra thì trẻ nào cũng được tham gia, với trẻ ít nói cô gọi nhiều và thường xuyên hơn, hướng dẫn trẻ nói từng từ với trẻ nói chưa tốt... - Thông qua hoạt động thể dục : Tôi cùng các giáo viên khác tổ chức cho trẻ các vận động như: Bò qua chướng ngại vật, đi trên ghế thể dục, Chuyền bóng, Bật qua vật cản, Nhảy từ độ cao 35-40cm, ném trúng đích thẳng đứng, Bò zíc zắc qua 5 điểm, Đi nối gót, …qua đó rèn cho trẻ các kỹ năng nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin, khéo léo khi tham gia vận động. biết bảo vệ sức khỏe. Hình ảnh: Các bé lớp 3 tuổi C2 trong giờ học thể dục. - Thông qua hoạt động làm quen với toán: Đề tài “Sắp xếp theo quy tắc” tôi sử dụng trò chơi gắn các dụng cụ của nghề sắp xếp theo quy tắc, đội nào gắn đúng nhanh đội đó sẽ chiến thắng. Như vậy buộc trẻ phải hợp tác mới hoàn thành bài tập. và trong giờ học nào tôi cũng sưu tầm những đồ dùng sáng tạo. Thông qua chủ đề gia đình tôi cho trẻ chia sẻ những thông tin về gia đình, cho trẻ kể về những thành viên trong gia đình mình, những việc mà trẻ
13/24 thường làm ở nhà, qua đó giáo dục trẻ kỹ năng giao tiếp, lắng nghe người khác nói, nói rõ ràng để bạn hiểu. 3.3.2. Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi. - Như chúng ta đã biết ở trẻ mẫu giáo hoạt động vui chơi giữ vai trò chủ đạo, thông qua hoạt động này bộc lộ rõ nét những hành vi tốt và không tốt. Vì vậy tôi luôn uốn nắn và sử sai ngay cho trẻ trong khi chơi đặc biệt qua các trò chơi ở góc phân vai. Ví dụ: Qua góc chơi “bán hàng” thông qua trò chơi này ngoài việc trẻ hiểu được công việc của người bán hàng và mua hàng trẻ còn phải biết thưa gửi lễ phép. Giai đoạn đầu trẻ còn chưa mạnh dạn trong khi chơi, tôi nhập vai làm người bán hàng khi cháu mua hàng tôi chủ động hỏi trẻ “Bác ơi bác mua thứ gì nào? Trẻ nói mua rau – trả tiền nè. Tôi phải sửa ngay cho trẻ. Khi mua hàng con phải hỏi bác ơi bao nhiêu tiền một mớ rau, bán cho tôi một mớ ạ, nếu trẻ đã biết thưa gửi lễ phép tôi sẽ gắn cho trẻ một bông hoa vào áo và cuối ngày nhận xét trước lớp. Với hình thức này các cháu rất thích. - Hay thông qua góc chơi tạo hình: Tôi thường xuyên sưu tầm những đồ dùng, những phế liệu, những lá cây khô, dây trang kim, nhũ màu, màu nước… để trẻ tự tạo nên những bức tranh, những con vật. Từ đó trẻ có những kỹ năng cầm kéo và cắt khóe léo, kỹ năng tô màu, kỹ năng vẽ, kỹ năng phân công công việc cho bạn trong nhóm mình. Ví dụ: Bạn tô màu này, tôi cắt hoặc xé cái kia… Hình ảnh: Các con chơi hoạt động góc ở góc tạo hình - Thông qua hoạt động vui chơi: Tôi đưa kỹ năng sống hợp tác cho trẻ. Ở độ tuổi này trẻ bắt đầu quan tâm đến bạn trong nhóm. Tình bạn ổn định bắt đầu nảy sinh. Chúng sẵn sàng chia sẻ với bạn và tình bạn trở nên quan trọng với trẻ. Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc khá khó đối với trẻ lứa tuổi này. Nhưng vì khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn. Nên ở kỹ năng này tôi sử dụng trò chơi để dạy trẻ:
14/24 Ví dụ: Ở trò chơi đóng vai. Cô sẽ hướng dẫn trẻ nhanh nhẹn nhất trong nhóm phân công công việc cho các bạn: Với góc chơi xây dựng trong chủ đề “Giao thông” trong khi xây dựng thì tất cả trẻ trong nhóm phải cùng nhau thảo luận, phân công công việc cho nhau và cùng làm công việc được giao cuối cùng trẻ hoàn thành công trình đã xây dựng. Đó là một cách hợp tác cùng làm việc Hình ảnh: Các con xây dựng “Ngã tư đường phố” Với hoạt động này tôi thường xuyên tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi như: Cô giáo, bác sỹ, xây dựng doanh trại, xây dựng ngã tư đường phố…Các trò chơi đóng kịch, Cây tre trăm đốt, Đôi bạn tốt, Quả bầu tiên, Vì sao thỏ cụt đuôi…Thông qua đó để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, bởi trong các trò chơi xã hội này trẻ sẽ được hình thành và phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo. 3.3.3. Giáo dục kỹ năng sống qua góc thực hành kỹ năng sống cho trẻ: Bên cạnh đó tôi còn xây dựng góc thực hành kỹ năng sống cho trẻ chơi thường xuyên như: Cách đóng mở cửa, lấy và uống nước, cách gắp bằng các loại kẹp, quét rác trên sàn, cách rót nước bằng bình lọ miệng tròn to, cách sâu dây qua các đối tượng có khuyết nhỏ, cách đan nong mốt (5 nan), cách tự tết tóc cho mình, cho bạn.
15/24 Hình ảnh : Trẻ tết tóc cho bạn và chơi góc thực hành kỹ năng sống - Đây là cơ hội tốt nhất để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy tôi đã thường xuyên tổ chức cho trẻ được tham gia học tập và vui chơi. 3.4. Biện Pháp 4: Giáo dục trẻ kỹ năng sống thông qua các hoạt động khác trong ngày: Ngoài hoạt động chung, hoạt động vui chơi ra tôi còn hướng dẫn dạy trẻ kỹ năng sống thông qua các hoạt động khác như: - Trong giờ đón trả trẻ: Tôi cùng các giáo viên khác trò chuyện với trẻ, giáo dục trẻ kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự cất giầy dép, ba lô đúng nơi quy định ngoài ra tôi còn dạy trẻ biết chào hỏi, biết nói lời xin lỗi, biết nói cảm ơi, không nói leo khi người khác nói, không tự tiện lấy đồ và sử dụng đồ của người khác… - Trong giờ thể dục sáng: Dưới sân trường tôi kết hợp kỹ năng đi lên, xuống cầu thang cho trẻ đi đúng theo bước chân, chân nào trước, chân nào sau, đi theo hàng lối, không chen lấn xô đẩy bạn… Hình ảnh: Kỹ năng đi cầu thang khi lên xuống sân trường thể dục sáng. - Trong giờ vệ sinh: Tôi dạy trẻ các kỹ năng tự phục vụ như: Rửa mặt, rửa tay bằng xà phòng, cách trải tóc, cách gấp quần áo và đi vệ sinh đúng nơi quy định…
16/24 Hình ảnh: Trẻ tự gấp quần áo, trẻ rửa tay trong giờ vệ sinh - Trong giờ ăn cũng vậy tôi cùng các giáo viên khác dạy trẻ những nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ những kỹ năng tự lao động phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự đi lấy bát thìa theo số lượng của tổ mình và biết được lần lượt ngày trực nhật của mình theo tổ, khi ăn, biết ăn uống lịch sự, không nói chuyện trong khi ăn, và chỉ ăn uống tại bàn ăn của mình, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, biết ăn hết xuất, không làm rơi vãi khi ăn, khi ăn nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, biết tự dọn, cất bát thìa đúng nơi quy định, biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn không làm ảnh hưởng đến người khác…. Ngoài ra trước những giờ ăn tôi thường lồng ghép các bài hát, bài thơ “Giờ ăn, và bài thơ “Bé ơi nhớ nhé” do tôi tự sáng tác: Dạy lồng ghép kỹ năng vệ sinh và giờ ăn cho trẻ. Hình ảnh: Các con tự phục vụ trong giờ ăn
17/24 -Trong giờ hoạt động ngoài trời: Tôi đưa kỹ năng sống tự tin: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi. Ví dụ: Cô tổ chức cho 2 đội chơi trò chơi “Kéo co” ở trò chơi này cháu thực hiện đúng luật chơi. Mỗi đội luôn tự tin mình sẽ chiến thắng và tìm mọi cách động viên khích lệ trong nhóm cố gắng có ý chí vươn lên. Hình ảnh: Trẻ chơi kéo co trong giờ hoạt động ngoài trời lớp C2. 3.5. Biện pháp 5: Dạy kỹ năng đơn giản cho trẻ đặc biệt - Đầu năm 2018 – 2019 khi nhà trường giao lớp với sĩ số là 30 trẻ trong đó có 2 trẻ bị tăng động giảm tập trung, 4 trẻ chậm nói, nhiều trẻ nhút nhát hay khóc. Nhiều trẻ chưa có kỹ năng tự phục vụ như xúc ăn hay uống nước bằng côc.... Các cháu nhận thức rất kém, hay khóc ăn vạ khi không vừa ý, Kỹ năng giao tiếp rất hạn chế….Đó quả là một khó khăn của lớp và qua sự quan tâm chăm sóc cháu một thời gian, đầu năm học, tôi và các đồng chí giáo viên trong lớp đã dần hiểu được những thói quen,ăn, ngủ, vệ sinh …Từ đó tôi đã quyết định đưa ra rèn một số kỹ năng và thói quen và ngôn ngữ đơn giản cho mỗi cháu - Thứ nhất: Tôi làm một cử chỉ, một tình huống nhiều lần ví dụ hướng dẫn trẻ đi lấy ghế tôi chỉ đây là ghế con bê ghế vào bàn và ngồi ăn cơm, đồng thời đưa tay trẻ đặt vào ghế để trẻ bê và dẫn trẻ vào bàn ăn, bằng hình thức đó tôi thường xuyên hướng dẫn trẻ cách bê ghế được lặp đi lặp lại nhiều lần trong mọi hoạt động khác nhau, dần trẻ đã hiểu được mệnh lệnh khi tôi sai trẻ đi kê ghế ngồi vào bàn và cất nghế. - Thứ hai: Khi ở nhà trẻ không tự xúc cơm ăn và đến lớp cũng vậy. Tôi dạy trẻ kỹ năng cầm thìa, đầu tiên trẻ không biết cách cầm thìa và không thể cầm thìa và xúc được tôi cầm tay của trẻ nắm vào thìa đồng thời khen bạn bên
18/24 cạnh xúc giởi, khuyến khích động viên trẻ làm giống ban, khen ngợi và thưởng cho trẻ khi trẻ có cố gắng, với tình yêu và lòng kiên trì của tôi và những giáo viên cùng lớp dần dần trẻ đã biết cách cầm thìa và đã biết tự xúc cơm ăn. - Thứ ba: Tôi dạy trẻ bằng các cử chỉ kết hợp với lời nói vào các công việc hàng ngày. Dạy từng câu nói đơn giản hay những từ đơn với trẻ chậm nói. Khuyến khích trẻ nói theo và giao tiếp với cô, với bạn - Thứ tư: Tôi và các giáo viên khác thường chơi với trẻ nhút nhát, những trẻ tăng động. Trò chơi tôi thấy hiệu quả nhất đó là trò chơi tung bóng cho cháu tung lại. lúc đầu khi tung bóng cho các cháu mắt các cháu nhíu lại sợ và tránh bóng, hoặc không để ý và tôi đã cầm tay cháu rồi tung lại cho cô giáo cứ như vậy chơi đi chơi lại nhiều lần trẻ đã biết tự tung lại cho cô và từ đó tôi lại đổi vị trí cho bạn khác tung lúc đầu cháu không tung lại cho bạn nhưng dưới sự chỉ dẫn nhẹ nhàng của cô giáo trẻ đã có phản hồi lại cho bạn của mình - Thứ năm: Hướng dẫn trẻ đi về sinh đúng nơi quy định. Cô dùng hình ảnh dán ở nơi vệ sinh và theo sát trẻ khi đi vệ sinh, nhắc các con liên tục và hướng dẫn cho các trẻ chưa có kỹ năng từng bước, nhiều lần trẻ sẽ có kỹ năng 3.6. Biện pháp 6: Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đưa vào các chủ đề. Để dạy kỹ năng sống cho trẻ đạt hiệu quả ngay từ đầu năm tôi đã phối hợp với giáo viên trong lớp xây dựng kế hoạch và thống nhất đưa vào các chủ đề, các hoạt động ở lớp, tùy thuộc vào từng chủ đề, từng thời điểm để lựa chọn nội dung tích hợp giáo dục kỹ năng sống để dạy trẻ cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao như: * Ở chủ đề: “Trường mầm non” Tôi đã lựa chọn kỹ năng giao tiếp như: Chào hỏi, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi, lễ phép với người lớn, tôn trọng bạn bè, vui vẻ thân thiện, lắng nghe ý kiến, chia sẻ thông tin, hòa thuận với các bạn, giúp đỡ bạn khi cần thiết, cùng bạn hoàn thành công việc… * Chủ đề gia đình: Tôi dạy trẻ những kỹ năng ứng sử phù hợp với những người gần gũi xung quanh: Lễ phép với người lớn, quan tâm nhường nhịn em nhỏ, giúp đỡ bố mẹ những việc vừa sức, biết trò chuyện lễ phép, thân mật, chơi vui vẻ với bạn, không quậy phá làm ồn, nhận biết và thể hiện cảm xúc, chia sẻ đồng cảm… - Dạy về bản thân, tôi lựa chọn kỹ năng tự phục vụ như: Tự mặc, cởi quần áo, cách sử dụng nhà vệ sinh đúng cách, vệ sinh cá nhân, cách ăn uống, mặc quần áo phù hợp với thời tiết, sống gọn gàng ngăn nắp. biết bảo vệ bản thân trước những tình huống nguy hiểm, không chơi những nơi mất vệ sinh, không nhận quà người lạ khi chưa được người thân cho phép, biết kêu cứu khi gặp nguy hiểm, biết một số thông tin về bản thân như, tên, tuổi, sở thích và nói rõ ràng, mạch lạc để bày tỏ cảm xúc, nhu cầu của bản thân. * Ở chủ đề: “Nghề nghiệp” Ở chủ đề này tôi thường lồng ghép các bài thơ câu đố để trẻ hiểu ý nghĩa của các nghề từ đó trẻ biết tuân thủ sự phân
19/24 công, phối hợp với bạn bè để hoàn thành công việc chung, khả năng sáng tạo, diễn tả ý tưởng, kỹ năng sử lý tình huống. Ví dụ: Khi tổ chức một tiết học âm nhạc với bài dạy vận động múa minh họa cho bài hát “ Chú bộ đội” tôi tổ chức cho trẻ dưới hình thức làm đồ dùng minh họa cho bài hát như súng để vác trên vai như chú bộ đội, mũ tai bèo để trẻ đội…Từ đó trẻ có ước mơ về nghề trong tương lai, yêu thích các nghề của bố mẹ. Hình ảnh: Các con mặc trang phục, vận động múa minh họa bài “ Chú bộ đội” *Chủ đề: “phương tiện giao thông” Dạy trẻ kỹ năng tuân thủ một số quy định giao thông khi đi trên đường, những hành vi văn hóa nơi công cộng như: Đi nhẹ, nói khẽ, không chen lấn xô đẩy nhau…Không chạy qua đường khi có xe (Thông qua chuyện: Vì sao thỏ cụt đuôi) * Chủ đề: “Tết và mùa xuân” Dạy trẻ kỹ năng giao tiếp, lịch sự, lễ phép, yêu thiên nhiên, trồng và chăm sóc cây xanh, bảo vệ môi trường. * Chủ đề: “Quê hương - đất nước” Dạy trẻ kính yêu Bác Hồ, quan tâm đến những di tích lịch sử, địa danh, cảnh đẹp, lễ hội của quê hương, đất nước, giữ gìn bảo vệ môi trường. 3.7. Biện pháp 7. Tuyên truyền, phối kết hợp với các bậc phụ huynh cùng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Hiểu rõ được vai trò của các bậc phụ huynh cũng góp phần không nhỏ trong việc giáo dục các kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy ngay từ đầu năm khi tổ chức họp phụ huynh tôi đã đưa sáng kiến và ý tưởng về ý nghĩa giáo dục kỹ năng sống của mình áp dụng vào trẻ. Và thống nhất với các phụ huynh về những biện pháp giáo dục ở nhà và chúng tôi trao đổi với phụ huynh (Nhóm kín của các phụ huynh và giáo viên trên Zalo) những thay đổi của trẻ, những tiêu chí nào trẻ đã thực hiện được và làm được hay chưa làm được, còn những tiêu chí nào chưa làm được để cùng bàn luận và cùng uốn nắn trẻ ngay và kịp thời. Đặc biệt những phụ huynh ít quan tâm đến con cái, tôi tìm cách để gặp
20/24 trực tiếp và trao đổi về thành tích học tập của cháu ở lớp và đồng thời hỏi thăm về nề nếp sinh hoạt, sở thích…của cháu ở nhà. Với việc làm kiên trì đó tôi đã tác động việc học của cháu ở lớp cũng như việc rèn nề nếp ở nhà, vì tôi thấy rằng một số trẻ có khó khăn trong việc kết bạn hoặc chia sẻ với bạn trong nhóm lớp lại có thể hình thành mối liên kết thân thiết mới trong môi trường gia đình của trẻ. Chính vì vậy cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng cảm xúc bằng cách tạo các mối liên kết bạn bè tại gia đình, cha mẹ nên cho trẻ giao lưu với các bạn nhiều hơn. Cho trẻ cơ hội được trải nghiệm, được tự làm Ví dụ: Một số kỹ năng phối hợp cùng cô giáo dạy trẻ kỹ năng cất dép, kỹ năng cất quần áo. Vậy muốn trẻ làm tốt được những kỹ năng này tôi phối hợp với phụ huynh hướng dẫn và quan sát trẻ khi con ở nhà. Cha mẹ cần có niềm tin với sự hướng dẫn của giáo viên và năng khiếu bẩm sinh của trẻ bên cạnh đó cha mẹ cần dạy trẻ từ từ để trẻ hiểu và cha mẹ chính là tấm gương sáng để trẻ noi theo Vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đạt kết quả tốt thì phải biết kết hợp hài hòa các biện pháp trên và không thể thiếu một trong những biện pháp đó. Bên cạnh đó là ý thức trách nhiệm và tình yêu thương của cô giáo đối với trẻ. 4. Kết quả đạt được. Như vậy, qua một kỳ học đi sâu và thực hiện nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ đã giúp tôi đạt được kết quả rất tốt và tiến hành đề tài dạy kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi tôi đã rút ra những kinh nghiệm sử dụng các biện pháp tích cực phù hợp để nâng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và điều đó đã cho được những kết quả sau. 4. 1. Về phía giáo viên. - Tự tin, sáng tạo hơn trong việc dạy kỹ năng sống cho trẻ - Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, tạo uy tín tiềm năng đối với phụ huynh và với trẻ, được phụ huynh tín nhiệm. - Mạnh dạn giám nghĩ, giám làm, khắc phục mọi khó khăn để giúp trẻ có được những kỹ năng sống ngay từ khi còn nhỏ. 4.2. Đối với phụ huynh: - Phụ huynh thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc dạy trẻ các kỹ năng sống, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức thông qua bảng thông tin dành cho phụ huynh, bảng đánh giá trẻ ở lớp - Giao tiếp giữa cha mẹ và con cái đã gần gũi thường xuyên chia sẻ với con hơn, ít la mắng trẻ, phân việc cho trẻ, hướng dẫn trẻ tự làm những công việc phục vụ bản thân như: Trẻ tự đeo ba lô, tự vào lớp... - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được và đã có sự quan tâm bằng việc ủng hộ giáo viên những nguyên vật liệu để giáo viên và trẻ làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ ở lớp... 4.3. Về phía trẻ. - 27/30 trẻ đạt 90% trẻ đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích, khơi dậy tính tò mò, phát triển trí tưởng tượng và óc sáng tạo, năng động, mạnh dạn, tự tin.
21/24 - 28/30 trẻ đạt 93% trẻ có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập, nhận thức, kỹ năng vận động thô, vận động tinh thông qua các hoạt động hàng ngày trong cuộc sống của trẻ. - 29/30 trẻ đạt 96,6% trẻ được rèn luyện kỹ năng xã hội, kỹ năng về cảm xúc, giao tiếp, chung sống hòa bình, và tuyệt đối không sảy ra xúc phạm và bạo hành trẻ - 100% trẻ được giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, được bảo vệ sức khỏe, được bảo đảm an toàn, phòng bệnh, được theo dõi cân đo. - Trẻ đi học đều hơn, đạt tỷ lệ chuyên cần từ 90% trở lên và ít gặp khó khăn khi đến lớp, có kỹ năng lao động tự phục vụ, trực nhật, sắp xếp bàn ăn, tự chuẩn bị khăn và số lượng bát trong nhóm...Biết cất ghế, kê bàn, trải chiếu, gấp chăn, xếp gối, quét nhà...... - 28/30 trẻ đạt 93% trẻ luôn có kết quả tốt trong học tập thông qua bảng đánh giá ở lớp sau mỗi giai đoạn và cuối độ tuổi, qua kểm tra đánh giá chất lượng sau mỗi tiêu chí, đối với trẻ như sau. 2. Bảng kết quả so sánh có đối chứng. Đầu năm Cuối năm Mức độ nội dung khảo Số trẻ/ Tỷ lệ Số trẻ/ Tỷ lệ sát Tổng số % Tổng số % 1.Kỹ năng giao tiếp, chào 10/30 33% 27/30 90% hỏi 2. Kỹ năng tự lập, tự phục 6/30 20% 28/30 93,3% vụ. 2.Kỹ năng hợp tác, 9/30 30% 29/30 96,6% 4. Trẻ mạnh dạn tự tin 7/30 23,3% 28/30 93,3% 5. Kỹ năng nhận thức 8/30 26,6% 28/30 93,3% 6. Kỹ năng vận động 10/30 33% 30/30 100% 7. Kỹ năng vệ sinh 9/30 30% 29/30 96,6% PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận Tóm lại qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số kinh nghiệm dạy kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi” lớp 3 tuổi. Với những biện pháp nêu trên đã giúp tôi xác định được rõ mục tiêu và tầm quan trọng, giúp tôi có phương pháp tốt hơn, sáng tạo hơn, tích cực hơn, hứng thú hơn khi tham gia học tập, rèn luyện. Cũng từ đó tư duy sáng tạo của các cháu được phát triển một cách toàn diện hơn. Để thực hiện tốt được việc này người giáo viên phải luôn tìm tòi, bồi dưỡng bản thân, chia sẻ với đồng nghiệp. Phải chú ý đến việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày. Giáo viên phải xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lồng ghép vào các chủ đề, sự kiện trong tháng. Phải tuyên truyền phối kết hợp với các bậc phụ huynh cùng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Luôn phải tạo điều kiện cho trẻ được trực tiếp hoạt động, tự tìm tòi
22/24 cách thực hiện nhiệm vụ. Cô quan sát và gợi ý trẻ thực hiện theo ý tưởng của trẻ. Có như vậy trẻ mới có được kỹ năng thành thạo trong mọi hoạt động 2. Khuyến nghị. - Sau khi thực thực hiện đề tài tôi xin đóng góp một số ý kiến như sau: - Để thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ, tôi mong được sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, các đồng nghiệp giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như tạo điều kiện để tôi được học hỏi kinh nghiệm của trường bạn. - Đối với nhà trường: + Mua sắm thêm đồ dùng, đồ chơi trang thiết bị học tập và vui chơi cho cô và trẻ như: Tủ cá nhân cho trẻ, Đồ dùng làm vườn chăm sóc cây cho trẻ... + Mua thêm nguyên vật liệu và đồ dùng phục vụ cho việc giáo dục kỹ năng sống như: Chổi nhỏ cho trẻ, Xe đạp, ô tô cho trẻ, Cây giống,... - Đối với Phòng giáo dục: + Thường xuyên xây dựng kiến tập dự giờ chuyên đề kỹ năng sống (kỹ năng tự phục vụ) để tạo điều kiện cho giáo viên học tập và nâng cao trình độ chuyên môn hơn nữa Trên đây là “Một số kinh nghiệm dạy kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi” của tôi, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp để tôi ngày càng thực hiện đề tài được tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn! Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. PHẦN IV.TÀI LIỆU KHAM KHẢO Hướng dẫn và gợi ý thực hiện chượng trình chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi Nhà xuất bản Giáo dục Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên: Chu kỳ II năm 2004 - 2007 của nhiệm vụ giáo dục mầm non. Tài liệu bồi dưỡng cho cán bộ và giáo viên mầm non. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non: Năm 2003 của nhà xuất bản Đại học sư phạm Tài liệu: “Đào tạo bồi dưỡng cán bộ theo đề án 94” Chuyên đề: Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm của trường Đại học thủ đô Hà Nội Những bài dạy kỹ năng sống trên truyền hình và Youtube
23/24
Search
Read the Text Version
- 1 - 27
Pages: