cách cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu. 3. Tóm tắt: Ông Sáu đi kháng chiến, khi có dịp trở lại thăm nhà thì con gái đã lên tám tuổi. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong bức ảnh chụp chung với má mà bé Thu đã biết. Đến khi em nhận ra cha thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Vào khu căn cứ, nhớ lời con, ông Sáu đã làm được một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con nhưng ông đã bị hi sinh trong một trận càn. Trước khi nhắm mắt, ông chỉ còn kịp trao cây lược cho một người bạn. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Chiếc lược ngà (1966) là một trong những truyện ngắn xuất sắc thời kì chống Mĩ. Với một tình huống độc đáo, câu chuyện cảm động về tình cha con đã phản ánh sâu sắc tình cảm con người trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Đoạn trích từ \"Các bạn! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy...\" cho đến \"Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.\" thể hiện rõ chủ đề tư tưởng cũng như những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng được một cốt truyện đầy tính bất ngờ, có sức cuốn hút người đọc. Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chưa đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như trong bức ảnh chụp ngày cưới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh. Những sự việc chính của câu chuyện trong đoạn trích là như vậy. Nhưng độ căng và tính bất ngờ của nó chỉ được đẩy lên đỉnh điểm khi trong từng sự việc tác giả đã miêu tả những diễn biến tâm lí của nhân vật một cách tinh tế, sinh động. Tình cha con sâu nặng bộc lộ trong những tình huống éo le, ngặt nghèo của bom đạn chiến tranh. Bản thân cốt truyện của đoạn trích Chiếc lược ngà đã có giá trị tố cáo tội ác chiến tranh đối với cuộc sống con người. Cha con tám năm trời không gặp nhau là do chiến tranh. Vết thẹo làm biến dạng khuôn mặt anh Sáu, khiến con bé không nhận ra ba là do chiến tranh. Và thật đau xót, người cha chưa kịp trao cho đứa con hết mực yêu thương của mình kỉ vật như lời hứa thì chiến tranh đã cướp đi sinh mạng anh. Tuy nhiên, cái mà tác giả tập trung thể hiện là những con người, là nhân vật. Tác giả đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc xây dựng nhân vật một bé gái tám tuổi bướng bỉnh và gan góc. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một ngư- ời ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày cưới. Nó nhất quyết không chịu nhận ba, không gọi ba vì thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn người cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má. Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Chi tiết gọi \"trổng\" và chi tiết chắt nước cơm đã khắc hoạ nổi bật sự đáo để hồn nhiên của bé Thu. Đặc biệt là chi tiết bé Thu hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, tưởng đâu \"con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm\". Đành 51
rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, nhưng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bướng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu. Nhưng lẽ nào ở bé Thu chỉ là sự bướng bỉnh, gan góc đến đáo để? Không hề giản đơn như vậy, trong buổi sáng cha nó lên đường: \"Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.\" Cho đến khi nghe tiếng kêu thét lên: \"- Ba.. a... a...ba!\" thì mọi người mới vỡ lẽ ra rằng nó thèm đợc gọi ba như thế nào, \"Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng \"ba\" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng \"ba\" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.\". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi \"ba\" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha. Người đọc sẽ nhớ mãi hình ảnh một người cha, người cán bộ cách mạng xúc động dang hai tay chờ đón đứa con gái bé bỏng duy nhất của mình ùa vào lòng sau tám năm xa cách. Mong mỏi ngày trở về, nóng lòng được nhìn thấy con, được nghe tiếng gọi \"ba\" thân thương từ con, anh Sáu thực sự bị rơi vào sự hụt hẫng: \"anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy\". Mong mỏi bao nhiêu thì đau đớn bấy nhiêu. Anh cũng không ngờ rằng chính bom đạn chiến tranh vừa là nguyên nhân gián tiếp, vừa là nguyên nhân trực tiếp của nỗi đau đớn ấy. Tám năm xa vợ xa con, ở nhà được ba ngày rồi lại lên đờng, và ra đi mãi... Ba ngày anh được ở nhà anh chẳng đi đâu xa, để được gần gũi, vỗ về bù đắp những ngày xa con. Lòng người cha ấy đau đớn biết nhường nào khi đứa con là máu mủ của mình gọi mình bằng \"người ta\": \"Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi\". Cử chỉ gắp từng miếng trứng cá cho con cho thấy anh Sáu là người sống tình cảm, sẵn sàng dành cho con tất cả những gì tốt đẹp nhất. Và chao ôi là hình ảnh hai đôi mắt của hai cha con trong thời khắc chia xa: \"Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao\". Người cha ấy sẽ ra đi khi chua được gọi bằng \"ba\" lấy một lần. Đến tận giây phút cuối cùng, khi không còn thời gian để chăm sóc vỗ về nữa, anh mới thực sự được làm cha. Đó là sự thiệt thòi, là sự hi sinh không thể xem là nhỏ của người chiến sĩ cách mạng. Dầu sau này anh Sáu có hi sinh cả tính mạng của mình. Câu chuyện được kể từ ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng \"tôi\" có mặt và chứng kiến toàn bộ câu chuyện giữa cha con anh Sáu. Đoạn trích bắt đầu với hình ảnh chiếc lược ngà, khép lại cũng với hình ảnh chiếc lược ngà. Người kể chuyện kể lại câu chuyện cảm động đã xảy ra, khi anh còn chưa thực hiện được ý nguyện cuối cùng của anh Sáu trước lúc hi sinh: trao lại tận tay con gái kỉ vật của người cha. Người cha ấy đã vui mừng \"hớn hở như trẻ được quà\" khi kiếm được khúc ngà để làm lược tặng con gái như lời hứa lúc ra đi. Anh \"cưa từng 52
chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc.[...] anh gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: \"Yêu nhớ tặng Thu con của ba\"\". Nơi rừng sâu, tất cả nỗi nhớ, tình thương yêu con của anh dồn cả vào công việc ấy, chiếc lược ấy. Người cha nâng niu chiếc lược ngà, ngắm nghía nó, mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt, \"Cây lược ngà ấy chưa chải lược mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh\". Chiếc lược ngà như là biểu tượng của tình thương yêu, săn sóc của người cha dành cho con gái, cho dù đến khi không còn nữa anh chưa một lần được chải tóc cho con. Người kể chuyện, đồng đội của ông Sáu đã bộc lộ một sự đồng cảm và xúc động thực sự khi kể lại câu chuyện. Có lẽ, không ai hiểu nhau hơn những người đồng đội, gần nhau hơn những người đồng đội. Cho nên, sau này, khi trao tận tay Thu chiếc lược , giữa thu và người đồng đội của cha mình nảy nở một tình cảm giống như tình cha con. Đoạn trích Chiếc lược ngà đã đạt được giá trị sâu sắc cả về nội dung và hình thức biểu đạt. Hình tợng chiếc lược ngà và câu chuyện giữa hai cha con người cán bộ cách mạng sẽ còn gây được xúc động lâu bền trong lòng người đọc. CỐ HƯƠNG (Lỗ Tấn) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Lỗ Tấn (1881-1936) là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, lúc nhỏ tên là Chu Chương Thọ, tên chữ là Dự Tài, sau đổi là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Sinh trưởng trong một gia đình quan lại sa sút, mẹ xuất thân là nông dân nên từ nhỏ ông đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với đời sống nông thôn. Từ lúc còn trẻ, ông đã từ giã gia đình, quyết tâm đi tìm con đường lập thân mới, khác với những thanh niên cùng quê đương thời. Ông từng qua học ngành hàng hải, địa chất rồi y học, sau mới chuyển sang văn chương vì nghĩ rằng văn học là vũ khí lợi hại để \"biến đổi tinh thần\" dân chúng đang ở tình trạng \"ngu muội\" và \"hèn nhát\". Công trình nghiên cứu và tác phẩm văn chương của Lỗ Tán rất đồ sộ và đa dạng, trong đó có 17 tập tạp văn và hai tập truyện ngắn xuất sắc là Gào thét (1923) và Bàng hoàng (1926). - Niên Phổ Lỗ Tấn (trích phần có liên quan với Cố hương) 1989: Đến Nam Kinh (thủ phủ tỉnh Giang Tô, tỉnh kề liền với tỉnh Chiết Giang là quê của Lỗ Tấn) thi vào Giang Nam thủy sư học đường (một loại trường hàng hải). 1899: Chuyển sang học trường Khoáng lộ học đường (một loại trường địa chất). 1902: Tốt nghiệp Khoáng lộ học đường. Được cử đi du học ở Nhật Bản. 1906: Về nước, vâng lời mẹ kết hôn với một cô gái họ Chu ở Sơn Âm, cùng quê ở phủ Thiệu Hưng (Chiết Giang). Lại sang Nhật Bản. 1909: Về nước - Dạy lí, hóa ở trường Sư phạm Chiết Giang. 1910: Làm giáo vụ kiêm giáo viên trường trung học Thiệu Hưng. 1910: Làm hiệu trường trường Sư phạm Thiệu Hưng. 1912: Lên Nam Kinh làm ở Bộ Giáo dục. Sau đó, lên Bắc Kinh. 1919: Về Thiệu Hưng đưa mẹ và em là Chu Kiến Nhân lên Bắc Kinh (theo Trương 53
Chính, Lỗ Tấn, NXB Văn hóa, 1977). - Một số ý kiến của Lỗ Tấn về văn học \"Mỗi khi chọn đề tài, tôi đều chọn những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật, với mục đích là lôi hết bệnh tật của họ ra, làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa...\". \"Việc tôi tả đại để là những cái tôi từng trông thấy hoặc nghe thấy ít nhiều, nhưng tôi quyết không dùng hoàn toàn sự thực đó, chỉ chọn một ít, rồi thay đổi đi, hoặc phát triển thêm, cho đến khi có thể gần như hoàn toàn diễn được ý định của tôi mới thôi\" (Vì sao tôi viết tiểu thuyết, Trương Chính dịch). \"Dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng chăng nữa, cũng chỉ có thể làm thứ người mà người đưa ta đưa ra chém đầu thị chúng(1) và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà thôi.. Cho nên, điều chúng ta cần phải làm trước là biến đổi tinh thần họ, và theo tôi hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ...\" (Tựa viết lấy cho tập Gào thét, Trương Chính dịch). - Lỗ Tấn và cách mạng \"Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào của Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ: Hoành mi lãnh đối thiên phu chi Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu. Xin tạm dịch là: Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ Cúi đầu làm ngự các nhi đồng. Nghìn lực sĩ có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mĩ. Cũng có nghĩa là sự khó khăn gian khổ. Các nhi đồng nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích nước lợi dân\" (Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, 1961, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6). \"Thời đại người Trung Quốc làm nô lệ hoặc muốn làm nô lệ mà không được mà Lỗ Tấn từng nguyền rủa đã qua lâu rồi, con cháu của Nhuận Thổ, Tường Lâm đã trở thành người chủ quốc gia, người xây dựng cuộc sống mới\". ... \"Lỗ Tấn từng nói: trên mặt đất vốn không có đường, đường là do con người giẫm nát chỗ không có đường mà tạo ra, là khai phá chỗ gai góc mà có... Bất kể gặp bao nhiêu gian nan trắc trở, chúng ta cần bước tiếp, kiên định không nao núng. Trong sự nghiệp vĩ đại xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, hãy đứng vững trên đất, gạt bỏ hết chông gai, tinh thần phấn chấn, đoàn kết phấn đấu, không ngừng tìm tòi và sáng tạo. Đó chính là cách kỉ niệm Lỗ Tấn hay nhất\" (Tư liệu văn học 8, NXB Giáo dục, 2002). 2. Tác phẩm: Cố hương là một trong số các truyện ngắn tiêu biểu nhất của nhà văn Lỗ Tấn, được in trong tập \"Gào thét\" (1923). Trong truyện, tác giả phê phán sự sa sút của nông thôn phong kiến chủ yếu thông qua hai nhân vật Nhuận Thổ và Hai Dương. Niềm hi vọng được gửi gắm vào hình tượng hai cháu bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Câu chuyện về chuyến từ biệt làng quê được kể từ nhân vật Tấn - xưng (1) Thị chúng: Đem ra cho mọi người thấy, mọi người biết. Đây là một thủ đoạn hăm dọa của bọn thống trị ngày xưa. 54
\"tôi\". Câu chuyện thấm đẫm những trạng thái cảm xúc buồn vui của \"tôi\", đồng thời thể hiện một quan điểm mới về cuộc sống qua những chiêm nghiệm, suy ngẫm giàu tính triết lí của nhân vật này. 3. Tóm tắt: Nhân vật \"tôi\" về thăm quê. Làng quê hiện lên trong kí ức đẹp hơn làng quê thực tại. \"Tôi\" về mới biết mẹ sắp dọn nhà. Nhân vật \"tôi\" gặp thím Hai Dương, rồi gặp lại Nhuận Thổ - người bạn từ hai mươi năm trước, bây giờ tiều tuỵ vì túng bấn, đông con. Gia đình \"tôi\" rời làng, nhân vật \"tôi\" nghĩ về con đường xã hội tương lai. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Đọc truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn, ta bắt gặp một nỗi thất vọng trước sự sa sút, suy tàn của làng quê phong kiến, lễ giáo phong kiến và niềm hi vọng thiết tha vào một cuộc sống mới, vào tương lai của thế hệ trẻ. Có thể hình dung bố cục của truyện thành ba phần. - Phần đầu là hành trình trở về làng quê của nhân vật \"tôi\" (Tấn) - người kể chuyện (từ đầu cho đến \"đang làm ăn sinh sống\"). - Phần giữa là những ngày \"tôi\" ở làng quê để từ biệt (từ \"Tinh mơ sáng hôm sau\" cho đến \"xấu tốt đều mang đi sạch trơn như quét.\"). - Phần cuối là \"tôi\" và gia đình trên đường ra đi (từ \"Thuyền chúng tôi thẳng tiến\" cho đến hết). Tác giả phản ánh từ đó phê phán sự sa sút của nông thôn phong kiến chủ yếu thông qua hai nhân vật Nhuận Thổ và Hai Dương. Niềm hi vọng được gửi gắm vào hình tượng hai cháu bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Câu chuyện về chuyến từ biệt làng quê được kể từ nhân vật Tấn - xưng \"tôi\". Câu chuyện thấm đẫm những trạng thái cảm xúc buồn vui của \"tôi\", đồng thời thể hiện một quan điểm mới về cuộc sống qua những chiêm nghiệm, suy ngẫm giàu tính triết lí của nhân vật này. Không phải khi gặp lại và chứng kiến những thay đổi của Nhuận Thổ nên Tấn mới buồn mà cái buồn đã bao trùm ngay từ đầu truyện, trong chặng đường trở về quê hương. Có vẻ buồn của một người trở về \"vĩnh biệt ngôi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu, đem gia đình đến nơi đất khách\", song nỗi buồn trĩu nặng tâm can là nỗi buồn trước cảnh làng quê: \"thôn xóm tiêu điều, hoang vắng, nằm im lìm dưới vòm trời vàng úa\". Khung cảnh ấy làm dấy lên nỗi nghi hoặc thầm dự cảm về những chuyện buồn rồi đây sẽ gặp ở quê hương: \"hẳn làng cũ của mình vốn chỉ như thế kia thôi, tuy cha tiến bộ hơn xa, nhưng cũng vị tất đến nỗi thê lương như mình tưởng. Chẳng qua là tâm mình đã đổi khác...\". Sự tương phản giữa \"tôi\" xa và tôi \"nay\" trong cảm nhận còn xuyên suốt thiên truyện. Có thể thấy sự thay đổi sa sút của quê hương \"tôi\" ở sự biến dạng của Nhuận Thổ. Tác giả tạo ra sự tương phản trong thời gian quá khứ và hiện tại để lột tả những thay đổi đáng buồn của Nhuận Thổ, người đã từng là bạn với Tấn từ thủa thiếu thời. Trong kí ức \"tôi\" sống dậy những hình ảnh tuyệt đẹp của quá khứ thần tiên hơn hai mươi năm trước, trong đó nổi bật hình ảnh một Nhuận Thổ khoẻ khoắn, lanh lợi \"cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba\", \"nước da bánh mật\" với biết bao chuyện lạ, bao điều kì thú. Đối lập với một Nhuận Thổ hiện tại già nua, thô kệch, nặng nề, da dẻ \"vàng xạm, lại có thêm những nếp nhăn sâu hoắm\". Nhuận Thổ bây giờ sống trong một tình cảnh bi đát: \"Con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đoạ thân anh khiến anh trở thành đần độn, mụ mẫm đi!\". Khi xa, lúc hai người bạn phải chia tay: \"Lòng tôi xốn xang, tôi khóc to lên\", Nhuận Thổ 55
\"cũng khóc mà không chịu về\". Bây giờ gặp lại bạn cũ Nhuận Thổ \"Bẩm ông!\" khiến Tấn điếng người và cảm thấy đã có \"một bức tường khá dày ngăn cách\". Bức tường ngăn cách ấy khiến người khổ không thể giãi bày, người sướng hơn không thể chia sẻ. Cuộc sống buồn thảm, con người buồn thảm, tình bạn cũng buồn thảm! Duy chỉ có vẻ chân thật trong Nhuận Thổ là thoát đợc sự sa sút, biến dạng: \"Ngày đông tháng giá, chẳng có gì. Đây chỉ là ít đậu xanh của nhà phơi khô, xin ông...\". Giá như không có cái điệu bộ khúm núm, không có những sáo ngữ thưa gửi thì đã không đáng buồn đến thế. Thực trạng thê thảm của làng quê còn đợc tác giả phơi bày khi ông xây dựng nhân vật Hai Dương. Thái độ của người kể chuyện lộ rõ sự châm biếm khi nói về con ngời này. Đó là một người đàn bà \"trên dưới năm mươi tuổi, lưỡng quyền nhô ra, môi mỏng dính\", với bộ dạng \"hai tay chống nạnh, không buộc thắt lng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái com-pa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí\". Người đàn bà đã từng được mệnh danh là \"nàng Tây Thi đậu phụ\" này lộ rõ tính cách hợm hĩnh, lưu manh khi bịa đặt kể công bế ẵm Tấn và chỉ chực dòm ngó chôm chỉa đồ đạc. Và còn những con người khác của cái làng quê ấy cũng thật đáng buồn: \"Kẻ đến đa chân, người đến lấy đồ đạc. Có kẻ vừa đa chân, vừa lấy đồ đạc.\". Tất cả đ- ợc bày ra như biểu thị sự tha hoá của con người. Cho nên, ta mới hiểu tại sao kẻ từ biệt quê hương ra đi mà lòng lại không chút luư luyến như thế. Làng quê xa đẹp đẽ là vậy, những con người khi xa đáng yêu là vậy mà hiện tại chỉ còn là những hình ảnh biến dạng, sa sút. Người ra đi chỉ còn thấy lẻ loi, ngột ngạt trong bốn bức tờng vô hình, cao vọi. ấn tượng đẹp đẽ về quê hương đã tan vỡ, hình ảnh người bạn \"oai hùng, cổ đeo vòng bạc\" vốn rõ nét là thế mà trong thời khắc từ biệt đã trở nên mờ nhạt, ảo não. Nhưng đó không phải là những hình ảnh khép lại thiên truyện. Những triết lí sâu sắc về hi vọng trong cuộc sống con người vốn đã được ươm mầm từ khi tác giả xây dựng hình tượng hai bé Hoàng và Thuỷ Sinh. Khi Tấn sống với dòng hồi ức tuổi thơ, anh đã nhận ra: \"Tôi cảm thấy tựa hồ tôi đã tìm ra được quê hương tôi đẹp ở chỗ nào rồi.\". Quê hương đẹp ở những kỉ niệm của thời niên thiếu oai hùng, thần tiên. Bây giờ, Hoàng và Thuỷ Sinh thấy khoan khoái khi ở bên nhau, chúng thân thiết với nhau, không \"cách bức\" như Tấn và Nhuận Thổ. Cuộc sống mới phải được bắt đầu từ những tấm lòng trẻ trong trắng, hoà đồng. Tấn nghĩ đến cuộc sống tương lai và khẳng định: \"Chúng nó cần phải sống một cuộc đời mới, một cuộc đời mà chúng tôi cha từng được sống\". Thực tại còn u ám, thê lương. Nhuận Thổ xin chiếc l hương và đôi đèn nến để thờ cúng, cũng là để cầu nguyện cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Còn \"tôi\" cũng đang hi vọng và mong ước những điều đẹp đẽ cho tương lai thế hệ trẻ. Những câu văn kết thúc thiên truyện chợt trở nên thâm trầm, triết lí: \"đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng như những con đường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.\" Cái hi vọng là cái chưa có, không ai hi vọng cái đang có bao giờ! Cái hi vọng cũng không là cái đã từng có, người ta phải hướng tới những cái mới, tốt đẹp hơn. Cảnh tượng đẹp đẽ có phần giống những hình ảnh trong hồi ức tuổi thơ của Tấn với Nhuận Thổ hiện ra khi anh đang mơ màng là thực. Trong cuộc đời mới của thế hệ Hoàng - Thuỷ Sinh, ngay cả vẻ đẹp ấy cũng sẽ khác. Cuộc đời mới ấy còn ở phía trước, có thể là xa vời, nhưng con người cứ mong ước, mong ước mãi để có được nó. Rồi cuộc sống mới ấy cũng sẽ đến, đúng như chân lí về sự hình thành của những con đường trên mặt đất vậy. NHỮNG ĐỨA TRẺ 56
(Trích Thời thơ ấu của Mác-xim Go-rơ-ki) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Mác-xim Go-rơ-ki là bút danh của A-lếch-xây Pê-scốp, sinh trưởng ở thành phố Ni-giơ-ni Nô-vơ-gô-rốt trong một gia đình lao động nghèo. Pê-scốp mồ côi bố khi mới ba tuổi và sống với ông bà ngoại. Ông là tác giả của bộ ba tiểu thuyết tự thuật để kể chuyện đời mình: Thời thơ ấu (1913-1914), Kiếm sống (1916), Những trường đại học của tôi (1923). 2. Tác phẩm: Những đứa trẻ là một đoạn trích trong chương IX của tiểu thuyết \"Thời thơ ấu\" của nhà văn Nga Mác-xim Go-rơ-ki (1868-1936). Thời thơ ấu là cuốn tiểu thuyết gồm mười ba chương, kể về thời A-li-ô-sa (tên thân mật của Mác-xim Go-rơ-ki) ở với ông bà ngoại vì bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng khác. Bên hàng xóm là nhà ông đại tá ốp-xi-an-ni-cốp đã già, sống với người vợ kế và ba đứa con nhỏ mồ côi mẹ khoảng trên dưới mười tuổi, trạc tuổi với A-li-ô-sa. Do tình cờ có lần A-li-ô-sa cùng hai đứa lớn con ông đại tá kéo dây gầu lên cứu được thằng nhỏ chơi nghịch nhảy vào gầu rơi xuống giếng, nên mấy đứa trẻ chơi thân với A-li-ô-sa, bất chấp sự cấm đoán của bố. Đoạn trích trong sách giáo khoa kể tiếp theo sự kiện ấy. 3. Tóm tắt: Sau một tuần không thấy ba anh em hàng xóm ra sân chơi, bỗng chúng lại xuất hiện và gọi nhân vật \"tôi\" chơi cùng. Trong câu chuyện với nhau, nhân vật \"tôi\" hỏi về mẹ chúng, thấy chúng buồn, nhân vật \"tôi\" an ủi bằng cách sôi nổi kể những câu chuyện cổ tích của bà. Bỗng bố của ba người bạn hàng xóm xuất hiện, cấm không cho nhân vật \"tôi\" tiếp tục chơi với con ông. Nhưng những đứa trẻ vẫn chơi với nhau, kể cho nhau nghe những câu chuyện vui buồn. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM 1. Đoạn trích có thể chia làm ba phần: tình bạn tuổi thơ trong sáng, tình bạn bị cấm đoán và tình bạn vẫn được duy trì. Xuyên suốt cả ba phần trên là các yếu tố nghệ thuật chủ chốt: những đứa trẻ, những con chim, truyện cổ tích, người dì ghẻ, người bà hiền hậu đã xuất hiện ở phần đầu lại xuất hiện ở phần thứ ba, tạo nên mối quan hệ kết nối thống nhất và chặt chẽ, gây được ấn tượng sâu sắc trong người đọc. 2. Đoạn trích thể hiện nghệ thuật kể chuyện đặc sắc của tác giả đan xen giữa chuyện đời thường và truyện cổ tích. Thông qua chi tiết về \"dì ghẻ\", khi mấy đứa trẻ hàng xóm nhắc đến \"mẹ khác\", A-li-ô-sa liên tưởng ngay đến nhân vật mụ dì ghẻ độc ác trong truyện cổ tích. Khi những đứa trẻ nói về \"mẹ thật\", A-li-ô-sa cũng có những suy tưởng như độc thoại nội tâm, lạc ngay vào không khí truyện cổ tích. Chi tiết người bà nhân hậu cũng được kể lại bằng giọng của truyện cổ tích: \"ngày trước, trước kia, đã có thời\"..., 3. Nghệ thuật kể chuyện đan xen giữa chuyện đời thường và truyện cổ tích của Mác-xim Go-rơ-ki đã giúp cho đoạn trích Những đứa trẻ nói riêng và tác phẩm Thời thơ ấu nói chung trở nên sinh động và hấp dẫn. BÀN VỀ ĐỌC SÁCH (Trích - Chu Quang Tiềm) 57
I - GỢI Ý 1. Tác giả: Chu Quang Tiềm (1897-1986) là nhà mĩ học, lí luận văn học hiện đại Trung Quốc, bút danh Mạnh Tực, Mạnh Thạch, người Đông Thành, tỉnh An Huy. Năm 1916, thi vào Khoa Văn học Trường cao đẳng Sư phạm Vũ Xương, năm sau vào Đại hội Hương Cảng, học Ngôn ngữ và Văn học Anh, Sinh vật học, Tâm lí học, Giáo dục học, 1922, làm giáo viên trung học Thượng Hải. Năm 1925 ông thi vào Đại học Êđinbơc (Edimburg) nước Anh, 1929 tốt nghiệp, lại thi vào Đại học Luân Đôn, đồng thời ghi danh vào Đại học Pari rồi sau thi vào Đại học Xtraxbuôc (Strasbourg) nước Pháp, tốt nghiệp học vị Tiến sĩ với đề tài Tâm lí học bi kịch. 1933, về nước giảng dạy tại các Đại học Bắc Kinh, Tứ Xuyên, Vũ Hán, từng làm Viện trưởng Viện Văn học Đại học Bắc Kinh. Sau 1949, là Giáo sư Đại học Bắc Kinh, ủy viên Chính phủ Hiệp thương chính trị Trung ương bốn khóa, Hội trưởng Hội nghiên cứu mĩ học Trung Quốc, ủy viên thường trực Hội Nghiên cứu văn học nước ngoài của Trung Quốc... 2. Tác phẩm: Tác phẩm tiêu biểu của Chu Quang Tiềm là Tâm lí học văn nghệ (Văn nghệ tâm lí), và Bàn về thơ (Thi luận). Tâm lí học văn nghệ chủ yếu giới thiệu lí luận mĩ học cận, hiện đại phương Tây, nhất là lí luận trực giác của Crâuxơ (B. Croce, 1866-1952), thuyết khoảng cách của Bulaoth (E. Bullougth, 1880-1934), thuyết di tình của Lipxơ (T. Lipps, 185-1914), thuyết nội mô phỏng của Grôx (K.Groó, 1861). 3. Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả nêu tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách; các khó khăn, các nguy hại dễ gặp của việc đọc sách trong tình hình hiện nay và cách lựa chọn sách cần đọc, cách đọc như thế nào cho hiệu quả. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Không phải khi công nghệ thông tin phát triển như vũ bão thì việc đọc sách không được quan tâm nữa. Thậm chí ngược lại. Người dân ở huyện Mi-y-a-kô (Nhật Bản) từ năm 1967 đã lấy ngày chủ nhật thứ ba trong tháng làm \"ngày gia đình\", \"ngày không xem ti-vi\"(1). Còn ở thành phố Buxtenhude (Đức) từ đâu năm 2004 đã xuất hiện nhiều buồng đọc sách công cộng trên đường phố nhằm khuyến khích cho phong trào đọc sách trong dân chúng(2) và mô hình này đang không ngừng nhân rộng. Điều đó phần nào nói lên tầm quan trọng không thể thay thế của sách. Phải có người đọc sách thì sách mới có thể ấn hành nhiều đến thế. Thị hiếu là gì nếu không phải là cái bắt đầu từ những nhu cầu thiết yếu nổi trội của con người! Chu Quang Tiềm đã nhận thức một cách sâu sắc ý nghĩa của sách đối với đời sống con người. Hơn thế, từ đó, ông đã chỉ ra những điều hết sức cơ bản có thể xem là cẩm nang của cách thức đọc sách. Bài luận Bàn về đọc sách sẽ thuyết phục chúng ta về những điều này. Từ việc khẳng định ý nghĩa của sách và việc đọc sách đến cách chọn sách mà đọc và cách đọc sách cho có hiệu quả cao nhất, đó là mạch lập luận của Bàn về đọc sách. Nhưng nếu chỉ là như thế thì bài viết chưa thể đạt được sức thuyết phục cao. Triển khai mạch lập luận này, trong từng phần, tác giả đã đưa ra được hệ thống những lí lẽ và dẫn chứng chân xác, sinh động để thuyết phục luận điểm. ở phần đầu của văn bản (từ \"Học vấn không chỉ là...\" cho đến \"... nhằm phát hiện ra thế giới mới\"), tác giả phân tích tầm quan trọng của sách và việc đọc sách. Trước hết, Chu Quang (1) Theo http://www..vietnamnet, 3-12-2004. (2) Theo An ninh thế giới, số ra ngày 16-9-2004. 58
Tiềm chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa sách và học vấn. Về điểm này, tác giả viết: \"Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm nay đều là thành quả do toàn nhân loại phân công, cố gắng tích luỹ ngày đêm mà có. Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi, đều là do sách vở ghi chép, lưu truyền lại\". Từ đó đi đến khẳng định: \"Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại (...), là những cột mốc trên con đường tiến hoá học thuật...\". Khẳng định điều này để dẫn tới khẳng định điều sau đó như một hệ quả tất yếu. Đó là muốn \"tiến lên\" thì nhất thiết \"phải lấy thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát\". Có như thế mới tránh được tình trạng \"lạc hậu\", tụt hậu. Làm rõ tầm quan trọng của sách đối với nhận thức của con người thực chất là hướng tới làm nổi bật việc cần thiết phải đọc sách. Vai trò của sách xem như là luận cứ để dẫn tới luận điểm rằng: \"Đọc sách là muốn trả món nợ đối với thành quả nhân loại trong quá khứ, là ôn lại kinh nghiệm, tư tưởng của nhân loại tích luỹ mấy nghìn năm trong mấy chục năm ngắn ngủi, là một mình hưởng thụ các kiến thức, lời dạy của biết bao người trong quá khứ đã khổ công tìm kiếm mới thu nhận được\". Nhờ đó \"mới có thể làm được cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, nhằm phát hiện thế giới mới\". Đến đây, một vấn đề nảy sinh: vì sách là nơi kết tinh, hội tụ những kiến thức của nhân loại trong suốt mấy nghìn năm, văn hoá nhân loại tiến hoá không ngừng, mở mang không ngừng cho nên để xử lí được khối lượng đồ sộ và cực kì đa dạng của kho tri thức ấy là một vấn đề khó khăn, không thể thực hiện cuộc trường chinh vạn dặm\" ấy, không thể đọc sách mà không có những con đường đi, phương hướng đúng đắn. Tác giả đã sắp xếp khéo léo để các vấn đề được đặt ra, triển khai móc nối, lôgic chặt chẽ với nhau. Hướng tới giải quyết vấn đề đặt ra như một nhu cầu ở trên, ở đầu phần hai của bài viết, tác giả dừng lại phân tích thực trạng việc đọc sách. Nội dung này thể hiện ở đoạn từ \"Lịch sử càng tiến lên...\" cho đến \"tự tiêu hao lực lượng\". Bằng những hiểu biết thực tế, tác giả chỉ ra \"hai cái hại thường gặp\" của việc đọc sách. Cái hại thứ nhất là \"sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu\". Để thuyết phục điều này, tác giả dẫn ra kinh nghiệm đọc sách của các học giả Trung Hoa cổ đại: \"Sách tuy đọc được ít, nhưng đọc quyển nào ra quyển ấy, miệng đọc, tâm ghi, nghiền ngẫm đến thuộc lòng, thấm vào xương tuỷ, biến thành nguồn động lực tinh thần, cả đời dùng mãi không cạn\". Đối lập với thực tế ngày nay, sách tuy nhiều, dễ kiếm nhưng \"không tiêu hoá được\", dẫn tới thói \"hư danh nông cạn\". Cái hại thứ hai là \"sách nhiều khiến người đọc lạc hướng\". Tác giả ví việc đọc sách cũng như đánh trận: \"cần phải đánh vào thành trì kiên cố, đánh bại quân địch tinh nhuệ, chiếm cứ mặt trận xung yếu. Mục tiêu quá nhiều, che lấp mất vị trí kiên cố, chỉ đá bên đông, đánh bên tây, hoá ra thành lối đánh \"tự tiêu hao lực lượng\". Những trở ngại căn bản nhất của việc học nói chung, đọc sách nói riêng đã được tác giả khái quát chính xác. Phần còn lại của bài viết, tác giả dành sự quan tâm đến việc đưa ra những cách thức đọc sách đúng đắn, giúp người đọc sách khắc phục được những trở ngại, tiến tới xác định cho mình được phương pháp học tập, nghiên cứu đúng đắn, đạt hiệu quả đích thực. Đây là vế quan trọng trong lập luận của bài văn. Có thể tóm lược các luận điểm chính của phần này như sau: Một là, \"phải chọn đọc cho tinh, đọc cho kĩ\"; Hai là, phải biết phân loại thành sách thường thức và sách chuyên môn để có cách đọc cho phù hợp; Ba là, phải chú ý tới mối quan hệ hữu cơ giữa cái thường thức và cái chuyên sâu. Ba luận điểm trên được tổ chức triển khai theo hướng tổng - phân - hợp. Thế nào là đọc 59
tinh, đọc kĩ? Vấn đề tưởng là hai mà thực chất là một. Không thể đọc kĩ tất cả mà phải chọn cuốn thật sự có giá trị. Chọn được cuốn có giá trị mà đọc kĩ còn hơn là đọc nhiều cuốn mà chỉ lướt qua. Về điểm này, tác giả diễn đạt thật hấp dẫn, sắc sảo: \"Đọc ít mà đọc kĩ, thì sẽ tập thành nếp suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích luỹ, tưởng tượng tự do đến mức làm đổi thay khí chất; đọc nhiều mà không chịu nghĩ sâu, như cưỡi ngựa qua chợ, tuy châu báu phơi đầy, chỉ tổ làm cho mắt hoa ý loạn, tay không mà về\". Nhưng lựa chọn thế nào để đọc cho kĩ? Trả lời câu hỏi này, tác giả xác lập luận điểm thứ hai của phương pháp đọc: phải phân biệt sách thường thức và sách chuyên môn. Sách chuyên môn thì phải đọc kĩ, điều này đã được làm rõ ở luận điểm trước, vấn đề là làm sao để vừa đọc kĩ mà vẫn đảm bảo sự toàn diện? Tác giả viết: \"... mỗi môn phải chọn kĩ từ 3 đến 5 quyển xem cho kĩ. Môn học kiến thức phổ thông tổng số không quá mười mấy môn, (...), tổng cộng số sách cần đọc cũng chẳng qua trên dưới 50 quyển\". Ở phần cuối bài viết, tác giả lập luận về việc phải biết kết hợp giữa đọc sâu và đọc rộng. Những điều tác giả bàn đến trong đoạn kết bài không chỉ là phương pháp đọc sách, mà còn là quan điểm nhận thức nói chung. Một mặt, phải thừa nhận sự chuyên sâu là cần thiết. Nhưng chuyên sâu không có nghĩa là cô lập, đóng kín; bởi vì: \"Vũ trụ vốn là một thể hữu cơ, các qui luật bên trong vốn liên quan mật thiết với nhau, động vào một chỗ nào đó tất liên quan đến cái khác, do đó các loại học vấn nghiên cứu qui luật nào đó, tuy bề mặt có phân biệt, mà trên thực tế thì không thể tách rời. Trên đời không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ kế cận\". Bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ với lối diễn đạt bằng hình ảnh ví von, so sánh, tác giả đã thuyết phục người đọc hết từ luận điểm này đến luận điểm khác. Từ cách chọn sách, đọc sách, tác giả nâng lên thành quan điểm nhận thức, từ phương hướng nhận thức mà đúc kết thành cách học, cách chiếm lĩnh tri thức nói chung: \"không biết thông thì không thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn. Trước hãy biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào\". Với lập luận chặt chẽ, biến hoá tự nhiên, uyển chuyển; lí lẽ sắc sảo, lôgic; dẫn chứng sinh động, chân thực; ngôn ngữ diễn dạt hấp dẫn, Chu Quang Tiềm đã chứng tỏ tài nghị luận bậc thầy của mình. Qua bài văn này, chúng ta không chỉ hiểu sâu sắc thêm về vai trò của học vấn, vai trò của sách đối với nhận thức mà quan trọng hơn là có thể tìm thấy cách đọc, cách học đúng đắn. TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ (Nguyễn Đình Thi) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Nguyễn Đình Thi (1924-2003) là một nghệ sĩ có tài năng về nhiều mặt. Không chỉ nổi tiếng với những tác phẩm thơ, văn, nhạc, kịch, ông còn là một cây bút lí luận phê bình sắc sảo. Ông tham gia vào các hoạt động văn nghệ từ khá sớm, trên mỗi lĩnh vực đều để lại những tác phẩm nổi tiếng. \"Là người nghệ sĩ đa tài, Nguyễn Đình Thi sáng tác nhiều thể loại: thơ, nhạc, văn xuôi, kịch, tiểu luận phê bình và ở thể loại nào cũng có những đóng góp đáng ghi nhận. Cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi gắn bó chặt chẽ với cuộc đời hoạt động cách mạng bền bỉ của ông, đặc biệt trên mặt trận văn nghệ. Do đó, ông luôn có những tìm tòi mang ý nghĩa tiên khởi trên cơ sở những yêu cầu thực tiễn của cách mạng và đời sống văn học dân 60
tộc. Nguyễn Đình Thi cũng là cây bút lí luận sắc sảo. Ông bắt đầu bằng những tác phẩm giới thiệu triết học phổ thông (năm 1942) và triết học đã có ảnh hưởng thực sự đến sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Thi. Tham gia hoạt động văn hóa cứu quốc, ông viết nhiều tiều luận tiến bộ dưới ảnh hưởng quan điểm văn nghệ mác xít: Sức sống của dân tộc Việt Nam trong ca dao, xây dựng con người. Đi vào kháng chiến trước yêu cầu thực tiễn của đời sống văn nghệ kháng chiến ông viết Thực tại với văn nghệ, đặc biệt nhận đường, có tác dụng tích cực trong việc hướng định văn nghệ sĩ hoà nhập với công cuộc sống kháng chiến và sáng tác phục vụ kháng chiến. Những công trình: Mấy vấn đề văn nghệ, công việc của người viết tiều thuyết... là những đóng góp thiết thực có giá trị của Nguyễn Đình Thi với đời sống văn học. Vốn học vẫn vững chãi, khả năng tư duy lí luận chặt chẽ, cách phân tích tinh tế, sắc sảo, nghệ thuật diễn đạt tài hoa, độc đáo là cơ sở cho những thành công của tiểu luận phê bình Nguyễn Đình Thi (Từ điển văn học, Sđd). 2. Tác phẩm: - Tác phẩm đã xuất bản: Xung kích (tiểu thuyết, 1951); Thu đông năm nay (truyện, 1954); Người chiến sĩ (thơ, 1956, 1958); Mấy vấn đề Văn học (tiểu luận, 1956 - 1958); Bên bờ sông Lô (truyện ngắn, 1957); Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong Văn nghệ hiện nay (tiểu luận, 1957); Bài thơ Hắc Hải (thơ, 1959 - 1961); Con nai đen (kịch, 1961); Cái tết của mèo con (truyện thiếu nhi, 1961); Vỡ bờ, tập I (tiểu thuyết, 1962, 1970); Công việc của người viết tiểu thuyết (tiểu luận, 1964); Vào lửa (tiểu thuyết, 1966); Mặt trận trên cao (tiểu thuyết, 1967); Vỡ bờ (tập II, tiểu thuyết, 1970); Dòng sông trong xanh (thơ, 1974); Hoa và Ngần (kịch, 1975); Tia nắng (thơ, 1983); Giấc mơ (kịch, 1983); Tiếng sóng (kịch, 1985); Hòn cuội (kịch, 1987). - Nhà văn đã được nhận: Giải nhì truyện và ký sự giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam (Xung kích, tiểu thuyết) - Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (1996). Tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ được Nguyễn Đình Thi viết năm 1948, in trong cuốn Mấy vấn đề văn học (lí luận phê bình, xuất bản năm 1956), có nội dung lí luận sâu sắc, được thể hiện qua những rung cảm chân thành của một trái tim nghệ sĩ. 3. Tóm tắt: Bài viết có bố cục khá chặt chẽ, được thể hiện qua hệ thống luận điểm lô gích, mạch lạc. Giữa các luận điểm vừa có sự tiếp nối tự nhiên vừa bổ sung, giải thích cho nhau: Văn nghệ không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn là nhận thức mới mẻ, là tư tưởng, tình cảm của cá nhân nghệ sĩ. Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết với cuộc sống của con người, nhất là trong hoàn cảnh những năm đầu kháng chiến. Văn nghệ có khả năng cảm hoá, có sức lôi cuốn thật kì diệu bởi đó là tiếng nói của tình cảm, tác động tới con người qua những rung cảm sâu xa. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Nói đến lí luận văn nghệ là người ta thường nghĩ ngay tới cái gì đó trừu tượng, khô khan. Đọc bài tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi, chắc hẳn những những người từng có định kiến như thế phải xem lại quan niệm của mình. Đề cập đến những vấn đề then chốt của lí luận văn nghệ như nội dung biểu hiện, sức mạnh tác động của văn nghệ,... tác giả bài tiểu luận đã chọn cho mình một lối viết vừa sinh động, giàu hình ảnh vừa cô đúc, giàu 61
sức khái quát, tất cả được trình bày trong một mạch lập luận linh hoạt mà chặt chẽ, sáng rõ. Bài viết có bố cục ba phần: phần mở bài, phần thân bài và phần kết bài. Có thể hiểu nội dung chính của từng phần như sau: ở phần mở bài, tác giả đặt vấn đề về tiếng nói của văn nghệ bằng cách đề cập đến mối quan hệ giữa văn nghệ với thực tế cuộc sống, nói chính xác là vấn đặc trưng phản ánh cuộc sống của văn nghệ: \"Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà muốn nói một điều gì mới mẻ\". Tác phẩm nghệ thuật nào cũng bắt nguồn từ cuộc sống, bằng cách phản ánh cuộc sống mà người nghệ sĩ bộc lộ cái \"mới mẻ\" trong sự khám phá, cách nhìn nhận của riêng mình, qua đó góp tiếng nói của mình vào sự phát triển của đời sống. Vậy người nghệ sĩ phản ánh, thể hiện những gì trong tác phẩm của mình? Những nội dung ấy tác động đến cuộc sống chung quanh bằng con đường nào? Tác giả làm rõ những vấn đề này trong phần chính của bài viết. Trước hết, tác giả khẳng định rằng mục đích của văn nghệ không phải chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người. Mục đích đặc thù của văn nghệ chân chính là \"làm chúng ta rung động với cái đẹp\", sức mạnh lâu bền của văn nghệ là làm tái sinh những sự sống tươi trẻ trong tâm hồn con người. Có như vậy văn nghệ mới có cho mình những nội dung đặc thù khác với nội dung của các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác. Tác giả chỉ rõ: \"Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luận lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội. Lời của nghệ thuật còn là \"những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phẫn khích, và biết bao nhiêu tư tưởng, (...) bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra được hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia chúng ta chưa biết nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta\". Với những nội dung ấy, tác phẩm văn nghệ có khả năng tác động, chuyển hoá những nội dung thể hiện thành những định hướng sống tích cực cho con người: \"Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bấy giờ biến thành của ta, và chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người chúng ta gặp, làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ\". Công chúng không những được thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, con người mà hơn thế là \"một cách sống của tâm hồn\". Tiếng nói của văn nghệ làm cho ta \"được cười hả dạ hay rỏ giấu một giọt nước mắt\". Có được những khoảnh khắc như thế là nhờ văn nghệ có sức mạnh tác động đến tâm hồn, tình cảm của con người bằng chính tâm hồn, tình cảm của con người. Nói cách khác, văn nghệ khích lệ, tác động đến sự sống bằng chính sự sống. \"Sự sống\" trong tiếng nói của văn nghệ nhìn chung là toàn diện, tuy nhiên sức mạnh ưu thế mà văn nghệ có được là nhờ \"văn nghệ nói nhiều nhất với cảm xúc, nơi đụng chạm của tâm hồn với cuộc sống hằng ngày. (...) Chỗ đứng của văn nghệ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống hành động, cuộc đời sản xuất, cuộc đời làm lụng hằng ngày, giữa thiên nhiên và giữa những người làm lụng khác\". Với việc phân tích đặc điểm điểm này của tiếng nói văn nghệ, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định câu nói của đại văn hào Nga Tôn-xtôi: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm. Khi một tác phẩm nghệ thuật nào đó được xem là có giá trị thì có nghĩa là tác phẩm ấy, bằng tiếng nói tình cảm của mình, tác động tích cực, có hiệu quả tới đời sống tình cảm của công chúng. Nhưng ngoài tình cảm, thế giới tinh thần của con người còn có phương diện tư tưởng. Tiếng nói văn nghệ còn là tiếng nói tư tưởng. Và như thế, bằng tư tưởng, văn nghệ tác động 62
đến tư tưởng của con người. Khẳng định điều này, tác giả đồng thời chỉ ra rằng: \"Tư tưởng của nghệ thuật không bao giờ là trí thức trừu tượng một mình trên cao\"; mà là \"tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống\". Mặt khác, không giống sự tác động tư tưởng của những lĩnh vực nhận thức khác, tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật đến với công chúng bằng cách \"làm cho chúng ta nhìn, nghe, rồi từ những con người, những câu chuyện, những hình ảnh, những nỗi niềm của tác phẩm sẽ khơi mung lung trong trí óc ta những vấn đề suy nghĩ\". Đặt sự tác động của nghệ thuật trong mối quan hệ giữa nghệ sĩ - tác phẩm - công chúng, ở phần kết của bài tiểu luận tác giả khái quát về đặc thù cũng như vị thế của tiếng nói văn nghệ. Tác phẩm là nơi người nghệ sĩ bộc lộ tâm hồn mình. Công chúng tìm thấy sự thoả mãn nhu cầu tình cảm, tư tưởng trong tác phẩm. Tác phẩm là chiếc cầu nối giữa người nghệ sĩ và công chúng. Sự sống trong tác phẩm không chỉ truyền trực tiếp đến người đọc mà đặc biệt là nó có khả năng khơi gợi, lay động, đánh thức ở phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người sự sống, thôi thúc con người chiếm lĩnh cái đẹp. Nghệ thuật cũng chứng tỏ sức mạnh của mình khi nó tham gia tích cực vào quá trình rèn luyện tình cảm thẩm mĩ, nuôi dưỡng, phát triển những khả năng thẩm mĩ của con người. Với những ưu việt như trên, hoàn toàn thuyết phục khi tác giả đưa ra nhận định kết luận: \"Nghệ thuật giải phóng được cho con người khỏi những biên giới của chính mình, nghệ thuật xây dựng con người, hay nói đúng hơn làm cho con người tự xây dựng được. Trên nền tảng cuộc sống của xã hội, nghệ thuật xây dựng đời sống tâm hồn cho xã hội\". Có thể nói Tiếng nói của văn nghệ là một bài tiểu luận đạt đến trình độ cao của nghệ thuật nghị luận. Hệ thống các luận điểm được bố cục hợp lí, triển khai mạch lạc. Các lí lẽ đều được tác giả thuyết phục bởi những dẫn chứng cụ thể sinh động với sự phân tích tinh tế, sắc sảo. Các dẫn chứng về Truyện Kiều, về An-na Ca-rê-nhi-na, nhất là những trải nghiệm trực tiếp trong thực tế sáng tác,... giúp tác giả lí giải xác đáng những vấn đề đặc điểm phản ánh của văn nghệ, khả năng tác động của văn nghệ,... Nguyễn Đình Thi vốn là một người chuyên sáng tác, và nhờ vậy, không khó khăn gì khi ông vận dụng lối viết giàu hình ảnh vào nghị luận. Bài viết Tiếng nói của văn nghệ thực sự mang lại cho chúng ta những hiểu biết quan trọng về nghệ thuật trong cuộc sống. CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI (Vũ Khoan) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Tác giả Vũ Khoan là nhà hoạt động chính trị, hiện là Phó Thủ tướng Chính phủ. 2. Vấn đề: Người Việt Nam chúng ta có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đó là lòng yêu nước, là đức tính cần cù, dũng cảm, là tinh thần \"lá lành đùm lá rách\", \"thương người như thể thương thân\"... Đó là những phẩm chất không ai có thể phủ nhận bởi chúng đã được kiểm nghiệm và khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên, không ai có thể toàn vẹn, cùng với những phẩm chất cần luôn được phát huy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những mặt hạn chế cần sửa đổi. Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, đồng thời cũng nhận thức được những mặt còn yếu kém cần khắc phục là điều hết sức cần thiết để mỗi con người 63
nói riêng và cộng đồng Việt Nam nói chung vươn lên tự hoàn thiện mình, không ngừng tiến bộ để đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử đất nước. Bài viết đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam - đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới. 3. Tóm tắt: Bài viết nêu ra bốn ý lớn, mỗi ý lại được cụ thể hoá bằng một hệ thống luận cứ, dẫn chứng khá sinh động: Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người. Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước. Những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam cần được nhận thức rõ trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM 1. Thời điểm chuyển từ thế kỉ XX sang thế kỉ XXI là một điểm mốc quan trọng trong lịch sử nhân loại. Nó không chỉ là mốc thời gian mà hệ trọng hơn, nó là mốc của sự phát triển thế giới, tất nhiên cái mốc phát triển này không đồng đều giữa các khu vực, các quốc gia với những thang bậc trình độ phát triển khác nhau. Riêng đối với đất nước đang trên chặng đường hội nhập và phát triển như Việt Nam thì đây là thời điểm có ý nghĩa quyết định, đặt ra trước mắt cả những cơ hội và thách thức lớn. Để có thể tự vượt lên chính mình, từng bước hội nhập vào nền kinh tế tri thức trong thế kỉ tới, Đảng và nhà nước ta đã có những chiến lược cụ thể về mọi mặt. Nhưng để làm được việc đó, trước hết phải có sự nhận thức đầy đủ, sâu sắc về những cái mạnh, cái yếu trong nội lực. Bài viết Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Phó thủ tướng Vũ Khoan cho chúng ta thấy rõ điều này. Tác giả viết bài văn này vào đầu năm 2001, khi đất nước ta cùng toàn thế giới bước vào năm đầu tiên của thế kỷ mới. Đây là thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ, hai thiên niên kỷ. ở nước ta, công cuộc đổi mới bắt đầu từ cuối thế kỷ trước đã thu được những thành quả nhất định, chúng ta bước sang thế kỷ mới với những mục tiêu vô cùng quan trọng, đó là tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, kết hợp với những truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời để đưa nước ta tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 2. Có thể xác định lại dàn ý của bài viết như sau: Bài viết nêu ra bốn ý lớn, mỗi ý lại được cụ thể hoá bằng một hệ thống luận cứ, dẫn chứng khá sinh động: Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người. Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước. Những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam cần được nhận thức rõ trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới. Trong bài viết này, tác giả đã nêu ra một vấn đề hệ trọng: chúng ta cần nhận thức như thế nào và làm những việc gì để chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới? Vấn đề ấy không chỉ có ý nghĩa thời sự trong thời điểm chuyển giao thế kỷ mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với cả quá trình đi lên của đất nước bởi vì để đáp ứng những nhiệm vụ nặng nề mà lịch sử và dân tộc đã 64
giao phó, con người Việt Nam nói chung và lớp trẻ Việt Nam nói riêng không thể không nhận thức rõ những mặt mạnh cũng như những điểm còn hạn chế của mình để vừa phát huy những mặt tích cực, đồng thời khắc phục, sửa chữa những mặt còn yếu kém, không ngừng hoàn thiện mình, xứng đáng là chủ nhân của đất nước. 3. Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất, bởi vì: Con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thời kì nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, con người lại càng có vai trò nổi bật. 4. Trong sự phát triển chung của thế giới, khi khoa học, kỹ thuật có tốc độ phát triển vô cùng mạnh mẽ, sự giao thoa, hội nhập ngày càng sâu rộng giữa các nền kinh tế, đất nước ta nói chung và các thế hệ hiện tại nói riêng đang đứng trước những nhiệm vụ vô cùng trọng đại, đó là đồng thời giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời nhanh chóng tiếp cận với nền kinh tế tri thức. 5. Khi nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của người Việt Nam, tác giả đã không làm một phép liệt kê giản đơn từ ưu điểm đến nhược điểm mà cứ mỗi khi nêu một ưu điểm, tác giả lại đề cập đến một nhược điểm. Điều đáng chú ý là những ưu điểm và nhược điểm đó luôn được đặt trong yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Cụ thể: Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng lại thiếu Giá trị tác phẩm, kiến thức thực hành. Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt qui trình công nghệ, chưa quen với cường độ lao động khẩn trương. Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau nhưng đồng thời lại cũng thường đố kị nhau trong công việc. Bản tính thích ứng nhanh nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen, nếp nghĩ, quen bao cấp, rất sùng ngoại nhưng có khi lại bài ngoại đến mức cực đoan, khôn vặt, ít giữ chữ \"tín\". 6. Thông thường, trong sách báo và trong các phương tiện thông tin đại chúng, khi nói đến phẩm chất của người Việt Nam, người ta chỉ đề cập đến cái tốt, đến yếu tố tích cực, đáng biểu dương, học tập. Cách ca ngợi một chiều như vậy không phải không có yếu tố tích cực, thậm chí còn rất cần thiết khi chúng ta muốn phát huy sức mạnh của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, điều đó nếu lặp đi lặp lại mãi sẽ khiến chúng ta không thể đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của mình, dẫn đến thái độ ngộ nhận, tự thoả mãn, không chịu học hỏi người khác. Bài viết này đã mang đến cho bạn đọc cảm giác rất bất ngờ. Tác giả không ca ngợi một chiều, cũng không chỉ toàn phê phán một cách cực đoan mà nhìn nhận song song, đối chiếu và đánh giá những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của người Việt Nam trong quan hệ với công việc, trong yêu cầu của sự phát triển xã hội. Đó là sự đánh giá rất khách quan và khoa học, xuất phát từ thiện chí của tác giả muốn để chúng ta nhìn nhận về mình một cách đúng đắn, chân thực, ý thức được những mặt tốt cũng như mặt chưa tốt của mình để phát huy hoặc sửa đổi. 7. Trong văn bản, tác giả đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ: \"nước đến chân mới nhảy\", \"trâu buộc ghét trâu ăn\", \"liệu cơm gắp mắm\", \"bóc ngắn cắn dài\"... Việc sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian như vậy khiến cho bài viết thêm phần sinh động, cụ thể, 65
giàu ý nghĩa. 8. Mặc dù đây là bài nghị luận mang tính xã hội học nhưng tác giả đã cho chúng ta thấy một lối viết không hề khô cứng nhờ vào khả năng diễn đạt trong sáng, giản dị, khả năng vận dụng linh hoạt các thành ngữ, tục ngữ. Việc sử dụng chính những thành ngữ, tục ngữ của người Việt Nam để phân tích những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam đã giúp tác giả khái quát được những vấn đề mang tính cố hữu trong ý thức văn hoá của dân tộc, khiến ngôn ngữ nghị luận giàu hình ảnh, lột tả được thực tế. Nói đến nghệ thuật lập luận của bài viết này cũng phải nói đến việc dẫn ra những dẫn chứng cụ thể mà sâu sắc qua sự đối sánh với người Nhật, thao tác này vừa có ý nghĩa trong nhãn quan khoa học vừa có tác dụng kích thích tinh thần học hỏi, tự tôn trong tâm lí người Việt Nam. 9. Bài viết Hành trang chuẩn bị vào thế kỉ mới thực sự trở thành hành trang trong nhận thức của con người Việt Nam nếu muốn hội nhập với kinh tế thế giới. CHÓ SÓI VÀ CỪU TRONG THƠ NGỤ NGÔN CỦA LA PHÔNG-TEN (H. Ten) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Hi-pô-lít Ten (1828-1893) là triết gia, sử gia đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng của Pháp, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về truyện ngụ ngôn của La-phông-ten. 2. Tác phẩm: Đây là một bài nghị luận văn chương, trích từ chương II, phần II của công trình La- phông-ten và thơ ngụ ngôn của ông, in năm 1853. 3. Tóm tắt: Bài viết gồm hai phần: - Phần một (từ đầu đến \"tốt bụng như thế\"): hình tượng con cừu trong thơ La-phông-ten; - Phần hai (còn lại): hình tượng chó sói trong thơ La-phông-ten. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Bài nghị luận văn chương Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten vận dụng thành công thủ pháp so sánh. Hai phần của bài viết như hai vế của một thế đối sánh tương phản: cừu - sói. Và nếu như nhìn tổng thể là sự đối sánh giữa hai đối tượng được phản ánh thì trong cấu trúc của từng phần, H. Ten lại tạo ra mạch tương phản giữa cái nhìn của một nhà vạn vật học và cái nhìn của một nhà thơ. ở phần đầu của văn bản, sau khi dẫn ra những câu thơ của La Phông-ten về \"chú cừu non\", H. Ten nói đến hình ảnh con cừu trong con mắt của nhà vạn vật học Buy-phông. Qua con mắt của nhà khoa học này, con cừu hiện ra với bản tính \"ngu ngốc và sợ sệt\". Tác giả phân tích những tập tính của loài động vật này một cách chính xác. Còn La Phông-ten thì khác. Bằng một nhãn quan của một nhà thơ, một nghệ sĩ, Phông-ten nhìn nhận lũ cừu như những con vật \"thân thương và tốt bụng\". Sự khác nhau ấy là sự khác nhau của hai nhãn quan, hai loại hình 66
nhận thức. Cách nhận thức của Buy-phông là cách nhận thức duy lí, thực chứng của khoa học; còn cách nhận thức của La Phông-ten là cách nhận thức thẩm mĩ, nhân văn của nghệ thuật. Không có ai sai trong hai trường hợp trên mà chỉ có sự khác nhau giữa hai con đường. Tuy nhiên, tác giả tạo ra sự so sánh này là nhằm làm nổi bật đặc trưng trong phản ánh và thể hiện của thơ ca nói riêng, nghệ thuật nói chung. Những đặc trưng này tiếp tục được tác giả làm rõ trong phần hai của văn bản, với những nhận xét thú vị về sự phản ánh con vật đối lập với con cừu: chó sói. Dưới con mắt của La Phông-ten hay Buy-phông thì con chó sói đều là sự đối lập với con cừu. Nhưng ở La Phông-ten, một mặt con chó sói vẫn là \"bạo chúa của cừu\", \"là một tên trộm cướp\", \"là một gã vô lại luôn luôn đói dài và luôn luôn bị ăn đòn\"; mặt khác, \"cũng đáng thương\", \"khốn khổ và bất hạnh\". Như vậy, điểm thống nhất trong sự thể hiện hai nhân vật đối lập của nhà thơ là tình thương. Còn điểm thống nhất trong nhận xét của nhà khoa học Buy-phông là chính xác. Dù là cừu hay sói thì với Buy-phông chúng đều không nhận được một tình thương nào cả. Tiêu chí của nhà vạn vật học là tính chính xác, trung thực trong mô tả, phân tích đối tượng. Cho nên, trước sau con chó sói chỉ là một con vật với \"bộ mặt lấm lét, dáng vẻ hoang dã, tiếng hú rùng rợn, mùi hôi gớm ghiếc, bản tính hư hỏng, cái gì cũng làm ta khó chịu, nó thật đáng ghét, lúc sống thì có hại, chết rồi thì vô dụng\". Hơn nữa, dù là \"bạo chúa\" thì con chó sói trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten còn được thể hiện với một tính cách phức tạp, khác với con chó sói thuần nhất chỉ là con vật có hại trong sự nhìn nhận của nhà bác học. Nhà thơ đã phát hiện ra những khía cạnh khác của con chó sói và nếu như Buy-phông dựng lên một bi kịch về sự độc ác của chó sói thì Phông-ten lại dựng lên hình tượng chó sói như là nhân vật trong vở hài kịch của sự ngu ngốc. Căn cứ trên những hạt nhân sự thật nào đó của những con vật, nhà thơ sáng tạo nên những hình tượng nhân vật và gửi vào trong đó tình cảm của mình, sự cảm thông hay sự phê phán của mình. Những con vật, thực chất là bóng dáng của những con người với những tính cách khác nhau trong đời sống xã hội. Nhà thơ mượn hình ảnh con vật để khái quát những vấn đề của con người. CON CÒ (Chế Lan Viên) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ Quảng Trị. Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ mới qua tập Điêu tàn. Chế Lan Viên đã có những đóng góp lớn vào những thành tựu của văn học kháng chiến, ông là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỷ XX. \"17 tuổi với tập thơ Điêu tàn, Chế Lan Viên đã làm nên \"một niềm tin kinh dị\" trên thi đàn Việt Nam đầu thế kỷ.Bộc lộ bằng một cảm xúc khác thường, quay lưng lại với thực tại hiện hữu: \"Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh, một vì sao tro trọi cuối trời xa, Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh - Những ưu phiền đau khổ với buồn lo. Chế Lan Viên tìm về quá khứ của dân tộc Chăm cũng là một cách diễn tả tâm trạng mình về hiện thực của dân tộc. Phần tích cực lẫn hạn chế trong hồn thơ Chế Lan Viên giao thoa trên những nỗi buồn, giấc mơ, những dằn vặt về sự tồn tại của chính mình. Khi những quan điểm của Điêu tàn đến Vàng sao đã 67
không còn phù hợp, Chế Lan Viên rơi vào thần bí, bế tắc. Chỉ còn một cách lựa chọn là hướng cảm xúc của chủ thể sáng tạo vào yêu cầu mới, Chế Lan Viên đã bắt gặp ngọn nguồn của sáng tạo sau Cách mạng tháng Tám 1945. Với Gửi các anh, tập thơ viết trong kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên đã cố gắng tiếp cận với hiện thực cách mạng. Nhưng ở đây, con người công dân và con người nghệ sĩ vẫn chưa gặp nhau, bản sắc thi sĩ chưa kịp định hình. Chỉ đến ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên mới thực sự từ \" thung lũng đau thương đến cánh đồng vui\", làm nên một gương mặt thi nhân tài hoa và độc đáo trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Từ đây cho đến những bài thơ cuối đời, cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên luôn vận động và phát triển, thống nhất trong đa dạng. Thơ Chế Lan Viên đã tạo được một sức mạnh ám ảnh đối với người đọc trên cả hai phương diện cảm xúc và trí tuệ. Với ý thức phục vụ cách mạng, phục vụ cuộc sống bằng thi ca, thơ Chế Lan Viên đã muốn là tiếng nói thi ca lịch sử đất nước trong thời đại mới. Trong những cảm hứng từ vĩ mô đến vi mô có cả Chim báo bão, có cả hoa ngày thường, có đối thoại mới lẫn độc thoại với chính mình. Chế Lan Viên là nhà thơ có công đầu trong việc cách tân câu thơ Việt Nam. Ông đã làm một cuộc cách mạng về câu thơ cũ bị phá vỡ. Thay vào đó, là các bài thơ tự do xuất hiện ngày càng nhiều với những câu thơ dài ngắn xen lẫn nhau với các cặp phạm trù đối lập, nhằm biểu đạt ý tưởng lớn của cả bài. Thơ Chế Lan Viên đa diện, đa chiều, nhiều tầng ngữ nghĩa, chủ yếu thể hiện ở chiều sâu, ở tầm triết lí, có sự gặp gỡ của hai nền thơ ca phương Tây và Phương Đông. Chế Lan Viên còn là một trong những số những nhà thơ hiếm hoi làm thơ tứ tuyệt thành công nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại, kết hợp hài hoà giữa cái đẹp truyền thống và hiện đại\" (Bích Thu - Từ điển tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004). 2. Tác phẩm: Tác phẩm đã xuất bản: Điêu tàn (1937); Gửi các anh (1954); ánh sáng và phù sa (1960); Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967); Những bài thơ đánh giặc (1972); Đối thoại mới (1973); Hoa trước lăng Người (1976); Hái theo mùa (1977); Hoa trên đá (1985); Tuyển tập Chế Lan Viên (2 tập, 1985); Di cảo I (1994); Di cảo II (1995); Về văn xuôi có các tập ký: Vùng Sai (1942); Thăm Trung Quốc (1963); Những ngày nổi giận (1966); Giờ của số thành (1977); Chế Lan Viên cũng là tác giả của những tập tiểu luận, phê bình trao đổi nghề nghiệp đặc sắc: Nói chuyện văn thơ (1960); Phê bình văn học (1962); Vào nghề (1962); Suy nghĩ và bình luận (1971); Bay theo đường dân tộc đang bay (1976); Nghĩ cạnh dòng thơ (1981); Tứ gác Khuê Văn đến Quán Trung Tân (1981). - Chế Lan Viên đã được tặng Huân chương Độc lập hạng Hai (năm 1988). Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt I - 1996); Giải A Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985 (tập thơ Hoa trên đá) và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1994 (Di cảo I và Di cảo II). II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM 1. Hình tượng bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò. Đó là con cò trong ca dao truyền thống, xuất hiện rất phổ biến và được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng ý nghĩa phổ biến nhất là hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng luôn thể hiện được những đức tính tốt đẹp và niềm vui sống. 2. Bài thơ được tác giả chia làm ba đoạn: Đoạn 1: hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ. 68
Đoạn 2: hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo con người đi suốt cuộc đời. Đoạn 3: từ hình ảnh con cò, nhà thơ suy ngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người. 3. Trong đoạn đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng những câu ca dao: Con cò bay lả bay la Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng Con cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng Con cò mày đi ăn đêm Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con. Trong hai bài ca dao trước, hình ảnh con cò gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc, nhịp điệu nhẹ nhàng, thong thả của cuộc sống thời xưa. Trong bài ca dao sau (Con cò mày đi ăn đêm...), hình ảnh con cò lại tượng trưng cho những con người, nhất là người phụ nữ đang nhọc nhằn, vất vả để kiếm sống nuôi con. 4. Hình tượng trung tâm trong bài thơ là cánh cò nhưng cảm hứng chủ đạo lại là tình mẹ. Hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng của người mẹ. Bởi vậy, những câu thơ mang tính khái quát trong bài đều là những câu thơ chan chứa tình cảm yêu thương của người mẹ: Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con. Đó là một quy luật tình cảm bền vững và sâu sắc, thể hiện tình cảm yêu thương vô bờ bến của người mẹ. Dù ở đâu, bên mẹ hay đến phương trời khác, dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì con vẫn được mẹ hết lòng thương yêu, che chở. Một con cò thôi Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi. Lời ru cũng là khúc hát yêu thương. Sự hoá thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa, kết tụ những hi sinh, gian khổ, nhọc nhằn để những lời yêu thương càng trở nên sâu sắc, đằm thắm. Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp. Cánh cò vỗ qua nôi như dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ. 5. Một số đặc điểm nghệ thuật của bài thơ Về thể thơ: Trong bài thơ này, tác giả sử dụng thể thơ tự do nhưng các đoạn thường 69
được bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp gợi âm điệu lời ru. Tuy nhiên, trong bài thơ, ta còn nhận thấy giọng suy ngẫm, triết lí. Về hình ảnh: Hình ảnh con cò trong ca dao trở thành điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng của tác giả. Những hình ảnh trong bài thơ vừa rất gần gũi, xác thực nhưng đồng thời cũng giàu ý nghĩa biểu tượng và sắc thái biểu cảm. - Nhịp điệu linh hoạt của thể thơ tự do đã giúp tác giả thể hiện một cách đặc sắc hình tượng con cò trong lời hát ru của bà mẹ. 6. Hình ảnh con cò không mới, nhưng bắt nguồn từ mạch trữ tình tha thiết trong ca dao, bài thơ Con cò là sự kết tinh giữa cảm hứng trữ tình dân gian và chất triết lí giản dị mà sâu sắc của tác giả Hoa ngày thường - Chim báo bão. MÙA XUÂN NHO NHỎ (Thanh Hải) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Nhà thơ Thanh Hải (1930-1980) quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông hoạt động văn nghệ trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mĩ và là một trong số những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam thời kì đầu. 2. Tác phẩm: Tác giả đã xuất bản các tập thơ: Những đồng chí trung kiên (1962); Huế mùa xuân (tập 1 - 1970, tập 2 - 1975); Dấu võng Trường Sơn (1977); Mưa xuân đất này (1982); Thanh Hải thơ tuyển (1982). Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ thể hiện niềm yêu mến thiết tha với cuộc sống, với đất nước và ước nguyện chân thành của tác giả về một cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn. 3. Tóm tắt: Bài thơ gồm bốn đoạn: - Khổ đầu (6 dòng thơ): cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời; - Hai khổ 2, 3 (từ \"Mùa xuân người cầm súng\" đến \"cứ đi lên phía trước\"): hình ảnh mùa xuân đất nước; - Hai khổ 4, 5 (từ \"Ta làm con chim hót\" đến \"Dù là khi tóc bạc\"): những suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ trước thiên nhiên đất nước; - Khổ thơ cuối: Lời ca ngợi quê hương, đất nước qua điệu ca Huế. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM 1. Từ xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đến mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hiến \"mùa xuân nho nhỏ\" của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung. 2. Mùa xuân ở khổ thơ đầu là mùa xuân của thiên nhiên, đất trời với dòng sông xanh, 70
bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời - Chỉ bằng vài nét phác hoạ, tác giả đã vẽ ra cả không gian cao rộng với dòng sông, mặt đất, bầu trời bao la, với màu sắc tươi thắm (sông xanh, hoa tím biếc), với những âm thanh vang vọng (tiếng chim chiền chiện) của mùa xuân. Cảm xúc của tác giả trước cảnh mùa xuân được diễn tả qua hai câu thơ: Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Có nhiều cách hiểu về hai câu thơ này, tuy nhiên có thể hiểu \"từng giọt\" là \"những giọt mùa xuân\", là sự chuyển đổi các cảm giác, từ màu sắc, âm thanh, hình ảnh... sang hình khối, đường nét, một sự cụ tượng hoá những yếu tố vô hình (âm thanh, màu sắc...) thành một yếu tố hữu hình, có thể cảm nhận được bằng nhiều giác quan. Dù hiểu như thế nào thì hai câu thơ cũng thể hiện niềm say sưa ngây ngất của nhà thơ trước cảnh mùa xuân. 3. Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm về mùa xuân đất nước. Đó là khát vọng được hoà nhập vào cuộc sống, được cống hiến phần tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp. Nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên để nói lên ước nguyện của mình: muốn \"làm con chim hót\", muốn \"làm một cành hoa\"... Niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, như bông hoa toả hương sắc, mang đến vẻ đẹp cho cuộc đời. Đoạn thơ gợi cho ta những suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết sống, biết chăm lo cho cuộc đời chung và có thể đóng góp những gì tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. 4. Bài thơ có nhịp điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Đặc điểm ấy có được là nhờ nhà thơ đã sử dụng các yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ rất hiệu quả: Thể thơ năm chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhất là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. Cách gieo vần liền giữa các khổ thơ cũng góp phần toạ nên sự liền mạch cho cảm xúc. Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao...) với các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì sao...). Tứ thơ xoay quanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân của quê hương đất nước. Cách cấu tứ như vậy khiến cho ý thơ luôn tập trung, cảm xúc trong thơ không bị dàn trải. Mùa xuân nho nhỏ rất giàu nhạc điệu. Sự biến đổi rất linh hoạt giữa nhịp 3/2 và nhịp 2/3 chứng tỏ khả năng sử dụng thể thơ năm tiếng điêu luyện của Thanh Hải. Nếu nói bài thơ giàu chất dân ca thì trước hết cũng ở chính tiết tấu của lời thơ. Những câu thơ nhịp 2/3, đặc biệt là những cặp câu nhịp 2/3 rất có hiệu quả trong việc tạo ra âm hưởng giục giã, gợi tả cái hối hả, tha thiết, dấn bước của một mùa xuân nho nhỏ trong hoà ca mùa xuân đất nước. Giọng điệu của bài thơ thể hiện những biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn: vui, say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khi bộc bạch tâm niệm, sôi nổi, tha thiết ở đoạn kết. 5. Nhan đề của bài thơ là một sáng tạo độc đáo của Thanh Hải. Mùa xuân nho nhỏ là một cách nói hình tượng. Mùa xuân là cái trừu tượng, không hình hài cụ thể được diễn đạt một 71
cách thực thể gắn với tính từ nho nhỏ, một từ láy có tính gợi hình. Bài thơ có nhiều hình ảnh đặc sắc được xây dựng theo phương thức ẩn dụ, so sánh nhưng độc đáo nhất là hình ảnh: \"Một nốt trầm xao xuyến\"\". Hình ảnh này vừa thể hiện được chủ đề của bài thơ, vừa gợi biết bao liên tưởng sâu xa. Có lẽ, cũng bằng cách của một nốt trầm trong hoà ca ấy, Thanh Hải sẽ còn mãi xao xuyến trong lòng người đọc. Nhiều nhà thơ đã viết về mùa xuân với những sắc thái khác nhau: mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), mùa xuân xanh (Nguyễn Bính), xuân ý, xuân lòng (Tố Hữu)... Trong bài thơ này, ý nguyện của tác giả là muốn làm một mùa xuân nhưng chỉ là một mùa xuân nho nhỏ với khát khao được đóng góp công sức nhỏ bé của mình làm đẹp thêm mùa xuân đất nước. VIẾNG LĂNG BÁC (Viễn Phương) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Nhà thơ Viễn Phương sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang. Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, khá quen thuộc với bạn đọc thời kháng chiến chống đế quốc Mĩ. 2. Tác phẩm: - Tác phẩm đã xuất bản: Chiến thắng Hòa Bình (trường ca, 1953); Mắt sáng học trò (tập thơ, 1970); Nhớ lời di chúc (trường ca, 1972); Như mây mùa xuân (tập thơ, 1978); Phù sa quê mẹ (tập thơ, 1991); Anh hùng mìn gạt (tập truyện ký, 1968, tái bản nhiều lần); Sắc lụa Trữ La (tập truyện ngắn, đăng rải rác trên các báo ở Sài Gòn thời Mỹ tạm chiếm đóng, Nhà xuất bản Văn nghệ in 1988); Quê hương địa đạo (tập truyện và ký, tái bản nhiều lần). Ngoài ra, còn nhiều tập truyện thiếu nhi, tập thơ in chung với Lê Anh Xuân, tập truyện in chung với Lê Vĩnh Hòa. - Giải thưởng văn học: Giải nhì giải thưởng Cửu Long Nam Bộ (1954); Giải nhì cuộc thi viết cho thiếu nhi do Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh tổ chức; Giải thưởng Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, tặng thưởng ủy ban toàn quốc Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Giải nhì cuộc thi viết về bà mẹ Việt nam anh hùng. Sở Lao động thương binh xã hội, và liên hiệp văn học nghệ thuật và Hội phụ nữ thành phố tổ chức. - Bài thơ Viếng lăng Bác được viết khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng xong, đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam đã có thể thực hiện được mong ước ra viếng Bác. Trong niềm xúc động vô bờ của đoàn người vào lăng viếng Bác, Viễn Phương đã viết bài thơ này. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM 1. Niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào xen lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác được thể hiện qua giọng điệu vừa tha thiết, vừa trang nghiêm. 2. Hàng tre là hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả trong bài thơ. Đây là hình ảnh thực nhưng đồng thời cũng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó là hình ảnh thân thuộc của làng quê, của đất nước Việt Nam, một biểu tượng của dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất. Cuối bài thơ, hình ảnh hàng tre còn được lặp lại với ý nghĩa cây tre trung hiếu. Đó cũng là một 72
phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Cách kết cấu như vậy gọi là kết cấu đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh, gây ấn tượng sâu sắc và cảm xúc được nâng cao lên. 3. Tình cảm của nhà thơ, của mọi người đối với Bác đã được thể hiện qua sự kết hợp giữa những hình ảnh thực với những ẩn dụ đặc sắc: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ hai vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ vừa thể hiện được sự thành kính của nhà thơ và của cả dân tộc đối với Bác. Đến hai câu tiếp theo, hình ảnh \"dòng người đi trong thương nhớ\" là thực nhưng \"Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân\" lại là một ẩn dụ đẹp và rất sáng tạo, thể hiện sâu sắc những tình cảm thành kính, thiêng liêng của nhân dân đối với Bác. Đến khổ thứ ba, dòng người đang yên lặng đi qua linh cữu Bác trong nỗi nhớ thương và xót xa vô hạn. Không khí tĩnh lặng, khung cảnh yên tĩnh nơi đây đã khiến cho ngay cả hình ảnh thơ cũng thay đổi: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Hình ảnh mặt trời rực đỏ trong lăng đã được thay bằng vầng trăng \"sáng dịu hiền\". Sự thay đổi ấy thể hiện rất nhiều ý nghĩa. Bác không chỉ là một người chiến sĩ cách mạng, là ngọn đuốc sáng soi đường cho dân tộc (ý nghĩa biểu tượng từ mặt trời), Bác còn là một người Cha có \"đôi mắt Mẹ hiền sao!\". Hình ảnh vầng trăng còn gợi ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng của Người. Đến hai câu thơ sau, mạch xúc cảm ấy đã được bộc lộ trực tiếp: Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim. Đây là những câu thơ hết sức chân thành, mãnh liệt. Tình cảm mãnh liệt của tác giả đã khiến cho câu thơ vượt lên trên ý nghĩa biểu tượng thông thường, đồng thời tạo nên một mạch liên kết ngầm bên trong. Hình ảnh Bác được ví với mặt trời rực rỡ, với mặt trăng dịu mát, êm đềm và với cả trời xanh vĩnh cửu. Đó đều là những vật thể có ý nghĩa trường tồn gần như là vĩnh viễn nếu so với đời sống của mỗi cá nhân con người. Mặc dù vậy, tác giả vẫn thốt lên: \"Mà sao nghe nhói ở trong tim\". Đó là lời giãi bày rất thực, xuất phát từ những tình cảm mãnh liệt của nhân dân, đồng bào đối với Bác. Thông thường, trong những hoàn cảnh tương tự, việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ là một thủ pháp nhằm giảm nhẹ nỗi đau tinh thần. Mặc dù vậy, tác giả thốt lên: \"Mà sao nghe nhói ở trong tim\". Dường như nỗi đau quá lớn khiến cho những hình ảnh ẩn dụ trở nên không còn ý nghĩa, chỉ có cách diễn tả trực tiếp tâm trạng mới có thể giúp nhà thơ giãi bày tình cảm của mình. Khổ thơ cuối thể hiện ước nguyện của nhà thơ được mãi mãi ở bên Bác. Đã đến giờ phút phải chia tay, tác giả chỉ có thể biểu hiện tấm lòng mình bằng ước muốn hoá thân vào những cảnh vật, sự vật ở bên Bác: muốn làm con chim cất cao tiếng hót, muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây, và nhất là muốn làm cây tre trung hiếu để có thể mãi mãi ở bên Bác. 4. Đặc sắc nghệ thuật: 73
Giọng điệu trong bài thơ thể hiện rất nhiều tâm trạng: đó là giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa xót xa, tha thiết lại chan chứa niềm tin và lòng tự hào, thể hiện đúng những tâm trạng bộn bề của bao người khi vào lăng viếng Bác. Bài thơ sử dụng thể 8 chữ là chủ yếu nhưng có những câu 7 chữ hoặc 9 chữ. Nhịp điệu trong thơ chậm rãi, khoan thai, diễn tả khá sát hình ảnh đoàn người đang nối nhau vào cõi thiêng liêng để được viếng Bác, để được nghiêng mình thành kính trước vong linh của một người Cha nhưng cũng đồng thời là một vị anh hùng dân tộc. Hình ảnh thơ trong bài rất sáng tạo, vừa cụ thể, xác thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng. Những hình ảnh ẩn dụ như hàng tre, mặt trời, vầng trăng, trời xanh... tuy đã rất quen thuộc nhưng khi đi vào bài thơ này đã thể hiện được những ý nghĩa rất mới mẻ, có sức khái quát cao đồng thời cũng chan chứa tình cảm của tác giả, của đồng bào miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đối với Bác. SANG THU (Hữu Thỉnh) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh năm 1942, quê ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội. Ông là Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam (1976). Hữu Thỉnh sinh ra trong một gia đình nông dân có truyền thống nho học. Đã trải qua tuổi thơ ấu không dễ dàng, chỉ thực sự được đi học từ sau hòa bình lập lại (1954). Tốt nghiệp phổ thông (1963), sau đó vào bộ đội Tăng - Thiết giáp và nhiều năm tham gia chiến đấu tại các chiến trường Đường 9 - Nam Lào (1970 - 1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau 1975, học Đại học Văn hóa (Trường viết Văn Nguyễn Du khóa I). Từ 1982: Cán bộ biên tập, Trưởng ban thơ, Phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ 1990 đến nay, chuyển ngành ra Hội Nhà Văn Việt Nam, làm Tổng biên tập Tuần báo Văn nghệ. Đã tham gia Ban chấp hành Hội Nhà Văn các khóa 3, 4, 5, ủy viên Ban thư ký khóa 3. Hiện nay là Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam. - \"Trước khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đã là một người lính, sống thật sự cuộc sống của mình giữa lòng cuộc chiến đấu của dân tộc. Hình tượng người lính và hiện thực lớn lao, sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho các tập thơ của Hữu Thỉnh. Ngay ở tập thơ Âm vang chiến hào, Hữu Thỉnh đã có một giọng điệu riêng chân thật trong cảm xúc, tinh tế và có nhiều tìm tòi trong cách biểu hiện. Sức bề của đất, Trên một chiếc xe tăng và Chuyến đò đêm giáp ranh là những bài thơ được nhiều người biết tiếng. Một trong những đặc điểm điểm đưa đến sự thành công trong thơ Hữu Thỉnh là sự vận dụng nhuần nhuyễn và linh hoạt, những câu tục ngữ, ca dao dân gian. Nét đặc trưng này cũng là một điểm mạnh và là yếu tố cơ bản hình thành cá tính thơ Hữu Thỉnh làm nên nét đặc sắc cho thơ ông Trương ca Đường tới thành phố ra đời đã thực sự đánh dấu một giai đoạn trưởng thành của thơ Hữu Thỉnh. Hiện thực của mỗi thời chiến trận đã được thể hiện với một qui mô và chiều dày hơn hẳn những tác phẩm ở các giai đoạn trước. Bằng những hình tượng tiêu biểu đầy cảm xúc, chặng đường dẫn đến chiến thắng của dân tộc được miêu tả và lí giải hợp lí, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, trong đó có khá nhiều những câu thơ tài hoa xúc động. Trường ca Biển viết về đảo Trường Sa là một cuộc đối thoại khôn cùng giữa con người và biển cả. Nhiều suy nghĩ và chiếm nghiệm sâu sắc về cuộc đời đã được thể hiện trong đó. 74
Trước đây những câu thơ hay của Hữu Thỉnh thiên về cảm. Bây giờ câu thơ của ông đậm màu triết luận, có sức nặng của ông đậm màu triết luận, có sức nặng của suy ngẫm và chiêm nghiệm. Chất lượng thơ Hữu Thỉnh thể hiện một quá trình phấn đấu không ngừng. Tập Thư mùa đông là một nỗ lực tự vượt lên mình của ông\" (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, Sđd). 2. Tác phẩm: - Hữu Thỉnh chủ yếu làm thơ. Các tác phẩm chính đã xuất bản: Âm vang chiến hào (in chung); Đường tới thành phố (trường ca); Từ chiến hào tới thành phố (trường ca - thơ ngắn); Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung); Thư mùa Đông, Trường ca Biển. Ngoài ra còn viết nhiều bút ký văn học, viết báo. Các giải thưởng chính thức: Giải 3 cuộc thì báo Văn nghệ 1973, Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1975 - 1976), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980, Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1995, Giải xuất sắc Bộ Quốc phòng 1994, Giải nhất Bộ Giáo dục và Trung ương Đoàn 1991, Giải thưởng Asean 1998. Hữu Thỉnh rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài thơ hay về con người và cuộc sống nông thôn. - Bài thơ Sang thu được tác giả sáng tác năm 1977, thể hiện những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước biến thái của thiên nhiên từ hạ sang thu. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Không phải Thu mà là Sang thu. Thi nhân muôn đời yêu mến mùa thu, cũng không hiếm trường hợp say sưa trước những đổi thay của tạo vật khi đất trời giao chuyển. Đọc Sang thu của Hữu Thỉnh, thêm một lần ta được thưởng thức vẻ đẹp của sự cảm nhận tinh tế, những rung động của một tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ lúc thu sang. Nhưng sẽ chẳng có mấy ý nghĩa khi xúc cảm ấy chẳng mang nét duyên riêng. Người ta từng nói về Hữu Thỉnh với chất dân gian trong thơ. Quả vậy, ở đây, sự độc đáo bắt đầu bằng \"hương thu\": Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Gió chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Không phải lá ngô đồng, không phải hương cốm mới, không phải hoa cau rụng, mùa thu bất chợt hiện diện với hương ổi chín thơm lựng trong gió hanh se. Hai chữ phả vào vừa gợi ra cái bất chợt trong cảm nhận, vừa gợi ra một cách thực thể cái hương thơm của ổi, lại vừa gợi ra sự vận động nhẹ nhàng của gió. Từ chùng chình gợi ra sự lay động của cây lá, vẻ tư lự của lòng người, cái man mác của không gian chớm thu. Sao lại là hình như chứ không phải là chắc chắn? Một chút nghi hoặc, một chút bâng khuâng, có cái gì đó không thật rõ ràng. Đúng là một trạng thái cảm xúc của thời điểm chuyển giao. Cảm xúc ấy tiếp tục lan toả, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn: Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Sự vận động của mùa được cụ thể hoá bằng những sắc thái đổi thay của tạo vật. Đó là vẻ 75
\"dềnh dàng\" của dòng sông, cái \"bắt đầu vội vã\" của cánh chim và, thật đặc biệt, đám mây mang trên mình cả hai mùa. Tất cả đang hoà trong khúc biến tấu giao mùa. Có cái gì đang mơ hồ xâm chiếm, đang thay thế, đang mờ đi, nhạt ra, đang trôi. Không có gì hiện ra thật sắc nét, không có gam màu tương phản nào, ngay cả ở hai nửa của một đám mây thuộc về hai mùa khác biệt. Không phải vẻ đẹp của mùa hạ, cũng không phải vẻ đẹp của mùa thu, mà là vẻ đẹp của chính sự chuyển mùa, vẻ đẹp của tâm hồn con người gần gũi, giao cảm với thiên nhiên để lắng nghe và dự cảm: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. Khoảnh khắc giao mùa được cảm nhận bắt đầu từ hương ổi phả trong gió se chùng chình qua ngõ, cái \"hình như\" của lòng người, vẻ dềnh dàng của sông, vội vã của chim,... và đến đây là nắng, là mưa, là sấm, hàng cây. Chưa hết hẳn cái nắng của mùa hè nhưng những cơn mưa đã không còn ào ạt. Hai chữ \"bao nhiêu\" nghe như say mê, như luyến tiếc. Nắng lắm thì mưa nhiều. Đó là đặc điểm của mùa hè. Nhưng nắng vẫn còn mà mưa thì đã vơi dần. Vơi dần thì không chỉ là ít mưa đi mà còn là mưa ít nước đi. Đây cũng là dấu hiệu của sự chuyển mùa. Rồi đây, nắng sẽ hanh hao, mưa sẽ trở nên hoạ hoằn. Khi ấy mới thực sự là thu. Tưởng chừng chỉ là những câu thơ tả cảnh mà thực ra là kín đáo bộc lộ xúc cảm giao mùa, những rung động ngọt ngào của lòng người trong mối luyến giao thấm quyện với thiên nhiên. Bài thơ khép lại với hình ảnh sấm và hàng cây vừa có tính tả thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ, gợi ra những suy tư thâm trầm. Cuối hạ - đầu thu, khi đã không còn những cơn mưa xối xả thì sấm cũng bớt bất ngờ và dữ dội. Hàng cây đứng tuổi là hàng cây đã qua bao cuộc chuyển mùa? Không biết chính xác là bao nhưng chắc cũng đủ để điềm nhiên trước những biến động. Tựa như con người lịch lãm, từng trải có thể bình tâm, đạt được trạng thái ôn tồn trước những vang chấn của ngoại cảnh. Với hình ảnh thơ tự nhiên, không chau chuốt mà giàu sức gợi cảm, thể thơ năm chữ vắt dòng tạo ra những liên tưởng thú vị, nhà thơ Hữu Thỉnh đã thể hiện một cách đặc sắc những xúc cảm tinh tế trước bước chuyển giao của mùa. Qua đó bộc lộ một tình cảm yêu mến thiên nhiên, một tâm hồn nhạy cảm, sâu sắc. NÓI VỚI CON (Y Phương) I - GỢI Ý 1. Tác giả: - Nhà thơ Y Phương có tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, sinh năm 1948, tại quê gốc: xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, hiện ở Hà Nội. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1988). Y Phương nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981 chuyển về công tác tại Sở Văn hóa Thông tin Cao Bằng. Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du. - \"Trong số các tác giả thơ xuất hiện từ sau 1975 đến nay, Y Phương là một nhà thơ có 76
bản sắc tương đối rõ, một giong điệu đáng chú ý trong nền thơ Việt Nam nói chung và trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng. Thơ Y Phương là tiếng hát ngợi ca con người và cuộc sống miền núi (Tiếng hát tháng Giêng), là sự thức tỉnh ý thức và tinh thần dân tộc (Lời chúc), lặ khẳng định sức sống mãnh mẽ của dân tộc mình (Đàn then). Thơ Y Phương lúc nào cũng toát ra tình yêu và lòng nhân ái. Thắm thiết và mạnh mẽ hơn cả trong thơ Y Phương là tình yêu quê hương, làng bản. Bản sắc dân tộc trong thơ Y Phương thể hiện rõ nét nhất trong một loạt bài thơ viết về tình quê hương: Tên làng, Nói với con, Người khai sinh bài ca, Bài ca thứ 9, Sông Hiến đang yêu... Yêu quê hương tức là yêu dân tộc mình, tự hào và gắn bó với dân tộc mình, đó cũng là một cảm hứng lớn trong thơ của Y Phương. Điều quan trọng hơn là từ tình cảm của mình. Y Phương đã khái quát được số phận của cả một dân tộc. Nét độc đáo của Y Phương còn được bộc lộ rõ ở một số bài thơ viết về tình yêu. ở đó, ông đã thể hiện tâm hồn của một người miền núi chân thật, mạnh mẽ và trong sáng với cách tư duy sống động bằng hình ảnh của người dân tộc. Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt những màu sắc khác nhau, phong phú và đa dạng, nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo, âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo. Nét độc đáo đó nằm ở cả nội dung và hình thức. Với Y Phương, thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt Nam nói chung có thêm một giọng điệu mới, một phong cách mới (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, Sđd). 2. Tác phẩm: - Tác phẩm đã xuất bản: Người hoa núi (kịch bản sân khấu, 1982); Tiếng hát tháng giêng (thơ, 1986); Lửa hồng một góc (thơ, in chung, 1987); Lời chúc (thơ, 1991); Đàn then (thơ, 1996). Nhà thơ đã được nhận: Giải A, cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội, Giải thưởng loại A giải thưởng văn học 1987 của Hội Nhà văn Việt Nam Giải A, giải thưởng (Hội đồng văn học dân tộc) Hội Nhà văn Việt Nam 1992. - Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Nói với con, nhà thơ Y Phương cho biết: Những năm cuối bảy mươi đầu tám mươi của thế kỷ hai mươi, đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng, vô cùng khó khăn thiếu thốn. Bởi vì đất nước ta vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mĩ lâu dài và cực kì gian khổ. Hiện thực xã hội ấy đã tác động sâu sắc đến đời sống con người. Đại bộ phận nhân dân ta vẫn kiên trì khắc phục và tìm mọi cách để vượt qua để duy trì đời sống. Họ vẫn tồn tại và không ngừng sinh trưởng là không phải nhờ vào phép màu của lực lượng siêu nhiên nào mà chỉ dựa vào sức mạnh tinh thần của truyền thống văn hóa từ ngàn đời mà ông cha để lại. Cuối năm 1975, tôi cũng mới từ mặt trận trở về, sau 8 năm đánh giặc xa nhà nay trở về lấy vợ sinh con trong bối cảnh túng thiếu bần hàn chung của toàn xã hội. Nhìn các con cầm bát cơm ăn không thịt cá mà lòng xót đau khôn tả. Bởi chúng tôi cũng như nhiều gia đình cán bộ khác chỉ sống bằng đồng lương quá ít ỏi. Hàng hóa khan hiếm, giá cả leo thang từng ngày đến chóng mặt. Bên cạnh cái tốt của những người làm ăn lương thiện, không ít những con người bị tha hóa biến chất. Họ buôn gian bán lận, lợi dụng kẽ hở của nhà nước móc nối làm ăn phi pháp. ở miền Nam, một bộ phận nhỏ công chức dưới thời ngụy quyền Sài Gòn không chịu được đã tìm mọi cách để vượt biên trốn ra nước ngoài. Từ hiện thực khó khăn ngày ấy, tôi làm bài thơ này để tâm sự với chính mình, động viên mình, đồng thời là để nhắc nhở con cái sau này. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM 77
Ngợi ca tình quê hương, gia đình không phải là một đề tài mới. Xét về mặt đề tài, bài thơ Nói với con của Y Phương cũng vậy. Tuy nhiên, bài thơ có một sức sống riêng. Sức sống ấy có được là nhờ cách diễn đạt tình cảm độc đáo mang đậm bản sắc của người dân tộc miền núi. Đúng như nhận định: \"Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt những màu sắc khác nhau, phong phú và đa dạng, nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo, một âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo\"(1). Bài thơ Nói với con thể hiện tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui, tình quê hương tha thiết, sâu nặng, ngợi ca truyền thống nghĩa tình, sức sống mạnh mẽ của người dân tộc miền núi bằng \"ngôn ngữ thổ cẩm\" như thế. Có thể hình dung bố cục bài thơ thành hai phần. Tình cảm gia đình, quê hương đầm ấm, yên vui được tác giả thể hiện trong mười một câu thơ đầu. Tình quê hương tha thiết, sâu nặng, truyền thống nghĩa tình, sức sống mạnh mẽ của người dân tộc miền núi được tác giả thể hiện trong mười bảy câu thơ tiếp sau. Bài thơ mở ra với khung cảnh gia đình ấm cúng, đầy ắp tiếng nói tiếng cười: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Một mái nhà có cha và mẹ, con lớn lên trong tình thương yêu. Hơn thế nữa, con sinh ra, lớn lên trong tình yêu, trong vẻ đẹp của \"người đồng mình\": Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời. Suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc được diễn tả trực tiếp bằng hình ảnh. Tác giả đã vận dụng lối diễn đạt của chính người dân tộc miền núi để xây dựng hình ảnh thơ. Bằng cách diễn đạt như vậy, tác giả đã sáng tạo những hình ảnh vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát cao, mà vẫn giàu chất thơ bay bổng về vẻ đẹp trong cuộc sống của người dân tộc miền núi: Đan lờ cài nan hoa - Vách nhà ken câu hát - Rừng cho hoa; và về truyền thống nghĩa tình, gắn bó, sẻ chia: Con đường cho những tấm lòng. Người cha muốn con mình thấy được vẻ nên thơ của \"người đồng mình\" để mà \"yêu\". Cách diễn đạt độc đáo ấy còn được thể hiện ở những hình ảnh đặc sắc trong những câu thơ tiếp theo: Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn (1) Nguyễn Đăng Mạnh - Bùi Duy Tân - Nguyễn Như Ý: Từ điển tác gia tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường, sđd). 78
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con. Từ những câu bộc lộ một cách cụ thể tình cảm gia đình, nghĩa tình quê hương ở phần thứ nhất, sang phần thứ hai của bài thơ, tác giả mượn lời người cha nói với con về sức mạnh truyền thống, lòng thuỷ chung với quê hương. Lấy cái \"cao\", \"xa\" của trời đất làm chiều kích của nỗi buồn và chí hướng. Đó là tầm vóc của núi cao, rừng thẳm, của những Đam San, Xinh Nhã. Người cha nói cho con cũng là nhắn nhủ, khuyên răn con mình biết trân trọng nơi mình sinh thành (Sống trên đá không chê đá gập ghềnh - Sống trong thung không chê thung nghèo đói), sống hồn nhiên, cần cù, lạc quan để vượt qua gian khó (Sống như sông như suối - Lên thác xuống ghềnh - Không lo cực nhọc). Con hãy nhớ lấy những điều ấy, để mà \"thương\". Và cũng là để sống cho xứng đáng. Bởi vì, \"người đồng mình\" tuy mộc mạc, thô sơ nhưng không nhỏ bé. ở đây, ta lại bắt gặp lối nói độc đáo của người dân tộc miền núi, trong câu: Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương. Có thể thấy ở câu thơ này có hai lớp ý nghĩa: nghĩa thực và nghĩa ẩn dụ. \"Đục đá kê cao\" là hoạt động có thực, thường thấy ở vùng miền núi. Quê hương vốn là một khái niệm trừu tượng, chỉ một nơi chốn sinh thành của một con người nào đó, gia đình nào đó. Nói \"tự đục đá kê cao quê hương\" là muốn khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức bảo tồn nguồn cội. Lần thứ nhất người cha nói đến \"Người đồng mình thô sơ da thịt\" để nói cho con về sức sống mạnh mẽ của quê hương, sức mạnh truyền thống của quê hương; lần thứ hai, người cha nhắc lại như để con khắc cốt ghi xương rằng: quê hương mình tuy mộc mạc, chân chất, người đồng mình tuy thô sơ da thịt nhưng sống cao đẹp, nên trên đường đời con phải làm những điều lớn lao, con phải sống cao thượng, tự trọng để xứng đáng là \"người đồng mình\". Người cha đã truyền cho con mình vẻ đẹp, sức mạnh của truyền thống quê hương. Thể thơ tự do, với số câu chữ không theo khuôn định phù hợp với mạch cảm xúc tự nhiên, linh hoạt của bài thơ. Nhịp điệu lúc bay bổng, nhẹ nhàng, lúc khúc triết, rành rọt, lúc mạnh mẽ, sắc nhọn,... tạo ra sự cộng hưởng hài hoà với những cung bậc tình cảm khác nhau trong lời người cha truyền thấm sang con. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, hình ảnh mộc mạc, cô đọng mà vẫn phong phú, sinh động, quyến rũ. Y Phương thấu hiểu và bởi vậy lột tả được cái hồn cốt trong bản sắc truyền thống của người dân tộc miền núi. Cha nói với con hay chính là lời trao gửi thế hệ vậy! 79
BẾN QUÊ (Nguyễn Minh Châu) I - GỢI Ý 1. Tác giả: - Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989) sinh tại quê gốc: làng Thôi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1972). Vào các năm 1944-1945, Nguyễn Minh Châu học Trường Kỹ nghệ Huế. Năm 1945 ông tốt nghiệp Thành Chung. Tháng 1 năm 1950 ông học chuyên khoa Trường Huỳnh Thúc Kháng (Hà Tĩnh) và sau đó gia nhập quân đội theo học Trường Sỹ quan Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956 ông công tác tại Ban tham mưu tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961 ông theo học Trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962 về công tác tại phòng, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. - \"Hoạt động văn học của Nguyễn Minh Châu khá phong phú và có những thành công đáng trân trọng. Chỉ riêng về lĩnh vực sáng tác, nhiều tác phẩm của ông đã trở thành đề tài tìm hiểu của hàng trăm bài báo, bài nghiên cứu và những chuyên luận khoa học trong và ngoài nước. Đọc lại những trang viết của ông, đọc lại những bài viết về ông, có thể thấy rằng: về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu còn tiềm ẩn nhiều vấn đề, nhiều gợi ý có khả năng hứa hẹn cho việc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu ở những bình diện và phương pháp tiếp cận mới\"(1). 2. Tác phẩm: - Tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Minh Châu gồm nhiều thể loại: Cửa sông (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1967); Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, NXB Văn học, 1970); Dấu chân người lính (tiểu thuyết, NXB Thanh niên, 1972); Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1974); Miền cháy (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1977); Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1977); Những ngày lưu lạc (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1981); Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1982); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, NXB Tác phẩm mới, 1983); Đảo đá kì lạ (viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1985); Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1987); Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, NXB Tác phẩm mới, 1987); Cỏ lau (tập truyện vừa, NXB Văn học, 1989); Trang giấy trước đèn (tiểu luận phê bình, NXB Khoa học xã hội 1994); và nhiều bút ký, truyện ngắn khác đăng trên các báo. Với những cống hiến xuất sắc của mình trong hoạt động văn học nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã được nhận: Giải thưởng Bộ Quốc phòng (năm 1984-1989); Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1988-1989); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 2000). - Truyện ngắn Bến quê in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh Châu, xuất bản năm 1985. Trong truyện ngắn này, ngòi bút của nhà văn hướng vào đời sống thế sự nhân sinh thường ngày, với những chi tiết sinh hoạt đời thường để phát hiện những chiều sâu của cuộc sống với bao qui luật và nghịch lí, vượt ra khỏi cách nhìn, cách nghĩ trước đây của cả xã hội và của chính tác giả. (1) Nguyễn Trọng Hoàn - Nguyễn Minh Châu, về tác gia và tác phẩm - NXB Giáo dục, 2001. 80
II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM ấn tượng khi đọc Bến quê của Nguyễn Minh Châu là ấn tượng về một cái gì đó như là đứng trước \"mấy bông hoa cuối cùng còn sót lại trở nên đậm sắc hơn\", thẫm màu hơn, một màu tím thẫm như bóng tối\". Có cái gì xót xa phôi pha đi trong bóng tối, tha thiết hơn trong cái màu đậm sót lại kia. Nó tự là mình một lần cuối, thức nhận về chảy trôi và kết đọng một lần cuối trước khi hoà vào cái mong manh vĩnh cửu. Giống như hình ảnh Nhĩ khi kết truyện: \"mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai mắt long lanh chứa một nỗi mê say đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy\". Có khác thường không cái ham muốn cuối cùng của một đời người chỉ là nhờ con sang bến sông ngay bên nhà mình như thế này (?): \"Nhĩ tập trung hết sức còn lại để nói ra cái điều ham muốn cuối cùng của đời mình: - Bây giờ con sang bên kia hộ bố... - Để làm gì ạ? - Chẳng để làm gì cả. - Nhĩ có vẻ ngượng nghịu vì cái điều mình sắp nói ra quá ư kì quặc - Con hãy qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát, rồi về\". Có những sự thực vẫn tồn tại như nghịch lí. Tình huống tự sự của Bến quê, trước hết, độc đáo ở điểm này. Một con người \"đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất\" khi lâm bệnh nặng không thể đi được nữa mới chợt nhận ra \"một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến - cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình\". Khi có thể tới được Bến quê một cách dễ dàng thì không nghĩ tới, không tới; khi không thể tới được thì lại \"say mê\", \"ham muốn\" - đó là nghịch lí. Ngịch lí ấy nói lên một sự thật là: có khi, cái người ta mơ ước, khát khao, cái người ta không thể có không phải điều gì to tát, lớn lao mà lại là những điều hết sức nhỏ bé, thường tình. Người ta vươn tới chính những giá trị bình dị. Mảnh đất mơ ước ở ngay bến sông quê đây thôi. Cốt truyện của Bến quê thuộc loại \"cốt truyện tâm lí\". Tình huống mà ta gọi là nghịch lí trên đây chỉ là nghịch lí trong sự tự ý thức cao độ của nhân vật. Nếu không nhận thức một cách sâu sắc về ý nghĩa đích thực của những cái gần gũi, bình dị, nếu đã không từng đặt chân tới mọi xó xỉnh của trái đất như Nhĩ thì việc chưa từng đặt chân đến cái bến sông cạnh nhà, việc không thể tới được mảnh đất mơ ước quá đỗi gần gụi kia sẽ không khác thường, không nghịch lí, sẽ lại trôi tuột đi như lẽ thường vẫn thế. Tình huống âý là tình huống để nhân vật bộc lộ cái thế giới bên trong, để \"phân tích\" niềm \"mê say đầy đau khổ\" của con người đang tiến dần tới hạn mút cuối cùng của sự sống, để thấy được cái giản dị nhưng bền vững của chân lí nhân sinh. Nghĩa là sức nặng của toàn bộ thiên truyện dồn cả vào sự thể hiện thế giới nội tâm của Nhĩ. Có thể thấy mạch tâm trạng của Nhĩ diễn ra theo hai chặng: trước và sau khi Nhĩ nhờ anh con trai sang sông. Tác giả không cho chúng ta biết rằng trước khi lâm bệnh Nhĩ làm nghề gì, địa vị xã hội ra sao nhưng bằng vào chi tiết Nhĩ được đi khắp nơi trên thế giới, có thể đoán định được anh là một người có vị trí quan trọng. Nhưng chính cái thời gian Nhĩ ốm liệt giường mới là quãng thời gian quan trọng, có ý nghĩa lớn hơn cả so với cả một đời bôn ba. Khi đó, anh được gần gũi với vợ con, và nhờ vậy lần đầu tiên Nhĩ thấy được tấm áo vá của người vợ cả đời chịu thương chịu khó hi sinh vì chồng. Tình cảnh ốm đau đã kéo anh về với những gì thường tình nhất của cuộc sống. Anh cảm nhận được cái nhẫn nhục đẹp đẽ của vợ mình qua \"tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc thang mòn lõm\". Niềm 81
khao khát được khám phá vẻ đẹp của bờ bãi bên kia sông chỉ có thể được nhen lên, day dứt, mãnh liệt khi Nhĩ sống trong cuộc sống đời thường. Cuộc sống ấy đem lại cho anh một cách nhìn, cách nghĩ mới, chân thực, dung dị hơn, đồng thời thôi thúc anh thực hiện ước vọng cuối cùng của cuộc đời, cái mong muốn vốn dễ dàng với người khác, với chính anh khi còn khoẻ mạnh thì giờ đây trở thành thách thức ghê gớm, thậm chí là không thể. Anh con trai không thể hiểu được đằng sau cái mong muốn \"kì quặc\" của người cha sắp từ giã cõi đời là cả một câu chuyện mang ý nghĩa triết lí cuộc đời. Giống như Nhĩ đã từng chưa bao giờ nghĩ tới mảnh đất bến quê sông Hồng kề cạnh nhà mình. Chính Nhĩ cũng tự nhận thấy \"càng lớn thằng con anh càng có nhiều nét giống anh\". Dường như trong Nhĩ đang diễn ra một cuộc đối chất: cha / con - hiện tại / quá khứ. Con trai anh đang sống những tháng ngày như anh đã từng sống, ham mê những điều như anh từng ham mê và không nhận ra được giá trị của cái bình dị, nhỏ bé nhưng đích thực như anh đã từng không nhận ra. Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nhiều chi tiết, hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. ở phần đầu truyện là hình ảnh những bông hoa bằng lăng còn sót lại, là màu vàng thau xen lẫn màu xanh non của bãi bồi bên kia sông Hồng, là \"những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ\", Khi đứa con trai ra đi để thực hiện hành trình tới bến quê, song hành, Nhĩ cũng thực hiện một hành trình nhọc nhằn, \"đau nhức\". Chàng trai trẻ, người có thể thực hiện chuyến sang sông một cách dễ dàng thì đang \"chùng chình\" bởi những thế cuộc tướng sĩ và không thấy được ý nghĩa của hành trình. Người không còn thời gian nữa thì tự mình chỉ thực hiện được một nửa của hành trình dài một mét từ nệm nằm tới cửa sổ! Những khoảng không gian trong mối liên hệ thời gian như là biểu tượng của nghịch lí bừng ngộ, ở những chặng khác nhau của sự thám hiểm cuộc đời: \"Vừa nghe Tuấn nện lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài chiếc nệm nằm, anh tưởng mình vừa bay được một nửa vòng trái đất - trong một chuyến đi công tác ở một nước bên Mĩ La-tinh hai năm trước đây. Anh mệt lử. Và đau nhức. Ngồi lại nghỉ một chặng và chỉ muốn có ai đỡ cho để nằm xuống... Lũ trẻ tiếp sức cho anh, giúp anh đi nốt \"nửa vòng trái đất\" còn lại: \"Cả bọn trẻ xúm vào, và rất nương nhẹ, giúp anh đi nốt nửa vòng trái đất - từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản, khoảng cách ước chừng năm chục phân\". Đó là ân huệ mà cuộc đời dung dị, hồn nhiên đem lại cho Nhĩ. Anh hướng tới khoảng không gian mơ ước bên ngoài cánh cửa sổ nhờ những bàn tay \"chua lòm mùi dưa\". Lại là sự cứu cánh của cái bình dị. \"Ngay lúc ấy\", bắt đầu từ lúc Nhĩ được ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ, khi hình ảnh của \"cái miền đất mơ ước\" hiện ra ngay trước mắt anh, trong con người chất chứa nghịch lí ấy diễn ra dòng suy tưởng sâu sắc. Với ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Minh Châu đã khắc hoạ thành công tâm trạng của nhân vật này. Hình ảnh con đò ngang với cánh buồm nâu bạc trắng hiện ra qua cái nhìn của con người đang khao khát bến bờ cũng mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là \"nhịp cầu\" nối tới bến quê mơ ước:... \"cái vật mà Nhĩ nhìn thấy trước tiên khi được ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ là một cánh buồm vừa bắt gió căng phồng lên. Con đò ngang mỗi ngày chỉ qua lại một chuyến giữa hai bên bờ ở khúc sông Hồng này vừa mời bắt đầu chống sào ra khỏi chân bãi bồi bên kia, cánh buồm nâu bạc trắng vẫn còn che lấp gần hết cái miền đất mơ ước\". Biết đâu Nhĩ không còn đủ sức để chờ chuyến đò của ngày hôm sau thì sao! Người con trai mang theo \"sứ mệnh\" thực hiện niềm mơ ước cuối cùng của anh \"đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố. Suốt đời Nhĩ cũng đã từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè 82
phố, thật là không dứt ra được\". Nó có thể bị nhỡ chuyến đò sang sông. Cả đời Nhĩ đã nhỡ chuyến đò ấy. Trong sự lo lắng, khắc khoải vốn thường trực của một người đang sống những giờ phút cuối cùng, Nhĩ đã ngẫm ra: \"con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có cái gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết\". Người ta khó có thể làm lại được những gì thuộc về quá khứ, không thể đi lại những chuyến đò đã nhỡ. Cái bến quê rất gần, và không khó khăn gì để đến đó, nhưng nếu cứ mắc vào cái mớ \"chùng chình\" thế cuộc rất có thể ta sẽ không bao giờ đến được. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả để cho hình ảnh Liên - vợ Nhĩ xuất hiện trong dòng suy nghĩ của nhân vật này:... \"cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa, và cũng chính nhờ có điều đó mà sau những ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm... Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này\". Liên như là hiện thân của cái bến quê mà Nhĩ đã từng không nhận ra. Nhĩ nhìn thấy tấm áo vá của vợ khi anh đã nhận thức được giá trị của cái gần gũi, bình dị. Sự tần tảo, chịu đựng hi sinh ở Liên cũng là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Không phải khi Nhĩ nhận ra những cái đó mới có, nó là vẻ đẹp bền vững muôn đời nhưng chỉ khi Nhĩ ý thức một cách sâu sắc về \"bến quê\" thì anh mới phát hiện ra nó, cảm nhận được nó. Giống như hình ảnh \"từng mảnh vá trên lá buồm cánh dơi in bật trên một vùng nước đỏ\" chỉ có thể rõ ràng đến thế khi con đò ngang nối liền với bến quê lại gần bờ bên này, lại gần anh, để Nhĩ có được cảm giác \"chính mình trong tấm áo màu xanh trứng sáo và chiếc mũ nan rộng vành, như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa\". Truyện khép lại bằng hình ảnh \"chuyến đò ngang mỗi ngày một chuyến... vừa chạm vào cái bờ đất lở dốc đứng phía bên này\". Bên này là thị thành, bên kia là bến quê. Bên này chông chênh xói lở, bên kia vững vàng bồi đắp. Sự tương phản này như một lời cảnh tỉnh về nhận thức, ý thức giữ gìn những giá trị bình dị, vẻ đẹp của cái thân tình, gần gũi, để người ta không phải thảng thốt bởi \"những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ\". Giống hoa bằng lăng nhợt nhạt từ khi mới nở bỗng cháy thẫm lên những bông cuối cùng như xác nhận xót xa trước cái mong manh chảy trôi của tạo hoá. Nhĩ muốn con trai mình không lặp lại con đường tới những giá trị đích thực như anh đã trải qua. Day dứt, trăn trở như thế âu cũng còn lại được gì đó khi nằm xuống để những tảng đất đổ ập xuống chốn không cùng. NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI (Lê Minh Khuê) I - GỢI Ý 1. Tác giả: Nữ nhà văn Lê Minh Khuê sinh năm 1949 tai xã An Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1980), hiện ở Hà Nội. Tốt nghiệp phổ thông trung học, Lê Minh Khuê tham gia đội thành niên xung phong chống Mĩ cứu nước. Những năm tháng vất vả gian nan mà hào hùng ở ngoài tuyến lửa đã tạo 83
cảm hứng cho những sáng tác của chị sau này. Năm 1969 chị là phóng viên báo Tiền phong. Năm 1973-1977 phóng viên Đài phát thanh Giải phóng và sau đó là Đài Truyền hình Việt Nam. Từ 1978 đến nay, nhà văn Lê Minh Khuê là biên tập viên văn học Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Là nhà văn sở trường về truyện ngắn, từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê đã bám sát những biến chuyển của đời sống, đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc của xã hội thời đổi mới. Ngòi bút miêu tả tâm lí của Lê Minh Khuê khá sắc sảo, nhất là khi miêu tả tâm lí phụ nữ. 2. Tác phẩm: - Tác phẩm đã xuất bản: Cao điểm mùa hạ (1978); Đoàn kết (1980); Thiếu nữ mặc áo dài xanh (1984); Một chiều xa thành phố (1987); Em đã không quên (1990); Bi kịch nhỏ (1993); Lê Minh Khuê - truyện ngắn (1994), Trong làn gió heo may (1998),... Nhà văn đã được nhận: Giải thưởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 (Tập truyện ngắn: Một chiều xa thành phố). - Truyện Những ngôi sao xa xôi viết về ba cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom ở một cao điểm trong thời kì cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ đang diễn ra khốc liệt. Miêu tả các cô gái hằng ngày, hằng giờ đối mặt với hiểm nguy nhưng sức hấp dẫn của truyện không phải ở những chi tiết, sự kiện hồi hộp, nóng bỏng mà ở khả năng miêu tả đời sống tâm hồn con người khá sinh động, sâu sắc của tác giả. 3. Tóm tắt: Tác phẩm là câu chuyện kẻ về cuộc sống và chiến đấu của ba nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn những năm chống Mĩ ác liệt nhất. Thao, Định, Nho là ba cô gái thuộc tổ \"trinh sát mặt đường\" với nhiệm vụ phá bom, lấp đường để đảm bảo sự an toàn cho những chuyến xe chở đạn dược và bộ đội vào chiến trường miền Nam. Công việc của họ là một ngày từ ba đến năm lần xông lên cao điểm sau những trận bom để lấp hố bom, san đường. Những lúc được thảnh thơi, họ lại trở về cái hang dưới chân cao điểm ngôi nhà của họ. Ba cô gái với ba tính cách khác nhau, ba ý thích, lối sinh hoạt khác nhau nhưng đều có một điểm chung là rất dũng cảm, làm việc hết mình. Khi đối diện với hiểm nguy họ rất cứng cỏi, nhưng trong cuộc sống, giữa những giây phút yên bình hiếm hoi thì họ lại rất trẻ trung, tươi vui và yêu đời. Ba cô gái sống với nhau thân thiết như ba chị em ruột thịt. Khi Nho bị thương, Được và chi Thao rất lo lắng, họ đau như chính họ là người bị bom vùi. Câu chuyện có sự đan xen liên tục hai nội dung: cuộc chiến đấu quyết liệt với bom đạn và cuộc sống hồn nhiên, trẻ trung của ba nữ thanh niên xung phong. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Những ngôi sao xa xôi là một nhan đề lãng mạn, rất đặc trưng của văn học thời kháng chiến chống Mĩ. Rất gần với Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu ở ý nghĩa biểu tượng từ đó cũng toả ra một thứ ánh sáng dịu dàng \"mát mẻ như núi\", cái ánh sáng ẩn hiện xa xôi, có sức mê hoặc lòng người. Đó là biểu tượng về sự ngời sáng của phẩm chất cách mạng trong những cô gái thanh niên xung phong Trường Sơn. Thao, Định, Nho hay Nguyệt, Quỳ của Nguyễn Minh Châu đều là những \"mảnh trăng\", những \"ngôi sao xa\" nơi cuối rừng Trường Sơn, đều sáng ngời vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Khai thác một đề tài quen thuộc đã làm nên nhiều tên tuổi lớn trên văn đàn nhưng với khả năng sáng tạo và hiện thực những ngày từng lăn lộn với chiến trường Trường Sơn, Lê Minh Khuê đã làm cho tác phẩm của mình có được một chỗ đứng vững vàng trong đội ngũ đông đảo những sáng tác 84
trong kháng chiến chống Mĩ. Người kể chuyện đồng thời là nhân vật trong truyện, trực tiếp tham gia vào các diễn biến của sự kiện. Câu chuyện được phát triển theo hướng nhìn, điểm nhìn và dòng suy tư của Phương Định cô gái Hà Nội còn rất trẻ, rất dịu dàng và cũng rất kiên trung. Việc lựa chọn điểm nhìn này đã giúp nhà văn đi sâu khai thác diễn biến tâm lí nhân vật (trong chiến đấu và trong sinh hoạt), từ đó làm ngời sáng phẩm chất tốt đẹp của họ. Đây chính là điểm thành công của nhà văn. Nhìn chung trong văn học chống Mĩ, các nhà văn thường ít chú ý đến việc khai thác tâm lí nhân vật, nhân vật chủ yếu được xây dựng bằng những hành động anh hùng. Cô Nguyệt của Nguyễn Minh Châu, \"mảnh trăng\" tiêu biểu, tập trung đầy đủ đến mức lí tưởng vẻ đẹp của người nữ thanh niên xung phong Trường Sơn nhưng lại thiếu hẳn chiều sâu tâm lí. Với Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê đã tập trung chú ý đến việc thể hiện tâm lí nhân vật bên cạnh việc miêu tả những hành động anh hùng của họ. Để nhân vật tự bộc lộ mình bằng hành động và suy nghĩ, nhà văn đã tạo nên giá trị chân thực cho hình tượng nghệ thuật. Nỗi buồn, niềm vui, nỗi nhớ và cả những suy tư của nhân vật được thể hiện rất tự nhiên và chân thực. Điểm nhìn trần thuật ngôi thứ nhất đã xoá nhoà khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật khiến cho câu chuyện gần gũi bình dị và đời thường hơn. Trần thuật từ điểm nhìn ngôi thứ nhất để tạo cho mạch truyện tự phát rất thoải mái, nhân vật hiện lên tự nhiên và sinh động hơn, tạo cho những nữ nhân vật trong truyện một vẻ đẹp bình dị mà thật anh hùng. Kể về những chuyện sống chết, chuyện hiểm nguy bằng một giọng điệu rất thoải mái: \"Thần Chết là một tay không thích đùa...\", \"việc nào cũng có cái thú của nó\", \"đứa nào cũng leo tót lên trọng điểm... chỉ khổ đứa phải trực điện thoại trong hang\". Không cần lí tưởng hoá, qua điểm nhìn trần thuật của người kể chuyện, nhân vạt vẫn hiện lên với đầy đủ phẩm chất anh hùng và đầy tính thuyết phục. Việc lựa chọn điểm nhìn như vậy đã tạo nên thành công trong nghệ thuật trần thuật và nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thể hiện nét độc đáo trong phong cách truyện ngắn Lê Minh Khuê. Giữa sự ác liệt của chiến tranh, vẻ đẹp của con người đã toả sáng. Phần lớn những đội viên thanh niên xung phong ở Trường Sơn trong kháng chiến chống Mĩ đều còn rất trẻ. Khi cả miền Bắc dồn sức cho miền Nam đánh giặc với khí thế \"xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước\", với tinh thần \"đường ra trận mùa này đẹp lắm\" thì thế hệ trẻ thanh niên nam nữ miền Bắc đã có mặt trên mọi tuyến đường của Tổ quốc. Sức trẻ, lòng yêu nước, khát vọng hoà bình đã tạo nên sức mạnh, tạo nên chất trữ tình cho cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng của cả dân tộc. Vì thế mới có những vần thơ: \"Rất trữ tình là nhịp bước hành quân... Toả nắng cho thơ là triệu ánh mắt anh hùng\". Thao, Nho và Định là ba trong hàng triệu thanh niên Việt Nam ưu tú ấy. Họ có sức trẻ và lòng yêu nước. Nhà văn đã kết hợp phẩm chất anh hùng với sự bình dị để tạo nên hình tượng nghệ thuật thật đẹp về những cô thanh niên xung phong. Họ lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống nhưng không sợ chết, họ sẵn sàng hi sinh để con đường không bị đứt mạch. Trong chiến đấu họ can trường bao nhiêu thì trong cuộc sống sinh hoạt họ hồn nhiên tươi trẻ bấy nhiêu. Họ luôn thích hát, thích vui đùa, thích nhai kẹo trong những giây phút bình yên hiếm hoi giữa những loạt bom tàn khốc. Định đã hồn nhiên kể vể sự tàn khốc của chiến tranh, về công việc hàng ngày rất nguy hiểm của ba người, và cũng tự nhiên kể về những thói quen, những thú vui đời thường của họ. Ba người nữ anh hùng ấy rất trẻ trung trong cuộc sống, thậm chí rất yếu đuối: Chị Thao \"thấy máu, thấy vắt là nhắm mắt lại, mặt tái mét\", Định thì thích hát, thích làm điệu, Nho thì \"đòi nhai kẹo\", dưới cơn mưa đá cả ba \"vui thích cuống cuồng\", họ tận hưởng cơn mưa hồn nhiên như chưa hề nghe thấy bom rơi đạn nổ. Sự khốc liệt của chiến tranh đã tôi luyện những tâm hồn vốn nhạy cảm yếu đuối của họ thành bản lĩnh kiên cường của người anh hùng. 85
Nhà văn đã rất thành công trong việc thể hiện tâm lí nhân vật. Qua dòng suy tư của Định, người đọc không chỉ thấy sự toả sáng của phẩm chất anh hùng mà còn hình dung được thế giới nội tâm phong phú của những cô gái rất trẻ trong cuộc chiến của dân tộc. Những con người ấy mang vào Trường Sơn cả tuổi thanh xuân với bao nhiêu ước mơ, khát vọng, với những nỗi nhớ gia đình, quê hương khôn nguôi. Trận mưa đá đột ngột giữa đường Trường Sơn đã làm sống dậy kỷ niệm ngọt ngào của tuổi ấu thơ... Chiến tranh đã không thể cướp đi niềm tin yêu cuộc sống, niềm lạc quan của những cô gái trẻ. Không lí tưởng hoá nhân vật đến mức bọc nhân vật trong bầu không khí \"vô trùng\" nhưng ba nữ nhân vật của Lê Minh Khuê vẫn hiện lên với đầy đủ những phẩm chất anh hùng mà rất đáng yêu của những nữ thanh niên xung phong Trường Sơn. Câu chuyện được phát triển theo kết cấu dòng tâm lí và tư duy đồng hiện (ở cấp độ đơn giản) nên chỉ với dung lượng một truyện ngắn mà cuộc sống và chiến đấu của đội nữ thanh niên xung phong được tái hiện đầy đủ và tròn trịa. Ba con người khi chiến đấu là một khối thống nhất, đó là sự dũng cảm, khi sống cuộc sống đời thường trong những phút giây bình yên hiếm có của Trường Sơn họ lại là ba con người với ba tính cách khác nhau. Họ là họ, họ còn là cả Trường Sơn, là biết bao cô gái giống họ đều đang nằm trong những hang núi Trường Sơn để chờ đợi, để giữ cho tuyến đường Trường Sơn không một ngày bị đứt mạch. Điểm khác biệt và cũng là thành công của truyện ngắn này so với những tác phẩm cùng đề tài chính là ở nghệ thuật trần thuật. Giọng văn sinh động, trẻ trung với lối diễn đạt tự nhiên đã tạo nên sức cuốn hút với bạn đọc. Tác giả đã rất hiện đại trong việc sử dụng linh hoạt các dạng cũ pháp. Những câu văn ngắn, câu dạng đặc biệt được đan xen linh hoạt trong các đoạn văn vừa có sức tái hiện dồn dập, khẩn trương trong việc phá bom của các cô gái vừa tự nhiên, sinh động khi miêu ảt tính cách của họ. Trong đoạn văn miêu tả trận đánh bom, tác giả sử dụng một loạt câu ngắn với cấu trúc giản lược tối đa: \"Không hiểu vì sao mình gắt nưa. Lại một loạt bom. Khói vào hang... và bom...\". Trong tác phẩm, tác giả sử dụng rất ít những câu văn dài, nếu có thì đó lại là những câu văn mang màu sắc triết lí rất rõ: \"Không có gì cô đơn và khiếp sợ hơn khi bom gào thét xung quanh mà không nghe một tiếng trả lời nào dưới đất. Dù chỉ một tiếng súng trường thôi, con người cũng thấy mênh mông bên mình một sự che chở đồng tình\". Tác giả rất độc đáo trong việc miêu tả với những câu văn được sắp xếp theo trật tự bất thường, nhiều khi lộn xộn, không theo lô gích thông thường của tư duy. \"Không có gió... dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh... vĩnh cửu\". Đó là tâm trạng khi Định chờ bom nổ. Tuy chưa hiện đại như nghệ thuật trần thuật theo dòng ý thức của Bảo Ninh trong Thân phận của tình yêu nhưng tác phẩm đã có một sự cách tân lớn trong nghệ thuật trần thuật. Giọng văn tự nhiên, cuốn hút với kỹ thuật trần thuật hiện đại đã làm nên thành công và vẻ đẹp riêng cho Những ngôi sao xa xôi. Nối tiếp bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến của dân tộc, một bản anh hùng ca đầy âm hưởng sử thi, với tài năng, tâm huyết và sự từng trải của mình, Lê Minh Khuê đã góp thêm một nốt nhạc rất đẹp. Hình tượng về những nữ thanh niên xung phong Trường Sơn không hiếm hoi trong văn học chống Mĩ nhưng với những sáng tạo riêng rất hiện đại của mình, tác giả Những ngôi sao xa xôi đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, sự hi sinh rất hồn nhiên, lạc quan của những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đó chính là hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kháng chiến chống Mĩ. 86
Search