truyền bá rộng rãi, các chất liệu dùng để viết trƣớc kia nhƣ lá cây ở Ấn Độ, giấy papirut ở Ai Cập, da cừu ở châu Âu... đều bị giấy thay thế. b)Kĩ thuật in Kĩ thuật in bắt nguồn từ việc khắc chữ trái trên các con dấu đã có trƣớc từ đời Tần. Thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, Đạo giáo đã in nhiều bùa chú để trừ ma. Hiện chƣa xác minh đƣợc kĩ thuật in bắt đầu ra đời từ bao giờ, nhƣng điều chắc chắn là đến giữa thế kỉ VII (đầu đời Đƣờng), kĩ thuật in đã xuất hiện. Sử sách chép lúc bấy giờ nhà sƣ Huyền Trang đã cho in một số lƣợng lớn tƣợng Phổ Hiền để phân phát bốn phƣơng. Năm 1966, ở Hàn Quốc phát hiện đƣợc kinh Đàlani in vào khoảng năm 704-751. Đây là ấn phẩm cổ nhất trên thế giới đã phát hiện đƣợc. Kĩ thuật in khi mới ra đời là in bằng ván khắc. Đây là một phát minh rất quan trọng giúp ngƣời ta có thể in nhiều bản trong một thời gian ngắn, công nghệ khắc in đơn giản, ít tốn, vì vậy cách in bằng ván khắc này đã đƣợc sử dụng rất lâu dài. Tuy vậy, cách in này cũng có mặt chƣa đƣợc tiện lợi lắm vì nếu không cần in nữa thì ván khắc sẽ vô dụng. Để khắc phục nhƣợc điểm đó, đến thập kỉ 40 của thế kỉ XI, một ngƣời dân thƣờng tên là Tất Thăng đã phát minh ra cách in chữ rời bằng đất sét nung. Các con chữ đƣợc xếp lên một tấm sắt có sáp, xếp xong đem hơ nóng cho sáp chảy ra, dùng một tấm ván ép cho bằng mặt rồi để nguội. Nhƣ vậy sáp đã giữ chặt lấy chữ và có thể đem in. Phát minh của Tất Thăng tuy là một tiến bộ nhảy vọt của nghề in nhƣng vẫn còn một số nhƣợc điểm nhƣ chữ hay mòn,
khó tô mực, chữ không đƣợc sắc nét. Để khắc phục nhƣợc điểm đó, từ thế kỉ XI, Thẩm Quát đã thử dùng chữ gỗ thay chữ đất sét nung nhƣng chƣa có kết quả. Đến thời Nguyên, Vƣơng Trinh mới cải tiến thành công việc dùng con chữ rời bằng gỗ. Sau đó ngƣời ta còn dùng chữ rời bằng thiếc, đồng, chì, nhƣng chữ rời bằng kim loại khó tô mực nên không đƣợc sử dụng rộng rãi. Từ đời Đƣờng, kĩ thuật in ván khắc của Trung Quốc đã truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Philippin, Arập rồi truyền dần sang châu Phi, châu Âu. Cuối thế kỉ XIV, ở Đức đã biết dùng phƣơng pháp in bằng ván khắc để in tranh ảnh tôn giáo, kinh thánh và sách ngữ pháp. Năm 1448, Gutenbe (Gutenberg) ngƣời Đức dùng chữ rời bằng hợp kim và dùng mực dầu để in kinh thánh. Việc đó đã đặt cơ sở cho việc in chữ rời bằng kim loại ngày nay. c) Thuốc súng. Thuốc súng là một phát minh ngẫu nhiên của những ngƣời luyện đan thuộc phái Đạo gia. Vốn là, đến đời Đƣờng, Đạo giáo rất thịnh hành. Phái đạo gia tin rằng, ngƣời ta có thể luyện đƣợc thuốc trƣờng sinh bất lão hoặc luyện đƣợc vàng, do đó, thuật luyện đan rất phát triển. Nguyên liệu mà ngƣời luyện đan sử dụng là diêm tiêu, lƣu huỳnh và than gỗ. Trong quá trình luyện thuốc tiên thƣờng xảy ra các vụ cháy làm bỏng tay, bỏng mặt, cháy nhà... và thế là họ đã tình cờ phát minh ra thuốc súng. Đến đầu thế kỉ X, thuốc súng bắt đầu đƣợc dùng để làm vũ khí. Những vũ khí đầu tiên này đƣợc gọi là tên lửa, cầu lửa, quạ lửa, pháo, đạn bay v.v...; tác dụng của chúng chỉ là để đốt doanh trại của đối phƣơng mà thôi.
Đến đời Tống, vũ khí làm bằng thuốc súng không ngừng đƣợc cải tiến. Trong cuộc chiến tranh Tống - Kim, quân Tống đã dùng một loại vũ khí gọi là \"chấn thiên lôi\", tiếng nổ to nhƣ sấm, sức nóng tỏa ra hơn nửa mẫu đất, ngƣời và da bò nát vụn không còn dấu vết. Năm 1132, Trung Quốc đã phát minh ra loại vũ khí hình ống gọi là \"hỏa thƣơng\". Lúc đầu hỏa thƣơng làm bằng ống tre to, phía trong nạp thuốc súng, khi đánh nhau thì đốt ngòi, lửa sẽ phun ra thiêu cháy quân địch. Vào thế kỉ XIII, trong quá trình tấn công Trung Quốc, ngƣời Mông Cổ đã học tập đƣợc cách làm thuốc súng của Trung Quốc. Sau đó, ngƣời Mông Cổ chinh phục Tây Á, do đó đã truyền thuốc súng sang Arập. Ngƣời Arập lại truyền thuốc súng và súng vào châu Âu qua con đƣờng Tây Ban Nha. d)Kim chỉ nam Từ thế kỉ III TCN, ngƣời Trung Quốc đã biết đƣợc từ tính và tính chỉ hƣớng của đá nam châm. Lúc bấy giờ Trung Quốc phát minh ra một dụng cụ chỉ hƣớng gọi là \"tƣ nam\". Tƣ nam làm bằng đá thiên nhiên, mài thành hình cái thìa để trên một cái đĩa có khắc các phƣơng hƣớng, cán thìa sẽ chỉ hƣớng nam. Nhƣ vậy tƣ nam chính là tổ tiên của kim chỉ nam. Tuy nhiên, tƣ nam còn có nhiều hạn chế nhƣ khó mài, nặng, lực ma sát lớn, chuyển động không nhạy, chỉ hƣớng không đƣợc chính xác nên chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi. Đến đời Tống, các thầy phong thủy đã phát minh ra kim nam châm nhân tạo. Họ dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam châm để thu từ tính, rồi dùng kim đó để làm la bàn. La bàn lúc đầu còn rất thô sơ: xâu kim nam châm qua cọng rơm sợi bấc đèn
rồi thả nổi trên bát nƣớc gọi là \"thủy la bàn\", hoặc treo kim nam châm bằng một sợi tơ ở chỗ kín gió. La bàn đƣợc các thầy phong thủy sử dụng đầu tiên để xem hƣớng đất. Đến khoảng cuối thời Bắc Tống, la bàn đƣợc sử dụng trong việc đi biển. Khoảng nửa sau thế kỉ XII, la bàn do đƣờng biển truyền sang Arập rồi truyền sang châu Âu. Ngƣời châu Âu cải tiến thành \"la bàn khô\" tức là la bàn có khắc các vị trí cố định. Nửa sau thế kỉ XVI la bàn khô lại truyền trở lại Trung Quốc. 6. Tƣ tƣởng và tôn giáo Lịch sử tƣ tƣởng Trung Quốc rất phong phú. Từ rất sớm, ngƣời Trung Quốc đã đƣa ra những quan điểm để giải thích thế giới. Đến thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chiến tranh loạn lạc xảy ra triền miên, các nhà tƣ tƣởng Trung Quốc quan tâm trƣớc hết đến việc tìm kiếm đƣờng lối tối ƣu bảo đảm cho đất nƣớc đƣợc ổn định, thống nhất, nhân dân đƣợc an cƣ lạc nghiệp. Học thuyết của các nhà tƣ tƣởng ấy đã đặt cơ sở cho việc hình thành các trƣờng phái tƣ tƣởng của Trung Quốc thời cổ trung đại, trong đó quan trọng nhất là các phái Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia. a)Âm dương - Bát quái - Ngũ hành - Âm dương gia Âm dƣơng, bát quái, ngũ hành là những thuyết mà ngƣời Trung Quốc nêu ra từ thời cổ đại nhằm giải thích nguồn gốc của vạn vật. Từ những nhận thức rút ra đƣợc trong cuộc sống thực tế, ngƣời Trung Quốc cổ đại cho rằng, trong vũ trụ có hai yếu tố cơ bản là âm và dƣơng. Dƣơng có các tính chất nhƣ: giống đực, ánh sáng, nóng, hoạt động, rắn rỏi… Âm thì có các tính chất ngƣợc lại nhƣ: giống cái, bóng tối, lạnh, thụ động, mềm mỏng v.v... Âm
và dƣơng tác động vào nhau tạo thành tất cả mọi vật trong vũ trụ. Mọi tai dị trong thiên nhiên sở dĩ xảy ra là do sự không điều hòa của hai lực lƣợng ấy. Âm dƣơng đƣợc gọi là lƣỡng nghi. Bát quái là 8 quẻ: Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài. Các quẻ trong Bát quái đƣợc dùng những vạch liền (biểu tƣợng của dƣơng) và vạch đứt (biểu tƣợng của âm) sắp xếp với nhau thành từng bộ ba để biểu thị. Bát quái tƣợng trƣng cho 8 yếu tố vật chất tạo thành thế giới: Càn: trời, Khôn: đất, Chấn: sấm, Tốn: gió, Khảm: nƣớc, Ly: lửa, Cấn: núi, Đoài: hồ. Trong Bát quái, hai quẻ càn, khôn là quan trọng nhất. Bát quái còn tƣợng trƣng cho quan hệ gia đình nhƣ Càn: cha, Khôn: mẹ, Chấn: con trai cả, Tốn: con trai giữa, Khảm: con trai út, Ly: con gái cả, Cấn: con gái giữa, Đoài: con gái út. Tám quẻ Càn, Khôn..., mỗi quẻ đều có 3 vạch, gọi là những quẻ đơn. Tám quẻ đơn ấy lại phối hợp với nhau thành 64 quẻ kép (quẻ 6 vạch). Sự phối hợp bằng cách chồng 2 quẻ đơn với nhau ấy, nếu tạo ra được sự giao cảm giữa 2 quẻ trên dưới thì thành quẻ tốt (cát), nếu không tạo ra được sự giao cảm thì thành quẻ xấu (hung). Ví dụ: quẻ Thái được tạo thành bởi quẻ Khôn ở trên quẻ Càn, tức là đất ở trên trời, do đó khí dương phải thăng lên, khí âm phải hạ xuống. Hai khí giao cảm với nhau làm thay đổi vị trí, dẫn đến sự phát triển. Như vậy, quẻ Thái là quẻ tốt. Ngược lại, quẻ Bĩ được tạo thành bởi quẻ Càn trên quẻ Khôn, như vậy là trời đất đúng vị trí do dó không tạo ra được sự giao cảm nên không dẫn đến sự phát triển. Bởi vậy quẻ Bĩ là quẻ xấu. Với quan niệm 8 yếu tố vật chất nhƣ nƣớc, lửa, núi, hồ v.v... tạo nên vũ trụ, đồng thời chú ý đến sự phát triển của sự vật,
thuyết bát quái là một tƣ tƣởng triết học mang tính chất duy vật và biện chứng, nhƣng những yếu tố tích cực ấy rất hạn chế. Sự gán ghép nội dung cho các quẻ nhƣ Ly là lửa, là con gái đầu hoàn toàn áp đặt, không có cơ sở khoa học. Chính vì vậy thuyết bát quái đã trở thành cơ sở tốt cho việc bói toán. Ngũ hành là 5 tác nhân tạo nên sự vật, gồm: Mộc (gỗ), Hỏa (lửa), Thổ (đất), Kim (không khí), Thủy (nƣớc). Âm dương gia là trƣờng phái tƣ tƣởng ra đời vào thời Chiến Quốc. Trƣờng phái này dựa vào thuyết Âm dƣơng Ngũ hành để giải thích sự biến hóa trong giới tự nhiên và sự phát triển của xã hội. Để giải thích sự biến đổi của sự vật, phái âm dƣơng gia nêu ra quy luật về mối quan hệ tƣơng sinh tƣơng thắng của Ngũ hành. Tƣơng sinh là sinh ra nhau, cụ thể là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh thủy, Thủy sinh Mộc. Tƣơng thắng là chống nhau, cụ thể là: Mộc thắng Thổ, Thổ thắng Thủy, Thủy thắng Hỏa, Hỏa thắng Kim, Kim thắng Mộc. Ngũ hành lại ứng với nhiều thứ khác nhƣ bốn mùa, bốn phƣơng, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng, ngũ âm, 10 can và các con số v.v... ví dụ: Mộc: mùa Xuân, phương Đông, màu xanh, vị chua... Hỏa: mùa Hạ, phương Nam, màu đỏ, vị đắng… Thổ: Giữa Hạ và Thu, trung ương, màu vàng, vị ngọt... Kim: mùa Thu, phương Tây, màu trắng, vị cay... Thủy: mùa Đông, phương Bắc, màu đen, vị mặn... Sự biến chuyển của bốn mùa là tuân theo quy luật Ngũ hành tương sinh tức là Mộc sinh Hỏa thì Xuân sinh Hạ, Kim sinh Thủy thì Thu sinh Đông. Do ngũ hành có 5 thứ mà mùa chỉ có 4 mùa nên người ta đặt Thổ vào giữa Hạ và Thu tạo
thành cái cầu nối giữa Hỏa và Kim để cho phù hợp với quy luật Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Tuy nhiên không phải tất cả những gì ứng với Ngũ hành đều có thể dùng quy luật đó để giải thích, ví dụ không thể nói phương Đông sinh ra phương Nam, màu xanh sinh ra màu đỏ, vị đắng sinh ra vị ngọt v.v... Còn sự khác biệt về khí hậu và thời tiết của bốn mùa thì phái âm dƣơng gia lại dùng tác động của âm dƣơng để giải thích. Theo họ, về mùa Xuân, khí trời (dƣơng) hạ xuống khí đất (âm) dâng lên, trời đất hòa đồng, do đó cây cối đâm chổi nảy lộc. Còn mùa Đông, khí trời dâng lên, khí đất hạ xuống, trời đất không hòa đồng nên bị ngăn cách, không phát triển đƣợc. Nhân vật tiêu biểu của phái Âm dƣơng gia là Trâu Diễn ngƣời nƣớc Tề. Nội dung chủ yếu của tƣ tƣởng Trâu Diễn là thuyết \"Ngũ đức chuyển dịch\". Theo thuyết này, mỗi triều đại trong lịch sử Trung Quốc có một loại đức chi phối. Cái đức ấy được biểu hiện bằng Ngũ hành và vận động theo quy luật tương thắng của Ngũ hành. Phái Âm dương quả quyết rằng, trước khi thành lập một triều đại mới, trời cho một triệu trứng để biết được triều đại đó thuộc đức gì. Thời Hoàng Đế, trời cho thấy trước con dế trũi, dế trũi màu vàng, nên đức của Hoàng Đế là đức Thổ. Thời Hạ Vũ, trời cho thấy trước triệu chứng về thu đông mà cây cối không rụng lá, cây cối còn lá thì màu xanh nên đức của triều Hạ là Mộc. Thời Thương trời cho thấy trước có lưỡi gươm bằng đồng sinh ra ở trong nước nên đức của triều Thương là Kim. Thời Chu trời cho thấy trước chim hỏa xích ngậm sách đỏ đến chết trên bệ cúng thần đất nên đức của triều Chu là Hỏa. Vì vậy, triều Hạ đã
thay thời Hoàng Đế, triều Thương thay triều Hạ, triều Chu thay triều Thương. Đến thời Tây Hán, thuyết Âm dƣơng Ngũ hành còn đƣợc Đổng Trọng Thƣ bổ sung, do đó càng có ảnh hƣởng lâu dài trong tƣ tƣởng triết học Trung Quốc và kể cả Việt Nam chúng ta. b)Nho gia Nho gia là trƣờng phái tƣ tƣởng quan trọng nhất ở Trung Quốc. Ngƣời đặt cơ sở đầu tiên của Nho gia là Khổng Tử, sống vào thời Xuân Thu. Về sau Mạnh Tử (thời Chiến Quốc), Đổng Trọng Thƣ (thời Tây Hán) đã phát triển học thuyết này làm cho Nho học ngày càng thêm hoàn chỉnh. - Khổng Tử (551-479 TCN) Khổng Tử tên là Khâu, hiệu là Trọng Ni, ngƣời nƣớc Lỗ (ở tỉnh Sơn Đông ngày nay). Ông là một nhà tƣ tƣởng lớn và là một nhà giáo dục lớn đầu tiên của Trung Quốc cổ đại. Khổng Tử có làm một số chức quan ở nƣớc Lỗ trong mấy năm, nhƣng phần lớn thời gian trong cuộc đời của ông là đi đến nhiều nƣớc để trình bày chủ trƣơng chính trị của mình và mở trƣờng để dạy học. Tƣơng truyền, số học trò của Khổng Tử có đến 3.000 ngƣời, trong đó có ngƣời thành đạt, sử sách thƣờng gọi là thất thập nhị hiền. Đồng thời với việc dạy học, Khổng Tử còn chỉnh lí các sách Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu, trong đó sách Nhạc bị thất truyền, 5 quyển còn lại về sau trở thành 5 tác phẩm kinh điển của Nho gia đƣợc gọi chung là Ngũ kinh. Những lời nói của Khổng Tử và những câu hỏi của học trò của ông đƣợc chép lại thành sách Luận ngữ. Đó là tác phẩm chủ yếu để tìm hiểu tƣ tƣởng của Khổng Tử.
Tƣ tƣởng của Khổng Tử gồm 4 mặt là triết học, đạo đức, chính trị và giáo dục. Về mặt triết học, Khổng Tử ít quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của vũ trụ, do đó ông đã thể hiện một thái độ không rõ rệt về trời đất quỷ thần. Một mặt, ông cho rằng trời chỉ là giới tự nhiên, trong đó bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trƣởng; nhƣng mặt khác, ông lại cho rằng trời là một lực lƣợng có thể chi phối số phận và hoạt động của con ngƣời, do đó con ngƣời phải sợ mệnh trời. Đối với quỷ thần, một mặt Khổng Tử tỏ thái độ hoài nghi khi nói rằng: \"chƣa biết đƣợc việc thờ ngƣời, làm sao biết đƣợc việc thờ quỷ thần\", \"chƣa biết đƣợc việc sống, làm sao biết đƣợc việc chết\"; nhƣng mặt khác ông lại rất coi trọng việc cúng tế, tang ma và ông cho rằng \"tế thần xem nhƣ có thần\". Về mặt đạo đức, Khổng Tử hết sức coi trọng vì đó là những chuẩn mực để duy trì trật tự xã hội. Nội dung của quan điểm đạo đức của Khổng Tử bao gồm rất nhiều mặt nhƣ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng... nhƣng trong đó quan trọng hơn cả là \"nhân\". Nhân, một mặt là lòng thƣơng ngƣời, \"điều mà mình không muốn thì đừng làm cho ngƣời khác\", trái lại \"mình muốn lập thân thì giúp ngƣời khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp ngƣời khác thành đạt\". Đồng thời đối với bản thân thì phải \"kiềm chế mình làm đúng theo lễ\", nếu \"không hợp với lễ thì không nhìn, không hợp với lễ thì không nghe, không hợp với lễ thì không nói, không hợp với lễ thì không làm\". Ngoài ra, nhân còn bao gồm các nội dung khác nhƣ cung kính, nghiêm túc, thành thật, dũng cảm, rộng lƣợng, cần cù v.v... Nhƣ vậy, nhân là một phạm trù rất rộng, hầu nhƣ đồng nghĩa với đạo đức.
Bên cạnh nhân, Khổng Tử còn rất chú trọng đến \"lễ\", nhƣng lễ theo Khổng Tử không phải là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập mà là một vấn đề luôn luôn gắn liền với nhân. Trong mối quan hệ giữa nhân và lễ, nhân là gốc, là nội dung, còn lễ là biểu hiện của nhân. Ví dụ: \"Trong các lễ, xa xỉ chẳng bằng tiết kiệm, trong lễ tang, đầy đủ mọi nghi thức chẳng bằng thƣơng xót\". Do đó \"ngƣời không có lòng nhân thì thực hành lễ sao đƣợc?\" vì \"nói về lễ không phải chỉ có lụa ngọc mà thôi\". Lễ không những chỉ là biểu hiện của nhân mà lễ còn có thể điều chỉnh đức nhân cho đúng mực. Khổng Tử nói: \"cung kính mà không biết lễ thì mệt nhọc, cẩn thận mà không biết lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết lễ thì làm loạn, thẳng thắn mà không biết lễ thì làm phật ý ngƣời khác\". Ngoài \"nhân\" và \"lễ\", Khổng Tử cũng đã nhắc đến \"trí\", \"tín\" nhƣng ông bàn về các nội dung này chƣa nhiều. Về đường lối trị nước, Khổng Tử chủ trƣơng phải dựa vào đạo đức. Ông nói: \"cai trị dân mà dùng mệnh lệnh, đƣa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh đƣợc tội lỗi nhƣng không biết liêm sỉ. Cai trị dân mà dùng đạo đức, đƣa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng quy phục\". Nội dung của đức trị, theo Khổng Tử gồm ba điều, đó là làm cho dân cƣ đông đúc, kinh tế phát triển và dân đƣợc học hành. Một hôm, Khổng Tử đi đến nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe cho ông, Khổng Tử nói: \"Thật là đông đúc!\" Nhiễm Hữu hỏi: \"Dân đông rồi thì phải làm gì?\" Đáp: \"Giáo dục họ\". Biện pháp để thi hành đƣờng lối đức trị là \"phải thận trọng trong công việc, phải giữ đƣợc chữ tín, tiết kiệm trong công việc chi dùng, thƣơng ngƣời, sử dụng sức dân vào thời gian hợp lí\".
Bên cạnh những chủ trƣơng mang ít nhiều tính chất đổi mới đó, Khổng Tử cũng có mặt bảo thủ. Khổng Tử chủ trƣơng những quy chế, lễ nghi đƣợc đặt ra từ thời Tây Chu là không đƣợc thay đổi. Về giáo dục, Khổng Tử có những đóng góp rất quan trọng. Ông là ngƣời đầu tiên sáng lập chế độ giáo dục tƣ thục ở Trung Quốc. Mục đích của giáo dục là uốn nắn nhân cách và bồi dƣỡng nhân tài, vì vậy phƣơng châm giáo dục quan trọng của Khổng Tử là học lễ trƣớc học văn sau. Ông nói: \"Các trò vào phải hiếu với cha mẹ, ra phải kính mến các anh, nói năng phải thận trọng và thành thực, yêu thương mọi người và gần gũi người có lòng nhân. Sau khi thực hành đầy đủ các điều nói trên thì dành sức lực để học văn hóa\". Phƣơng châm giáo dục thứ hai của Khổng Tử là học đi đôi với hành, học để vận dụng vào thực tế. Trong quá trình dạy học, Khổng Tử rất coi trọng phƣơng pháp giảng dạy. Ông chú ý dẫn dắt học trò từng bƣớc một để họ có thể suy nghĩ rút ra kết luận. Ông còn tùy theo trình độ, tính cách từng học trò mà dùng những phƣơng pháp dạy khác nhau. Đối với học trò, ông yêu cầu họ trƣớc hết phải thiết tha mong muốn hiểu biết, phải khiêm tốn, phải tranh thủ mọi điều kiện để học tập. Đồng thời ông còn khuyên học trò phải đánh giá đúng khả năng của mình, \"biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, nhƣ vậy mới là biết\". Tóm lại, Khổng Tử là một nhà tƣ tƣởng lớn và là nhà giáo dục lớn của Trung Quốc cổ đại. Tuy vậy, trong thời đại của ông (thời Xuân Thu), chủ trƣơng chính trị của ông chƣa đƣợc các vua chƣ hầu chấp nhận.
- Mạnh Tử (371-289 TCN) Mạnh Tử ngƣời nƣớc Trâu (ở Sơn Đông ngày nay) là học trò của Tử Tƣ (tức Khổng Cấp) cháu nội của Khổng Tử. Ông là ngƣời kế thừa và phát triển học thuyết Nho gia thêm một bƣớc. Quan điểm triết học của Mạnh Tử trƣớc hết biểu hiện ở lòng tin vào mệnh trời. Mọi việc ở đời đều do trời quyết định. Tuy vậy, những bậc quân tử nhờ tu dƣỡng đã đạt đến mức cực thiện cực mĩ cũng có thể cảm hóa đƣợc ngoại giới. Về đạo đức, tƣ tƣởng Mạnh Tử có hai điểm mới: Một là, Mạnh Tử cho rằng đạo đức của con ngƣời là một yếu tố bẩm sinh gọi là tính thiện. Tính thiện ấy có sẵn từ khi con ngƣời mới sinh ra và đƣợc biểu hiện ở bốn mặt là nhân, nghĩa, lễ, trí. Trên cơ sở những biểu hiện đạo đức bẩm sinh ấy, nếu đƣợc giáo dục tốt thì sẽ đạt đến chỗ cực thiện. Ngƣợc lại, nếu không đƣợc giáo dục thì bản tính tốt sẽ mất đi và tiêm nhiễm tính xấu. Hai là, trong bốn biểu hiện đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí, Mạnh Tử coi trọng nhất là nhân nghĩa, do đó không chú ý đến lợi. Nếu từ vua quan đến dân thƣờng đều tranh nhau lợi thì nƣớc sẽ nguy. Trái lại, chƣa từng thấy ngƣời có nhân lại bỏ rơi ngƣời thân, chƣa từng thấy ngƣời có nghĩa lại quên vua. Về chính trị, Mạnh Tử nhấn mạnh hai vấn đề là nhân chính và thống nhất. Tƣơng tự nhƣ ý kiến của Khổng Tử, Mạnh Tử giải thích rằng sở dĩ phải thi hành đƣờng lối nhân chính tức là dùng đạo đức để trị nƣớc là vì \"dùng sức mạnh để bắt ngƣời ta phục thì không phải là ngƣời ta phục từ trong lòng mà vì sức không đủ. Lấy đức để làm cho ngƣời ta phục thì trong lòng ngƣời ta vui và thực sự là phục vậy\".
Điểm nổi bật nhất trong đƣờng lối nhân chính của Mạnh Tử là tƣ tƣởng quý dân. Ông nói: \"Dân quý nhất, đất nƣớc thứ hai, vua thì coi nhẹ.\" Quý dân là phải chăm lo đến đời sống của dân tức là phải đảm bảo ruộng đất cày cấy cho dân, phải thuế nhẹ, không đƣợc huy động nhân dân đi phu trong các vụ mùa màng để nhân dân đƣợc no đủ. Đồng thời phải chú ý bảo vệ tính mạng của dân tức là không đƣợc gây chiến tranh. Kẻ nào gây chiến tranh thì phải xử bằng cực hình. Chủ trƣơng thứ hai trong đƣờng lối chính trị của Mạnh Tử là thống nhất. Mục đích của chủ trƣơng này là muốn chấm dứt chiến tranh giữa các nƣớc thời Chiến Quốc để toàn Trung Quốc đƣợc thái bình; vì vậy, biện pháp để thực hiện việc thống nhất không phải là chiến tranh mà là nhân chính. Theo Mạnh Tử, nếu có ông vua nào không thích giết ngƣời mà thi hành nhân chính thì mọi tầng lớp trong xã hội đều muốn đƣợc sống và làm việc trong đất nƣớc của ông vua ấy, do đó ông vua ấy có thể thống nhất đƣợc thiên hạ. Bên cạnh việc chăm lo đời sống của nhân dân, Mạnh Tử chủ trƣơng phải chú ý mở rộng việc giáo dục đến tận nông thôn mà trƣớc hết là để dạy cho học sinh cái nghĩa hiếu, lễ. Nhƣ vậy, trong đƣờng lối trị nƣớc của Mạnh Tử có những đề xuất rất đáng trân trọng, nhƣng thời Chiến Quốc là thời kì đang diễn ra cuộc chiến tranh để thôn tính lẫn nhau nên chủ trƣơng của Mạnh Tử bị coi là viển vông không sát thực tế nên cũng không đƣợc các vua chấp nhận. - Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) Sau khi nƣớc Tần thống nhất Trung Quốc, triều Tần tiếp tục sử dụng tƣ tƣởng Pháp gia làm đƣờng lối trị nƣớc, vì vậy triều Tần sớm bị lật đổ.
Năm 136 TCN, chấp nhận ý kiến của Đổng Trọng Thƣ, Hán Vũ Đế đã ra lệnh \"bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật\" (bỏ các phái khác đề cao một mình phái Nho). Từ đó Nho gia bắt đầu trở thành hệ tƣ tƣởng chính thống của xã hội Trung Quốc. Đến Đổng Trọng Thƣ, học thuyết Nho gia đƣợc phát triển thêm một bƣớc, nhất là về tƣ tƣởng triết học và đạo đức. Về triết học, Đổng Trọng Thƣ có hai điểm mới đó là thuyết \"thiên nhân cảm ứng\" tức là quan hệ tác động qua lại giữa trời và ngƣời, đồng thời dùng âm dƣơng ngũ hành để giải thích mọi sự vật. Đổng Trọng Thƣ khẳng định: \"Trời là thủy tổ của muôn vật cho nên bao trùm tất cả không có ngoại lệ\". Trong muôn vật, do tinh túy của trời đất sinh ra, không gì quý bằng con người. Giữa trời và người lại có mối quan hệ qua lại. Khi quốc gia sắp bị hư hỏng về sự mất đạo, trời đem tai biến để trách bảo. Đã trách bảo mà người không biết tự xét, trời đem quái dị để làm cho sợ hãi. Thế mà người vẫn không biết đổi thì sự bại vong mới đến\". Ngược lại, sự cố gắng hết sức của con người cũng có thể tác động đến trời. Đồng thời Đổng Trọng Thƣ còn dùng thuyết âm dƣơng ngũ hành để kết hợp với thuyết trời sinh vạn vật của ông do đó ông cũng phát triển thuyết âm dƣơng ngũ hành thêm một bƣớc. Ông cho rằng: \"Giữa trời đất, có hai khí âm dương bao trùm lấy con người giống như nước thường ngập con cá, chỗ khác với nước là có thể thấy và không thể thấy mà thôi\". Trong hai yếu tố âm dương, Đổng Trọng Thư quyết đoán rằng trời trọng dương, không trọng âm. Đối với ngũ hành, Đổng Trọng Thƣ nêu ra quy luật là liền nhau thì sinh ra nhau, cách nhau thì thắng nhau.
Thứ tự của ngũ hành là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Do vậy, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Đồng thời, Mộc thắng Thổ, Hỏa thắng Kim, Thổ thắng Thủy, Kim thắng Mộc, Thủy thắng Hỏa. Đổng Trọng Thƣ còn dùng ngày, tháng, bốn mùa trong năm và âm dƣơng ngũ hành để giải thích số lƣợng các đốt xƣơng và các bộ phận của con ngƣời. Về đạo đức, đóng góp quan trọng của Đổng Trọng Thƣ là việc nêu ra các phạm trù tam cƣơng, ngũ thƣờng, lục kỉ. Tam cƣơng là ba mối quan hệ: vua tôi, cha con, chồng vợ. Trong ba quan hệ ấy, bề tôi, con và vợ phải phục tùng vua, cha, chồng. Hơn nữa, vua, cha, chồng là dƣơng, bề tôi, con, vợ là âm, mà trời trọng dƣơng không trọng âm, cho nên không những về mặt quan hệ xã hội mà theo ý trời, bề tôi, con, vợ đều phải ở địa vị phục tùng. Ngũ thƣờng là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Những nội dung này đã có trong tƣ tƣởng Khổng, Mạnh nhƣng đến Đổng Trọng Thƣ mới ghép thành một hệ thống và coi đó là 5 tiêu chuẩn đạo đức thông thƣờng nhất của ngƣời quân tử. Lục kỉ là 6 mối quan hệ với những ngƣời ngang hàng với cha, ngang hàng với mẹ, với anh em, họ hàng, thầy giáo và bạn bè. Tam cƣơng ngũ thƣờng do Đổng Trọng Thƣ nêu ra đã trở thành những tiêu chuẩn đạo đức chủ yếu của Nho giáo và đã
đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ trật tự của xã hội phong kiến ở Trung Quốc. Về chính trị, Đổng Trọng Thƣ không có chủ trƣơng gì mới mà chỉ cụ thể hóa tƣ tƣởng của Khổng Mạnh trong hoàn cảnh lịch sử mới nhƣ hạn chế sự chênh lệch giàu nghèo, hạn chế sự chiếm đoạt ruộng đất, bỏ nô tì, trừ các tệ chuyên quyền giết ngƣời, giảm nhẹ thuế khóa, bỏ bớt lao dịch, chú trọng việc giáo dục. Nhƣ vậy, với những ý kiến bổ sung của Đổng Trọng Thƣ, các tƣ tƣởng triết học, đạo đức, chính trị của Nho gia đã đƣợc hoàn chỉnh. Đến thời kì này tƣ tƣởng Nho gia rất đƣợc đề cao và thƣờng đƣợc gọi là Nho giáo. Đồng thời Khổng Tử đƣợc tôn làm giáo chủ của đạo Học. - Sự phát triển của Nho học đời Tống. Từ đời Hán về sau, Nho giáo trở thành hệ tƣ tƣởng chủ yếu của Trung Quốc. Cũng từ đời Hán, Phật giáo bắt đầu truyền vào Trung Quốc và Đạo giáo ra đời. Từ đó, có nhiều nhà Nho cho rằng triết học của Nho gia quá đơn giản, do đó đã học tập một số yếu tố của hai học thuyết kia, đồng thời khai thác các thuyết âm dƣơng ngũ hành... để bổ sung cho triết lí Nho gia thêm phần sâu sắc. Điểm chung của các nhà Nho đời Tống là muốn giải thích nguồn gốc của vũ trụ và giải thích mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất mà họ gọi là lí và khí. Nói chung họ đều cho rằng lí có trƣớc khí, vì vậy họ đƣợc gọi chung là phái lí học. Ngƣời đầu tiên khởi xƣớng lí học là Chu Đôn Di (1017- 1073). Ông cho rằng nguồn gốc của Vũ trụ là thái cực, cũng gọi là vô cực. Thái cực có hai thể: động và tĩnh. Động sinh ra dƣơng, động cực rồi lại tĩnh. Tĩnh thì sinh ra âm, tĩnh cực rồi lại động.
Âm dƣơng tác động với nhau mà sinh ra ngũ hành rồi sinh ra vạn vật. Ông còn thể hiện ý kiến của mình trong một biểu đồ nên tác phẩm của ông gọi là \"Thái cực đồ thuyết\". Đồng thời với Chu Đôn Di còn có Thiệu Ung (1011-1077) cũng cho rằng thái cực là nguồn gốc của Vũ trụ. Tiếp đó, thái cực sinh lƣỡng nghi (âm dƣơng), lƣỡng nghi sinh tứ tƣợng (thái dƣơng, thiếu dƣơng, thái âm, thiếu âm; hoặc Xuân, Hạ, Thu, Đông; hoặc Thủy, Hỏa, Mộc, Kim), tứ tƣợng sinh bát quái, bát quái tạo thành 64 quẻ, 64 quẻ ấy bao gồm tất cả mọi quy luật của sự vật. Sau Chu Đôn Di và Thiệu Ung, thời Tống còn có nhiều nhà lí học nổi tiếng nhƣ hai anh em Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107), Chu Hy (1130-1200) v.v... Ngoài việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa lí và khí, Trình Di và Chu Hy còn nêu ra phƣơng pháp nhận thức \"cách vật trí tri\" nghĩa là phải thông qua việc nghiên cứu các sự vật cụ thể để hiểu đƣợc cái lí của sự vật tức là cái khái niệm trừu tƣợng. Hai ông còn tách hai thiên Đại Học và Trung Dung trong sách lễ kí thành hai sách riêng. Từ đó, Đại Học, Trung Dung đƣợc gộp với Luận ngữ, Mạnh Tử thành bộ kinh điển thứ hai gọi là Tứ thư. Do quá tôn sùng và lĩnh hội một cách máy móc các ý kiến của những ngƣời sáng lập Nho giáo nên Nho giáo đời Tống đã trở nên bảo thủ và khắt khe hơn trƣớc. Tóm lại, với tƣ cách là hệ tƣ tƣởng chỉ đạo đƣờng lối trị nƣớc ở Trung Quốc trên 2.000 năm, Nho giáo đã đóng góp quan trọng về các mặt tổ chức xã hội, bồi dƣỡng đạo đức, phát triển văn hóa giáo dục. Nhƣng đến cuối xã hội phong kiến, do mặt phục cổ, bảo thủ của nó, Nho gia đã có trách nhiệm rất lớn trong
việc làm cho xã hội Trung Quốc bị trì trệ, không nắm bắt kịp trào lƣu văn minh trên thế giới. c) Đạo gia và Đạo giáo - Đạo gia Ngƣời đầu tiên đề xƣớng học thuyết Đạo gia là Lão Tử và ngƣời phát triển học thuyết này là Trang Tử. Lão Tử: Về tên tuổi và thời đại của Lão Tử ngày nay không đƣợc biết rõ ràng. Có ý kiến cho rằng Lão Tử tức là Lão Đam, tên là Lý Nhĩ, ngƣời nƣớc Sở, sống vào thời Xuân Thu. Ông có
soạn một quyển sách gồm hai thiên nói về \"đạo\" và \"đức\" hơn 5.000 chữ. Đó là cốt lõi của quyển Lão Tử (về sau còn gọi là Đạo đức kinh). Về mặt triết học, Lão Tử cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là \"đạo\". Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật. Sau khi sự vật đƣợc tạo ra thì phải có quy luật để duy trì sự tồn tại của nó, quy luật ấy gọi là \"đức\". Nhƣ vậy đạo đức ở đây là một phạm trù thuộc về triết học, khác với đạo đức của Nho gia là thuộc về phạm trù luân lí. Đồng thời, Lão Tử đã nhận thức đƣợc các mặt đối lập trong thế giới khách quan nhƣ phúc và họa, cứng và mềm, dài và ngắn cùng so sánh, cao và thấp cùng làm rõ sự khác nhau. Nhƣ vậy, tƣ tƣởng triết học của Lão Tử vừa có yếu tố duy vật vừa có yếu tố biện chứng thô sơ. Về cách quản lí đất nƣớc, Lão Tử chủ trƣơng vô vi, nƣớc nhỏ, dân ít và ngu dân. Ông cho rằng cách tốt nhất làm cho xã hội đƣợc thái bình là giai cấp thống trị không can thiệp đến đời sống của nhân dân, không thu thuế quá nhiều, không sống xa hoa. Đồng thời nên quay lại thời kì vừa thoát thai khỏi xã hội nguyên thủy, không cần chữ viết, không cần vũ khí, thuyền xe. Còn đối với nhân dân thì chỉ cần làm cho \"tâm hồn họ trống rỗng nhƣng bụng họ thì no, chí của họ yếu nhƣng xƣơng cốt của họ mạnh\". Nhƣ vậy họ sẽ không biết gì và không có ham muốn. Trang Tử (khoảng 369-286 TCN) tên là Trang Chu, ngƣời nƣớc Tống, sống vào thời Chiến Quốc. Về mặt triết học, kế thừa tƣ tƣởng của Lão Tử, Trang Tử cũng cho rằng \"đạo\" là nguồn gốc của sự vật, trời đất, thần thánh. Đồng thời từ chỗ cho vạn vật đều do đạo sinh ra, ông đã đi đến chỗ phủ nhận tồn tại khách quan, cho rằng \"trời đất và ta
cùng sinh ra vạn vật với ta là một\" mà \"đã cho là một rồi thì còn nói cái này cái kia làm gì nữa\". Mặt khác, Trang Tử đã biến những yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử thành chủ nghĩa tƣơng đối, ngụy biện. Trang Tử cho rằng chân lí khách quan là không có vì đứng từ các phía khác nhau mà xét sự vật thì sẽ đi đến những kết luận khác nhau. Do vậy, nếu cho là lớn thì vạn vật không có cái gì không lớn, nếu cho là nhỏ thì vạn vật không có cái gì không nhỏ...; nếu cho là đúng thì vạn vật không có cái gì không đúng, nếu cho là sai thì vạn vật không có cái gì không sai; nếu đứng ở phía tĩnh thì mộng là mộng, nếu đứng ở phía mộng thì tĩnh là mộng v.v… Tư tưởng triết học của Trang Tử còn nhuốm màu sắc thần học khi ông nêu ra một con người lí tưởng gọi là \"chân nhân\". Đó là con người đã đạt tới mức cao nhất của \"đạo\", do dó khi ngủ không thấy chiêm bao, khi tỉnh không có lo âu, ăn không biết ngon, không biết sống là đáng vui, không biết chết là đáng ghét, nhất thế cũng không hối tiếc, đắc thắng cũng không vui mừng, lên cao không sợ, xuống nước không ướt, vào lửa không nóng. Về chính trị, Trang Tử cũng chủ trƣơng \"vô vi\" và tiến xa hơn Lão Tử, chủ trƣơng đƣa xã hội trở lại thời nguyên thủy, để nhân dân ở chung với chim muông, sống chung cùng vạn vật nhƣ vậy nhân dân sẽ chất phác mà chất phác thì bản tính của nhân dân còn nguyên vẹn. Chủ trƣơng chính trị của Lão Tử và Trang Tử đều trái với tiến trình lịch sử nên không đƣợc giai cấp thống trị đƣơng thời chấp nhận, nhƣng tƣ tƣởng của họ đã đặt cơ sở cho việc hình thành Đạo Giáo ở Trung Quốc sau này.
Các bài viết của Trang Tử và một số ngƣời thuộc phái Đạo gia đời sau đƣợc chép thành sách Trang Tử đến đời Đƣờng đƣợc gọi là Nam Hoa kinh. - Đạo giáo: Từ thời cổ đại, trong xã hội Trung Quốc đã tồn tại các hình thức mê tín nhƣ cúng tế quỷ thần, phù phép đồng bóng, bói toán, đặc biệt là tƣ tƣởng tin vào thần tiên. Tƣơng truyền rằng ở ngoài biển khơi có ba ngọn núi tên là Bồng Lai, Phƣơng Trƣơng và Doanh Châu. Ngƣời ta có thể đi thuyền ra các nơi đó gặp tiên để xin thuốc trƣờng sinh bất tử. Đến thời Đông Hán, những hình thức mê tín ấy kết hợp với học thuyết Đạo gia đã dẫn đến sự ra đời của Đạo giáo. Vị đạo sĩ đƣợc sử sách nói đến đầu tiên là Vu Cát, tác giả sách Thái Bình kinh sống vào giữa thế kỉ II. Nội dung của sách này gồm có âm dƣơng, ngũ hành, phù phép, đồng bóng, ma quỷ. Đến cuối thế kỉ II, Đạo giáo chính thức ra đời với hai phái giáo: đạo Thái Bình và đạo Năm Đấu Gạo. Ngƣời truyền bá đạo Thái Bình là Trương Giác, ông lấy Thái Bình kinh làm kinh điển nên tôn giáo của ông đƣợc gọi nhƣ vậy. Đạo Thái Bình một mặt tuyên truyền việc trƣờng sinh bất tử, dùng phù phép tàn hƣơng nƣớc lã để chữa bệnh; mặt khác đề xƣớng chủ nghĩa bình quân, chủ trƣơng ai cũng phải lao động, có làm mới có ăn, phản đối bọn thống trị vơ vét tài sản, mà không cứu giúp nhân dân nghèo khổ. Đạo Thái Bình đã đƣợc truyền bá trong phạm vi khá rộng, số tín đồ lên đến mấy trăm ngàn ngƣời. Năm 184, dƣới sự lãnh đạo của Trƣơng Giác, tín đồ Đạo Thái Bình nổi dậy khởi nghĩa, lịch sử gọi là khởi nghĩa của quân khăn vàng, nhƣng đã bị đàn áp đẫm máu, Đạo Thái Bình tan rã.
Đạo Năm Đấu Gạo do Trƣơng Lăng thành lập ở Tứ Xuyên. Vì những ngƣời theo đạo phải nộp 5 đấu gạo nên gọi nhƣ vậy, lại vì Trƣơng Lăng tự xƣng là Thiên Sƣ nên còn gọi là đạo Thiên Sƣ. Đạo Năm Đấu Gạo tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là \"Thái thƣợng lão quân\", lấy sách Lão Tử làm kinh điển. Sau khi Trƣơng Lăng chết, con là Trƣơng Hoành, cháu là Trƣơng Lỗ tiếp tục truyền đạo ở Tứ Xuyên, Trƣơng Lỗ thành lập một chính quyền hợp nhất với tôn giáo, tự xƣng là sƣ quân. Ở trong vùng kiểm soát của mình, đạo Năm Đấu Gạo thành lập các \"nghĩa xá\", trong đó treo gạo thịt để cung cấp cho ngƣời đi đƣờng ăn uống không phải trả tiền. Chính quyền của Trƣơng Lỗ tồn tại đƣợc 30 năm, sau bị Tào Tháo đàn áp. Đạo giáo chính thống: Sau khi đạo Thái Bình và đạo Năm Đấu Gạo bị đàn áp, Đạo giáo bắt đầu phân hóa: một bộ phận vẫn lƣu truyền trong dân gian, còn một bộ phận khác thì biến thành Đạo giáo chính thống. Những ngƣời có vai trò quan trọng trong việc cải biến các hình thức Đạo giáo đầu tiên thành Đạo giáo chính thống là Cát Hồng, Khấu Liêm Chi, Lục Tu Tĩnh... sống vào thời Tấn, Nam Bắc triều. Cát Hồng (238-363) chủ trƣơng kết hợp Đạo giáo với Phật giáo và Nho giáo lập thành Đạo Kim Đan của quý tộc. Khẩu Liêm Chi vốn là giáo đồ đạo Thiên Sƣ. Ông chủ trƣơng bỏ các phù phép của đạo Năm Đấu Gạo, đặt ra các quy tắc mới lập nên đạo Thiên Sƣ mới gọi là đạo Bắc Thiên Sƣ. Lục Tu Tĩnh kết hợp đạo Thiên Sƣ với đạo Kim Đan làm một đồng thời dựa vào nghi thức của Phật giáo để đặt ra nghi thức cho Đạo giáo. Tôn giáo của Lục Tu Tĩnh đƣợc gọi là đạo
Nam Thiên Sƣ. Sự xuất hiện hai đạo phái Nam Bắc Thiên Sƣ đánh dấu sự hình thành của Đạo giáo chính thống. Đối tƣợng thờ cúng của Đạo giáo chính thống là Lão Tử và các vị tiên. Lão Tử được quan niệm là hóa thân của \"đạo\", đã nhiều lần giáng sinh xuống cõi người. Đạo giáo lại cho rằng \"đạo\" đã sinh ra các tầng trời như Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh được gọi chung là Tam Thanh thiên. Lão Tử được suy tôn là \"Thái thượng lão quân\", còn gọi là \"Đạo đức thiên tôn\" Ngự ở tầng Thái Thanh. Các vị tiên không những chỉ ở trên các tầng trời mà còn ở trong 36 động thiên và 72 phúc địa ở trên mặt đất. Mục đích tu luyện của tín đồ đạo giáo là trở thành các vị tiên trƣờng sinh bất tử. Phƣơng pháp tu luyện để trở thành tiên là luyện khí công, nhịn ăn lƣơng thực (tịnh cốc), luyện đan. Luyện đan là luyện thuốc tiên nhưng thực tế thì các thứ thuốc đó được luyện từ một số khoáng chất rất độc vì vậy uống xong không những không được trường sinh bất tử mà nhiều người đã bị ngộ độc chết. Đạo giáo đến thời Đƣờng Tống đƣợc giai cấp thống trị nâng đỡ nên thế lực phát triển khá mạnh, nhƣng từ Nguyên về sau thì ngày càng suy tàn. Tuy vậy Đạo giáo đã có những ảnh hƣởng đáng kể đối với văn hóa Trung Quốc nhất là việc phát minh ra thuốc súng, phép dƣỡng sinh và văn học nghệ thuật. d)Pháp gia. Pháp gia là trƣờng phái chủ trƣơng dùng pháp luật để trị nƣớc. Phái này xuất hiện từ thời Xuân Thu mà ngƣời khởi xƣớng đầu tiên là Quản Trọng.
Quản Trọng ( ? - 645 TCN) là Tƣớng quốc của vua Hoàn Công nƣớc Tề. Ông đã đề ra một số chính sách cải cách làm cho nƣớc Tề trở nên hùng mạnh và đƣợc làm bá chủ một thời. Tiếp đó, trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, thuộc về phái pháp gia còn có nhiều ngƣời khác, trong đó tiêu biểu nhất là Thƣơng Ƣởng và Hàn Phi. Thƣơng Ƣởng là ngƣời đã giúp Tần Hiếu Công cải cách làm cho nƣớc Tần trở thành nƣớc giàu mạnh nhất ở Trung Quốc thời Chiến Quốc, trên cơ sở đó hơn một thế kỉ sau đã đánh bại các nƣớc khác, thống nhất toàn Trung Quốc. Hàn Phi (280 ? - 233 TCN) là đại biểu xuất sắc nhất của phái Pháp gia, nhƣng ông có tật nói lắp không biện luận đƣợc nên đã tập trung sức lực để viết tác phẩm trình bày các luận thuyết của mình. Khi Tần đánh Hàn, vua Hàn sai Hàn Phi đi sứ nƣớc Tần. Lúc đầu Hàn Phi đƣợc vua Tần (tức Tần Thủy Hoàng sau này) tiếp đãi tử tế nhƣng sau bị bạn cùng học là Lý Tƣ gièm pha nên bị hạ nhục và phải uống thuốc độc tự tử. Kế thừa và phát triển tƣ tƣởng của các nhà Pháp gia đời trƣớc, Hàn Phi cho rằng muốn trị nƣớc tốt thì cần phải có 3 yếu tố: pháp, thế, thuật. Sở dĩ dùng pháp luật, mệnh lệnh, hình phạt để cai trị là phương pháp có hiệu lực nhất là vì \"dân vốn nhờn với lòng thương mà chỉ vâng theo uy lực\". Ông nêu một ví dụ: có một đứa con hư hỏng; cha mẹ, thầy giáo, làng xóm đều thương yêu, dạy dỗ bảo ban nó nhưng nó vẫn không thay đổi. Nhưng sau khi viên quan ở châu bộ cầm binh khí, thi hành pháp luật nhà nước lung bắt kẻ xấu thì nó mới sợ hãi và sửa đổi tính nết.
Nhưng muốn \"pháp\" có thể thi hành được thì vua phải có \"thế\" tức là phải có đầy đủ uy quyền. Để chứng minh luận điểm của mình ông lấy ví dụ Khổng Tử là một người đầy đủ tài đức nhưng trong cả nước chỉ có 70 người theo ông. Còn Lỗi Ai Công là một ông vua vào loại kém mà nhân dân cả nước không có ai dám không thần phục. Đó là vì Lỗ Ai Công có thế lực, còn Khổng Tử chỉ có nhân nghĩa mà thôi. Ngoài \"pháp\" và \"thế\" còn cần phải có \"thuật\" tức là phương pháp điều hành. Thuật bao gồm 3 mặt: bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt. Thuật bổ nhiệm là phương pháp chọn quan lại: chỉ căn cứ vào tài năng, không cần đức hạnh dòng dõi. Thuật khảo hạch và thưởng phạt là căn cứ theo trách nhiệm để kiểm tra hiệu quả công tác, làm tốt thì thưởng rất hậu, làm không tốt thì phạt rất nặng. Còn về đƣờng lối xây dựng đất nƣớc, Hàn Phi chủ trƣơng chỉ chú ý vào hai việc là sản xuất nông nghiệp và chiến đấu. Hàn Phi nói: \"... dân trong nước, mọi lời nói hợp với pháp luật, mọi việc làm dốc vào việc cày, cấy, kẻ dũng cảm dốc hết sức vào việc quân, do đó khi vô sự thì nước giàu, khi hữu sự thì binh mạnh. Đó là cái vốn của nghiệp vương, lại biết lợi dụng thời cơ của nước thì vượt ngũ đế, ngang tam vương tất là do pháp ấy\". Còn văn hóa giáo dục thì không những không cần thiết, không đem lại lợi ích thiết thực mà còn có hại cho xã hội. Theo Hàn Phi nếu khuyến khích việc học tập thì sẽ có ít người chịu cày ruộng và chiến đấu, do đó nước sẽ nghèo. Hơn nữa, người làm việc bằng trí óc nhiều thì pháp luật sẽ rối loạn. \"Bởi vậy, nước của vị vua sáng suốt không cần
sách vở, lấy pháp luật để dạy, không cần lời nói của các vua đời trước, dùng quan lại làm thầy giáo\". Phải thừa nhận rằng phái Pháp gia chủ trƣơng dùng pháp luật để trị nƣớc là đúng đắn. Nhờ vậy, nƣớc Tần đã trở nên hùng mạnh và thống nhất đƣợc Trung Quốc. Nhƣng mặt khác phái này quá nhấn mạnh biện pháp trừng phạt nặng nề, phủ nhận đạo đức, tình cảm, thủ tiêu văn hóa giáo dục là đi ngƣợc lại với sự phát triển của văn minh và làm cho mâu thuẫn xã hội vô cùng gay gắt. Chính vì thế, sau khi thống nhất Trung Quốc, nhà Tần tiếp tục thi hành đƣờng lối này nên chỉ tồn tại đƣợc 15 năm thì sụp đổ. Từ Hán về sau, tuy học thuyết Pháp gia không đƣợc chính thức công nhận, nhƣng thực tế thì nhiều yếu tố của phái này vẫn đƣợc vận dụng để kết hợp với Nho gia trong việc trị nƣớc. e) Mặc gia Ngƣời sáng lập phái Mặc gia là Mặc Tử (khoảng 468-376 TCN), ngƣời nƣớc Lỗ. Về chủ trƣơng chính trị, hạt nhân của tƣ tƣởng Mặc Tử là thuyết \"kiêm ái\" (thƣơng yêu mọi ngƣời). Ông cho rằng: \"Phàm trong thiên hạ, sở dĩ có những điều oán thù tai vạ tranh cướp nhau đều là do không yêu thương nhau mà sinh ra\", vì vậy phải \"thương yêu ai cũng như nhau\", phải \"coi nước người khác như nước của mình, coi gia đình người khác như gia đình của mình, coi người khác như bản thân mình\". \"Nếu mọi người trong thiên hạ thương yêu nhau, giữa các nước không tấn công lẫn nhau, giữa nhà này nhà khác không có chuyện rắc rối, thì giặc giã trộm cướp không có, vua tôi cha con đều có thể trên dưới yêu thương lẫn nhau, và như vậy thì thiên hạ sẽ ổn định\".
Để thực hiện thuyết kiêm ái, \"kẻ có sức phải giúp đỡ người khác, kẻ có của phải chia sẻ cho người khác, kẻ hiểu biết phải dạy dỗ người khác.\" Hơn nữa phải tạo điều kiện cho những người già cả không vợ con thì có nơi nuôi dưỡng cho hết tuổi già, những trẻ nhỏ mò côi không có cha mẹ thì có nơi nương tựa để khôn lớn\". Xuất phát từ hạt nhân tƣ tƣởng kiêm ái ấy, Mặc Tử đề xƣớng chủ trƣơng tiêt kiệm (tiết dụng), vì nếu sống xa xỉ thì phải \"giật cái ăn cái mặc của dân\". Đồng thời, Mặc Tử phản đối việc nghe âm nhạc, phản đối việc tổ chức đám tang linh đình, đặc biệt phản đối các cuộc chiến tranh xâm lƣợc, vì nó \"tàn hại muôn dân\", \"làm kiệt quệ của cải của trăm họ trong thiên hạ\". Nhƣ vậy, tƣ tƣởng chủ yếu của Mặc Tử cũng là lòng thƣơng ngƣời, nhƣng thuyết \"kiêm ái\" của Mặc gia khác chữ \"nhân\" của Nho gia ở chỗ đây là tình thƣơng không có phân biệt thân sơ. Vì thế Mạnh Tử đã công kích Mặc gia là \"không cha\" mà không cha là cầm thú. Trong việc tổ chức bộ máy nhà nƣớc, Mặc Tử chủ trƣơng ngƣời có tài đức (thƣợng hiền). Hễ bất cứ ai, kể cả nông dân và thợ thủ công, nếu có tài năng thì có thể đƣa lên chức vị cao, nếu ai ngu đần thì hạ xuống, dù là dòng họ quý tộc, cho nên các quan không phải cứ sang trọng mãi, dân không phải hèn hạ suốt đời. Tóm lại, tƣ tƣởng của Mặc Tử có mặt phản ánh nguyện vọng của nhân dân lao động, nhƣng thuyết kiêm ái của ông rõ ràng là mang tính không tƣởng, vì vậy không đƣợc giai cấp thống trị áp dụng. Sau khi Mặc Tử chết, phái chính thống của Mặc gia phát triển thành phái hiệp khách chuyên phục vụ cho một số vua chúa quý tộc.
7. Giáo dục a) Trường học Từ đời Thƣơng, Trung Quốc đã có chữ viết nhƣng tình hình giáo dục thời kì này nhƣ thế nào nay không thể biết đƣợc. Đến thời Chu nền giáo dục Trung Quốc đã có quy chế rõ ràng. Trƣờng học thời Tây Chu chia làm hai loại quốc học và hƣơng học. Trƣờng quốc học gồm có Bích Ung và Phán Cung. Bích Ung là trƣờng đại học ở kinh đô Tây Chu, Phán Cung là trƣờng đại học ở kinh đô các nƣớc chƣ hầu. Thuộc về quốc học, ở kinh đô còn có trƣờng tiểu học. Trƣờng hƣơng học là trƣờng học ở các địa phƣơng. Tùy theo các cấp hành chính, trƣờng học địa phƣơng có các tên \"thục\", \"tƣờng\", \"tự\", \"hiệu\". Thời Xuân Thu, nền quốc học của nhà Chu dần dần suy thoái, trƣờng tƣ bắt đầu xuất hiện. Ngƣời đầu tiên sáng lập trƣờng tƣ là Khổng Tử. Đến thời Chiến Quốc, Mặc Tử, TrangTử, Mạnh Tử, Tuân Tử cũng là những thầy giáo có nhiều học trò, do đó lập thành những phái khác nhau. Từ đời Hán về sau, cùng với sự đề cao Nho giáo, nền giáo dục của Trung Quốc càng phát triển mạnh. Trƣờng học cao nhất thời Hán gọi là Thái học đƣợc thành lập từ thời Hán Vũ đế (140-87 TCN). Các giáo quan dạy ở Thái học gọi là Ngũ kinh bác sĩ, học sinh thời Tây
Hán gọi là \"bác sĩ đệ tử”, thời Đông Hán gọi là \"thái học sinh”. Nội dung học tập chủ yếu là kinh điển Nho gia. Phƣơng thức dạy học là giảng ở những giảng đƣờng lớn. Do thầy giáo ít, học trò đông nên chủ yếu là tự học. Mỗi năm phải thi một lần. Ai thông đƣợc một kinh trở lên thì đƣợc bổ làm quan. Ở các địa phƣơng cũng có trƣờng quốc lập gọi là \"học\", \"hiệu\", \"tƣờng\", \"tự\", nhƣng trƣờng học ở các địa phƣơng không đƣợc coi trọng. Nền tƣ học dân gian thì từ đời Hán về sau lại càng thịnh hành. Thời Tùy - Đƣờng, nền giáo dục Trung Quốc có một bƣớc phát triển quan trọng: nhiều trƣờng chuyên ngành đã đƣợc thiết lập. Đó là các trƣờng Quốc tử học, Thái học, Tứ môn học, Thƣ học (học viết chữ), Toán học, Luật học. Các trƣờng này thuộc một cơ quan giáo dục gọi là Quốc tử giám tƣơng tự nhƣ Bộ Giáo dục. Ngoài hệ thống trƣờng thuộc Quốc tử giám còn có một số trƣờng khác nhƣ Hoàng văn quán, Quảng văn quán, trƣờng Y học, trƣờng Thiên văn học. Thời Tống còn đặt ra \"chế độ tam xá\" ở trƣờng Thái học, gồm Ngoại xá, Nội xá và Thƣợng xá, mục đích là để cho chế độ thi cử lên lớp đƣợc nghiêm túc. Học sinh mới vào trƣờng Thái học gọi là Ngoại xá sinh, sau kì thi năm thứ nhất, những ngƣời đạt kết quả loại nhất loại nhì và có đức hạnh thì đƣợc lên Nội xá. Sau 2 năm, Nội xá sinh thi tuyển lên Thƣợng xá, tốt nghiệp Thƣợng xá vào loại ƣu cũng có tƣ cách nhƣ Tiến sĩ. Bên cạnh trƣờng quốc học còn có rất nhiều trƣờng dân lập do các học giả nổi tiếng thành lập gọi là thƣ viện. Số học
sinh học tập ở đây rất đông, có thƣ viện đã thu hút hàng ngàn học sinh đến học. Thời Minh - Thanh, các trƣờng đại học do trung ƣơng mở đƣợc tập trung lại và gọi là Quốc tử giám. Đời Minh có hai trƣờng Quốc tử giám ở Bắc Kinh và Nam Kinh, đời Thanh chỉ còn một trƣờng Quốc tử giám ở Bắc Kinh mà thôi. Ngoài Quốc tử giám, đời Thanh còn có \"Tông học\" và \"Bát kì quan học” để dạy con em hoàng tộc và con em ngƣời Mãn Châu, Mông Cổ. Ở các địa phƣơng có phủ châu huyện học, về danh nghĩa là trƣờng học, thực tế là cơ quan quản lí tú tài vì chỉ có tú tài mới đƣợc học ở đó. Các trƣờng học này, về mặt tổ chức hết sức lỏng lẻo. Sau chiến tranh Thuốc phiện, đến cuối thế kỉ XIX, nhà Thanh học tập phƣơng Tây bắt đầu mở một số trƣờng học kiểu mới nhƣ Kinh sƣ đồng văn quán (1862), Giang Nam thiết lộ học đƣờng (Trƣờng đƣờng sắt Giang Nam, 1895). Đầu thế kỉ XX nhà Thanh tuyên bố thực hiện \"tân chính\" (đƣờng lối chính trị mới) mà nội dung quan trọng của tân chính là việc cải cách chế độ giáo dục. Từ đó các trƣờng học kiểu mới đã thay thế các trƣờng học kiểu cũ. b)Khoa cử. - Từ đời Hán đến thời Nam Bắc triều: tuy nền giáo dục của Trung Quốc không ngừng phát triển, nhƣng thời kì này chƣa có khoa cử. Thời Hán ở trong các trƣờng học có tổ chức thi hàng tuần hàng tháng hàng năm để kiểm tra kết qủa học tập chứ chƣa có thi quốc gia. Để tuyển chọn nhân tài trong cả nƣớc,
triều Hán thi hành chính sách \"sát cứ\" tức là giao cho các quan địa phƣơng khảo sát và tiến cử những ngƣời có tài có đức trong khu vực do mình cai trị. Những ngƣời đƣợc cử thƣờng đƣợc gọi là \"hiếu liêm\", \"mậu tài\", \"hiền lƣơng phƣơng chính\" v.v... Thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, Trung Quốc thi hành chế độ \"cửu phẩm trung chính”. Triều đình phái các viên quan gọi là \"trung chính\" về các địa phƣơng căn cứ theo tài năng và đức hạnh, chia những ngƣời có học thức ở trong vùng thành 9 hạng để nhà nƣớc tùy tài mà bổ dụng. Những biện pháp sát cử và cửu phẩm trung chính này đều không tránh khỏi tiêu cực. Thông thƣờng chỉ có con em dòng dõi quý tộc đƣợc lựa chọn, còn những ngƣời khác tuy có tài năng cũng ít khi đƣợc tiến cử. - Thời Tùy Đƣờng: Bắt đầu từ thời Tùy, chế độ khoa cử mới đƣợc đặt ra, khoa thi đầu tiên gọi là khoa Tiến sĩ, nội dung thi là văn học. Đến đời Đƣờng, số khoa thi càng nhiều, gồm có: Tú tài (về sau bỏ), Minh kinh (hiểu rõ kinh sách), Minh pháp (nắm vững pháp luật), Minh toán (giỏi toán), Minh thƣ (giỏi viết chữ), trong đó quan trọng nhất là hai khoa Tiến sĩ và Minh kinh (Tiến sĩ cao hơn Minh kinh). Những ngƣời mới đỗ Tiến sĩ đƣợc dự yến vào vƣờn hạnh Tràng An, gọi là Thám hoa yến. Thời Đƣờng đỗ Tiến sĩ chỉ mới đủ tƣ cách để làm quan, còn muốn có quan chức thực sự thì phải thi kì thi tuyển của bộ Lại, nếu trúng tuyển mới trở thành quan lại. - Thời Tống: Tiếp tục thực hiện chế độ thời Đƣờng nhƣng có một số quy định mới:
+ Nội dung thi nặng về kinh nghĩa (thời Đƣờng chủ yếu thi thơ phú). + Định ra chế độ 3 năm thi một lần (từ Đƣờng đến đầu Tống, mỗi năm hoặc 2 năm một lần). + Tiến sĩ chia thành 5 cấp: nhất giáp, nhị giáp, tam giáp, tứ giáp, ngũ giáp (từ Nguyên về sau chỉ chia thành 3 cấp, nhất giáp chỉ có 3 ngƣời). + Điện thí trở thành một chế độ. Đời Đƣờng đã có Điện thí nhƣng thỉnh thoảng mới tổ chức, nhƣng nếu thi Điện thí không đạt yêu cầu thì có thể trƣợt Tiến sĩ. Từ Tống về sau Điện thí không đánh hỏng, hơn nữa đã đỗ đều đƣợc làm quan, không cần thi tuyển ở bộ Lại nữa. + Đặt thêm cấp thi Hƣơng, thời Đƣờng ngƣời thi Tiến sĩ là do học quán hoặc địa phƣơng tiến cử gọi là \"cử tử\" hoặc \"cử nhân\", không qua khoa thi ở địa phƣơng. Thời Tống trƣớc khi thi Tiến sĩ, phải qua kì thi ở địa phƣơng. Nếu thi Tiến sĩ không đậu thì khóa sau phải thi Hƣơng lại một lần nữa. - Thời Minh - Thanh: Đến thời kì này chế độ khoa cử càng hoàn bị và chặt chẽ hơn trƣớc. Cấp thi gồm có: Thi Viện, thi Hƣơng, thi Hội và thi Điện. Trƣớc khi thi Viện phải qua hai kì thi dự bị: thi ở huyện và thi ở phủ. Nếu thi đậu thì đƣợc gọi là đồng sinh. Tiếp đó phải dự kì thi Viện do quan Đề đốc học viện đƣợc chính phủ trung ƣơng ủy phái chủ trì. Thi Viện đậu đƣợc thì gọi là Tú tài và đƣợc vào học ở trƣờng huyện hoặc trƣờng phủ gọi là sinh viên. Thi Hƣơng: là kì thi ở cấp tỉnh, cứ 3 năm tổ chức một lần. Ngƣời dự thi là những ngƣời đã đỗ Tú tài. Ngoài ra những ngƣời gọi là \"quyên giám\" (bỏ tiền ra mua tƣ cách sinh viên) và \"ấm giám\" (con cái quan lại đƣợc tập ấm) cũng đƣợc dự thi. Những
ngƣời trúng tuyển trong kì thi Hƣơng gọi là Cử nhân, ngƣời đỗ đầu gọi là Giải nguyên. Những ngƣời đậu Cử nhân có thể đƣợc bổ dụng làm quan từ trung cấp trở xuống. Thi Hội là kì thi tổ chức ở kinh đô do bộ Lễ chủ trì, cứ 3 năm tổ chức một lần. Ngƣời dự thi là các Cử nhân. Những ngƣời thi đậu trong kì thi Hội đƣợc gọi là \"Cống sĩ\", thông thƣờng gọi là Tiến sĩ. Ngƣời đỗ đầu gọi là Hội nguyên. Thi Điện (cũng gọi là thi Đình) là kì thi tổ chức ở trong cung vua, ngƣời chủ khảo là hoàng đế. Ngƣời dự thi là những ngƣời đã đậu Tiến sĩ. Kết quả thi Điện đƣợc chia làm 3 cấp là: Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp. Nhất giáp có 3 bậc: Nhất giáp đệ nhất danh gọi là Trạng nguyên, còn gọi là Điện nguyên, Đình nguyên; nhất giáp đệ nhị danh gọi là Bảng nhãn; nhất giáp đệ tam danh gọi là Thám hoa. Những ngƣời này còn đƣợc gọi là Tiến sĩ cập đệ. Những ngƣời đậu trong bảng Nhị giáp gọi là Tiến sĩ xuất thân. Những ngƣời đậu trong bảng Tam giáp thì gọi là Đồng Tiến sĩ xuất thân. Cùng với việc cải cách chế độ giáo dục, chế độ khoa cử phong kiến của Trung Quốc đến năm 1905 thì bãi bỏ.
Chương IV VĂN MINH KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
I - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Đông Nam Á là một khu vực khá rộng, diện tích khoảng 4,5 triệu km2 trải ra trên một phần Trái Đất từ khoảng 92° đến 140° kinh Đông và từ khoảng 28° vĩ Bắc chạy qua xích đạo đến khoảng 15° vĩ Nam. Về mặt địa lí hành chính, Đông Nam Á hiện nay gồm có 10 nƣớc: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Brunây với dân số khoảng hơn 521 triệu ngƣời (số liệu năm 2000). Ý niệm về Đông Nam Á nhƣ một khu vực riêng biệt đã có từ lâu. Song, cùng với thời gian, khái niệm này ngày càng đƣợc hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn. Ngƣời Trung Quốc xƣa kia thƣờng dùng từ Nam Dƣơng để chỉ những nƣớc nằm trong vùng biển phía Nam. Ngƣời Nhật gọi vùng này là Nan Yo. Ngƣời Arập xƣa gọi vùng này là Qumr, rồi lại gọi là Waq-Waq và sau này chỉ gọi là Zabag. Còn ngƣời Ấn Độ từ xƣa vẫn gọi vùng này là Suvarnabhumi (đất vàng) hay Suvarnadvipa (đảo vàng). Tuy nhiên đối với các lái buôn thời bấy giờ Đông Nam Á đƣợc nhìn nhận là \"một vùng thần bí, nơi sản xuất hƣơng liệu, gia vị và những sản phẩm kì lạ khác, còn sinh sống ở đây là những con ngƣời đi biển thành thạo và can đảm\"(1). Tính khu vực của Đông Nam Á đƣợc nhận thức rõ rệt đầy đủ hơn khi nƣớc Anh lập ra Bộ chỉ huy quân sự Đông Nam Á trong thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, cố gắng hợp nhất các nƣớc thuộc địa tách biệt của các đế quốc Anh, Hà Lan, Pháp, Mỹ lại thành một khu vực chung. Nhƣ thế có thể thấy rằng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, từ Đông Nam Á mới xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới nhƣ một khu vực riêng biệt và có tầm quan trọng đặc biệt. Song nếu nhƣ trƣớc đây, ngƣời ta mới chỉ nhìn thấy tính khu vực của
Đông Nam Á thể hiện ở vị trí địa lí - chính trị và quân sự của nó thì đến nay nhiều ngƣời đã khẳng định rằng ít nhất cho đến thế kỉ XVI, Đông Nam Á đã nổi lên nhƣ một trong những trung tâm văn minh, một khu vực địa lí - lịch sử - văn hóa trƣớc khi trở thành một khu vực địa lí - chính trị.(2) Đƣơng nhiên trong quá trình phát triển lịch sử, Đông Nam Á chịu ảnh hƣởng của các nền văn minh bên ngoài, song sự tác động ấy không vì thế mà biến vùng này thành khu vực \"Ấn Độ hóa\" hay \"Hán hóa\" mà nó đã \"lựa chọn những gì thích hợp trong thế giới Đraviđa, đồng thời phục tùng các đặc điểm của mình, chứ không phải tiếp thu tất cả những gì xa lạ với họ.\"(3) Do điều kiện địa lí của mình, Đông Nam Á chịu ảnh hƣởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai mùa tƣơng đối rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mƣa tƣơng đối nóng và ẩm. Vì thế Đông Nam Á còn đƣợc gọi là khu vực \"châu Âu gió mùa\". Nếu theo khái niệm này thì ranh giới địa lí khu vực Đông Nam Á còn bao gồm cả miền Nam Trƣờng Giang và vùng Đông Bắc Ấn Độ nữa. Chính gió mùa và khí hậu biển làm cho khí hậu vùng Đông Nam Á đáng lẽ có thể trở nên khô cằn nhƣ một số khu vực lục địa khác có cùng vĩ độ, nhƣng nó đã trở nên xanh tốt và trù phú với những đô thị đông đúc và thịnh vƣợng nhƣ Kuala-Lumpua, Xingapo, Giacata... Gió mùa kèm theo những cơn mƣa nhiệt đới đã cung cấp đủ nƣớc cho con ngƣời dùng trong đời sống và sản xuất hàng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và chim muông. Đông Nam Á từ lâu đã trở thành quê hƣơng của những cây gia vị, cây hƣơng liệu đặc trƣng nhƣ hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hƣơng... và cây lƣơng thực đặc trƣng là lúa nƣớc. Theo một số nhà nghiên cứu thì cƣ dân Đông Nam Á có những nét chung thống nhất về mặt văn hóa
là vì cƣ dân ở đây có chung một nền tảng văn hóa Nam Á, lấy sản xuất nông nghiệp lúa nƣớc làm phƣơng thức hoạt động kinh tế chính. Đông Nam Á đƣợc coi là \"cái nôi\" của cây lúa nƣớc và là một trong năm trung tâm cây trồng lớn trên thế giới. Văn hóa Hòa Bình đã chứng minh cƣ dân ở đây đã thuần hóa nhiều giống lúa, thực vật khác nhau, xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai với các loại cây trồng đặc biệt là các loại cây có củ và bầu bí, các cây họ đậu ở vùng thung lũng chắn núi. Có nhà nghiên cứu còn cho rằng chủ nhân văn hóa Hòa Bình là ngƣời biết trồng trọt đầu tiên trên thế giới; niên đại nông nghiệp ở đây có thể lên đến hơn 1 vạn năm TCN và vì thế \"Đông Nam Á đã có một cuộc cách mạng nông nghiệp sớm nhất thế giới\". Đến thời đại đồ đồng, trong điều kiện của vùng nhiệt đới, cƣ dân Đông Nam Á đã bƣớc sang kinh tế trồng lúa khô ở nƣơng rẫy và lúa nƣớc ở vùng thung lũng hẹp châu thổ. Cây lúa đầu tiên đƣợc thuần dƣỡng ở vùng thung lũng hệ chân núi dần dần đƣợc chuyển xuống vùng châu thổ thích nghi với vùng ngập nƣớc. Cùng với việc trồng lúa nƣớc, ngƣời ta đã thuần dƣỡng trâu bò làm sức kéo, xuất hiện các nghề thủ công, đặc biệt là nghề sông biển. Từ đó nông nghiệp trồng lúa nƣớc đã trở thành cội nguồn, thành mẫu số chung của nền văn minh khu vực. Đó là một \"nền văn minh có đủ sắc thái đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửa rừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp... nhƣng mẫu số chung là văn minh nông nghiệp trồng lúa nƣớc, văn hóa xóm làng\"(4). Phải nói rằng gió mùa không chỉ đem lại thuận lợi cho con ngƣời mà những yếu tố tự nhiên vẫn tác động và tạo nên sự thất thƣờng cho khí hậu trong vùng tuy với biên độ không lớn lắm. Mƣa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu vực làm thành những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển và
đồng bằng, tạo nên những cảnh quan đa dạng. Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á thiếu những không gian rộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô lớn, thiếu những điều kiện tự nhiên cho sự phát triển những kĩ thuật tinh tế, phức tạp. Ở đây không có những đồng bằng rộng lớn nhƣ vùng châu thổ sông Ấn, sông Hằng hay sông Hoàng Hà; cũng không có những đồng cỏ mênh mông nhƣ vùng thảo nguyên. Không gian sinh tồn ở đây tuy nhỏ hẹp nhƣng lại rất phong phú, đa dạng; con ngƣời có thể khai thác ở thiên nhiên đủ loại thức ăn để sinh sống. Vì thế có ngƣời đã gọi Đông Nam Á là khu vực khai thác thức ăn theo phổ rộng. Những điều kiện đó rất thuận lợi cho cuộc sống của con ngƣời trong buổi đầu nhƣng không khỏi ảnh hƣởng nhất định đến sự phát triển của một nền kinh tế sản xuất lớn, tạo nên một khối lƣợng sản phẩm lớn trong những giai đoạn phát triển sau này của khu vực. Đồng thời, sự đa dạng, đan xen của những địa bàn sinh tụ nhỏ này đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên tính đa dạng trong văn hóa tộc ngƣời của cả khu vực và trong mỗi quốc gia. 2. Do vị trí địa lí của mình nằm án ngữ trên con đƣờng hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng, Đông Nam Á từ lâu vẫn đƣợc coi là hành lang, là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải. Thậm chí cho đến gần đây, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là \"ống thông gió\" hay \"ngã tƣ đƣờng\". Việc đi lại bằng thuyền ở vùng Đông Nam Á đã có từ thời rất xa xƣa. Có thể nói cƣ dân Đông Nam Á đã biết đóng bè mảng và thuyền đi biển rất sớm. Dựa trên các tài liệu khảo cổ học W.Solheime đã nhận định rằng kĩ thuật đi biển sớm nhất xuất hiện ở vùng duyên hải biển Xulu, giữa Minđanao, Boócnêô và
Xêlêbơ khoảng 8000 - 9000 năm trƣớc. Kĩ thuật hàng hải cổ đạt đến đỉnh cao vào khoảng thế kỉ V TCN khi những hình thuyền với cỡ dáng to lớn, kiểu cong mũi, cong lái đƣợc khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn. Các thƣ tịch cổ Trung Hoa từ thế kỉ III cũng xác nhận rằng các sƣ tăng Trung Hoa sang Ấn Độ thời bấy giờ đều đi trên những thuyền gọi là Côn Luân bản dài đến 50m, trọng tải đến 600 tấn, có thể chở hàng trăm ngƣời, có buồm lớn, buồm con... của các nƣớc thƣơng nghiệp Đông Nam Á. Những con thuyền này đều có cột, giƣơng buồm, đã vƣợt biển khơi, nối Đông Nam Á với Trung Quốc và Ấn Độ, chở ngƣời và hàng hóa, từ đầu công nguyên cho đến thế kỉ XV - XVI. Một số thuyền không may bị đắm. P.Y. Manguin đƣa ra một danh mục 10 thuyền bị đắm đã đƣợc các nhà khảo cổ học dƣới nƣớc phát hiện và nghiên cứu trong đó có 2 thuyền ở Pahang (Malaixia) và Agusan (Philippin) có niên đại C14 vào khoảng thế kỉ III - V; 3 thuyền thuộc thế kỉ V - VI và những thuyền khác thuộc thế kỉ VII – XIV. Trên tƣờng khu đền Bôrôbuđua còn có phù điêu hình con thuyền buồm lớn nhiều mái chèo, gần giống với những hạm thuyền Galơ của La Mã cổ đại(5). Việc buôn bán bằng đƣờng biển với Đông Nam Á đã khá nhộn nhịp từ thế kỉ II. Đến thế kỉ VII thì thuyền buôn Arập đã thƣờng xuyên đến vùng này để mua hƣơng liệu, gia vị. Không phải ngẫu nhiên mà ở đây đã có mặt những nhà địa lí hay du lịch, nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả phƣơng Đông và phƣơng Tây trong suốt chiều dài lịch sử nhƣ Ptôlêmê, Khang Thái, Nghĩa Tĩnh, Pháp Hiển, Trịnh Hà, Maccô Pôlô, Chu Đạt Quan... Họ đã đến đây xem xét, ghi chép và để lại những tài liệu quý giá cho đời sau. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu đã coi Đông Nam Á là một bộ phận của hệ thống
mậu dịch thế giới, nối liền hai thế giới Đông Tây, có từ thời truyền bá đạo Phật, đạo Hinđu cho đến tận ngày nay. --------------------- 1. Donal G. Mc Cloud: Sytemand prosess in Southeast Asia, Westvien press, USA. 1986, P10. 2. Đinh Ngọc Bảo: Đông Nam Á - Một khu vực địa lí - lịch sử văn hóa. Thông báo khoa học. ĐHSP Hà Nội 1, năm 1994, số 6. 3. Đông Nam Á trong lịch sử thế giới. Matxcơva 1977, trang 31. 4. Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Phổ: Đông Nam Á một nền văn hóa cổ xưa và đa dạng. Báo Nhân dân ngày 1- 10 - 1978. 5. Dẫn theo: Lương Ninh: Đông Dương… trang 11. II - CƠ SỞ HÌNH THÀNH NỀN VĂN MINH KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 1. Có thể thấy rằng điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á thuận lợi cho những bƣớc đi đầu tiên của con ngƣời. Điều đó giải thích vì sao con ngƣời đã có mặt ở đây từ rất xa xƣa. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều dấu vết của quá trình chuyển biến từ vƣợn thành ngƣời ở Đông Nam Á. Cách đây không lâu ngƣời ta đã phát hiện đƣợc dấu vết hóa thạch vƣợn bậc cao Pondaung (Mianma) có niên đại 40 triệu năm và vƣợn khổng lồ ở Inđônêxia sống cách đây khoảng 5 triệu năm. Đặc biệt hóa thạch của ngƣời Pitêcantơrốp tìm thấy ở Giava có niên đại cách đây khoảng 2 triệu năm là dấu vết xƣa nhất của giống ngƣời tối cổ ở Đông Nam Á. Di cốt, mảnh di cốt và những công cụ đồ đá của ngƣời tối cổ còn đƣợc tìm thấy ở nhiều nơi khác trong khu vực nhƣ ở Việt Nam, Thái Lan, Philippin, Malaixia... việc phát hiện chiếc sọ Ngƣời Tinh khôn (Hômô Sapiêns) ở hang Nia (Saraoắc đảo Boócnêô) với niên đại là 396.000 năm và một chỏm sọ Hômô Sapiêns trong hang
Tabon (Philippin) có niên đại 30.500 năm đã cho thấy quá trình chuyển biến từ vƣợn thành ngƣời ở Đông Nam Á là trực tiếp và liên tục. Cùng sinh tụ trên một khu vực địa lí, cƣ dân Đông Nam Á đã sáng tạo ra một nền văn hóa bản địa có cội nguồn chung từ thời tiền sử và sơ sử trƣớc khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Quá trình phát triển liên tục của các nền văn hóa khảo cổ ở Đông Nam Á đã chứng tỏ điều đó. Sau giai đoạn đó đá cũ với những di chỉ nổi tiếng nhƣ núi Đọ, núi Quan Yên, Xuân Lộc (Việt Nam), Anya (Mianma), Pingnoi (Thái Lan), Tampan (Malaixia), Cabaloan (Philippin)... ngƣời ta vẫn thấy có sự phát triển liên tục từ đồ đá giữa đến sơ kì đồ sắt ở Đông Nam Á. Điển hình của thời đại đồ đá giữa của khu vực là văn hóa Hòa Bình với loại hình công cụ đặc trƣng là những viên cuội đƣợc ghè đẽo trên cả hai mặt, rìu đá cuội có lƣỡi ở một đầu, chày nghiền... Kĩ thuật chế tác đá Hòa Bình đã có mặt trên nhiều địa điểm ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia.. Sự giống nhau của kĩ thuật chế tác đá thuộc văn hóa Hòa Bình đã khiến cho nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn hóa Hòa Bình là một nền văn hóa chung của cả Đông Nam Á. Vì thế một số ngƣời đã dùng khái niệm \"phức hợp kĩ thuật Hòa Bình\" để chỉ một truyền thống kĩ thuật ghè đẽo chung cho cả khu vực. Đến thời đại đá mới, mặc dù có những con đƣờng phát triển kĩ thuật khác nhau giữa Đông Nam Á lục địa và Hải đảo mà có ngƣời đã gọi là những con đƣờng hậu Hòa Bình, ngƣời ta vẫn không thể không thừa nhận sự đồng đều cơ bản về trình độ chế tác đá thời kì đá mới ở Việt Nam và các vùng khác của khu vực.
Ngay ở lớp trên của một số di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, ngƣời ta đã tìm đƣợc những công cụ đá có mài lƣỡi. Nhƣng những chiếc rìu mài lƣỡi nhƣ thế đã đƣợc phát hiện chủ yếu trong các di chỉ thuộc văn hóa Bắc Sơn (Việt Nam). Rìu mài lƣỡi kiểu Bắc Sơn còn đƣợc phát hiện ở Nia (Xaraoắc) với niên đại sớm hơn đôi chút, ở Guatêchin (Malaixia) nhƣng lại muộn hơn một ít, ở Bukit Talang (Xumatơra) Kendeng Lambu (Giava)... Niên đại của văn hóa Bắc Sơn là khoảng 10.000 - 6000 năm cách ngày nay. Nhƣ thế rìu mài lƣỡi Nia và Bắc Sơn cũng là những công cụ đá mài sớm nhất trên thế giới. Cũng bắt đầu từ thời đá mới hậu kì, cƣ dân Đông Nam Á chuyển dần từ nông nghiệp trồng vƣờn (rau, củ) sang trồng lúa. Từ khoảng đầu thiên niên kỉ II TCN, cƣ dân Đông Nam Á mà trƣớc hết là cƣ dân vùng đồng bằng sông Hồng và ở Thái Lan, đã biết đến công cụ bằng đồng thau. Đông Nam Á hầu nhƣ không có một giai đoạn đá đồng (tức đồng đỏ) riêng biệt. Đồng thau đƣợc sử dụng ngay từ đầu cùng với các công cụ bằng đá và tre gỗ... Tiếp sau các nền văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn ở Việt Nam, việc khai quật các di chỉ đồng thau ở Non Nóc Thà, Ban Chiang, bản Na Di ở Thái Lan đã làm chấn động giới tiền sử học và càng khẳng định tính chất bản địa của nghề đúc đồng ở nơi đây, và nhƣ thế, cũng cho thấy rằng Đông Nam Á đã có một nền văn minh đồng thau phát triển sớm và rực rỡ không thua kém gì các nền văn minh cổ đại khác. Vào những thế kỉ tiếp giáp của công nguyên, trên cơ sở phát triển của đồ đổng, đồ sắt bắt đầu đƣợc sử dụng phổ biến ở Đông Nam Á. Với đồ sắt phát triển, các dân tộc Đông Nam Á nói
chung (trừ cƣ dân đồng bằng sông Hồng phát triển sớm hơn) bắt đầu đứng trƣớc ngƣỡng cửa của xã hội có giai cấp và nhà nƣớc. 2. Sự hình thành các quốc gia Đông Nam Á còn gắn liền với việc tiếp thu ảnh hƣởng văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa. Những ảnh hƣởng này là khá toàn diện và sâu sắc, cả về chữ viết, văn chƣơng, tôn giáo, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc... Có thể bắt đầu từ đầu công nguyên, từ cái nền chung là cơ tầng văn hóa bản địa Đông Nam Á, những cƣ dân ở đây đã bắt đầu gập làn sóng văn hóa Ấn Độ đến đây theo chân các thƣơng gia và những nhà truyền đạo một cách hòa bình và tiếp nhận nền văn hóa Trung Hoa từ những ngƣời Trung Quốc thống trị. Chính sự tiếp xúc văn hóa này đã làm cho các tộc ngƣời ở đây định hình và phát triển hơn với sự ra đời của các vƣơng quốc cổ ở Đông Nam Á. Về những ảnh hƣởng của văn hóa Ấn Độ đối với Đông Nam Á, G.Coedes đã dành hẳn một chƣơng trong công trình nghiên cứu của mình để nói về quá trình mà ông gọi là \"Ấn Độ hóa\". Theo ông \"ảnh hƣởng của nền văn minh Ấn Độ chủ yếu là sự bành trƣớng của một nền văn hóa có tổ chức, dựa trên quan điểm Ấn về vƣơng quyền, tiêu biểu bằng Ấn Độ giáo hoặc Phật giáo, thần thoại Purana, pháp giới Phacmaxastra và lấy tiếng Phạn làm phƣơng tiện biểu đạt.\"(1) Cũng qua công trình nghiên cứu này ngƣời ta có thể thấy ảnh hƣởng của văn minh Ấn Độ sang khu vực Đông Nam Á đƣợc biểu hiện chủ yếu trên các mặt sau đây: - Ngôn ngữ và văn tự (chữ Phạn và Pali). - Văn học. - Tôn giáo (đạo Hinđu và đạo Phật). - Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.
- Phƣơng thức canh tác và quản lí xã hội. Có thể nói, ảnh hƣởng này là khá toàn diện và sâu sắc. Những ảnh hƣởng đó đƣợc truyền đến Đông Nam Á bằng nhiều con đƣờng khác nhau. Trƣớc hết có lẽ ở một số nơi thƣơng nhân Ấn Độ đã đến hoạt động làm cho nền kinh tế và việc trao đổi sản phẩm ở các khu vực này phát triển. Đồng thời văn hóa Ấn Độ cũng theo đó mà đƣợc truyền bá vào. Một số nhà truyền đạo cũng theo các thuyền buô đến Đông Nam Á. Trong số các thƣơng nhân và các nhà truyền đạo Ấn Độ, không ít ngƣời ở hẳn đây sinh cơ lập nghiệp và thậm chí giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền. Thƣơng nhân Đông Nam Á cũng sang Ấn Độ để buôn bán và nhờ đó tiếp thu văn hóa Ấn Độ. Cùng lúc đó ở nhiều bộ tộc Đông Nam Á đang diễn ra quá trình tan rã của xã hội nguyên thủy và hình thành xã hội có giai cấp. Những thủ lĩnh của các bộ tộc này nhanh chóng tiếp nhận những cách thức tổ chức xã hội và chính quyền của Ấn Độ để tạo dựng các quốc gia riêng. Để tổ chức đƣợc một nhà nƣớc mang tính chất vƣơng quyền theo kiểu Ấn Độ, không thể tách rời tôn giáo, mà những tôn giáo đó lại vốn có sẵn ở Ấn Độ và đƣợc truyền bá đến các nƣớc Đông Nam Á. Vì thế cùng một lúc, khi tổ chức quốc gia, tầng lớp trên của cƣ dân Đông Nam Á đã tiếp thu cả chữ viết, các văn bản và tôn giáo Ấn Độ. Sau đó các thành tựu khác của văn hóa Ấn Độ đƣợc tầng lớp này tiếp nhận cũng là để phục vụ cho việc thiết lập và củng cố vƣơng quyền. Nhƣ thế, có thể thấy rằng, những ảnh hƣởng này đã có tác dụng thúc đẩy quá trình phân hóa xã hội, hình thành những nhà nƣớc cổ đại và góp phần không nhỏ vào việc hình thành nên bản sắc văn hóa Đông Nam Á.
Tuy nhiên nhƣ chính G.Coedes cũng cho rằng, những ngƣời Ấn Độ đã không hề tiến hành một cuộc chinh phục bằng quân sự nhằm thôn tính một quốc gia nào, rằng ảnh hƣởng của văn hóa Ấn Độ chỉ nhƣ là một lớp vecni phủ trên một nền văn hóa chung của \"châu Á gió mùa\", trong đó mỗi vùng, mỗi quốc gia đã không bị mất đi tính cách riêng, độc đáo của mình.(2) Điều này đƣợc thể hiện trong nhiều lĩnh vực, ví dụ nhƣ, trong sự khác biệt giữa Ramayana với Riêmkê của Campuchia với Rama Khiên của Thái Lan... Song, không vì thế mà có thể nói, các cƣ dân Đông Nam Á đã tạo dựng đƣợc một nền văn hóa \"phi Ấn\", \"phi Hoa\", mà phải thừa nhận thuộc tính tiếp thụ, thâu hóa của văn hoá Đông Nam Á để làm nên bản sắc đa dạng của mình. Có lẽ, chính vì tính thích nghi, tính mở, tính uyển chuyển của Đông Nam Á mà ở đây có sự hòa đồng tôn giáo. Đức Phật ngồi trên tòa sen có rắn thần Naga làm lọng che mƣa nắng; bên cạnh các vị thần của đạo Bàlamôn và Hinđu, ngƣời Đông Nam Á vẫn thờ thần Thành hoàng, thờ sinh thực khí, với nhiều biến thể khác nhau. Ngay nhƣ Hồi giáo, ngƣời ta nói nhiều về tính cuồng tín của tôn giáo này, nhƣng ở Đông Nam Á, Hồi giáo uyển chuyển và mềm mại hơn nhiều. Và ở Đông Nam Á, khó có thể chỉ ra ai là \"tín đồ\" thuần Phật giáo, thuần Thiên chúa giáo hay thuần Hồi giáo. Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, với cách ứng xử không giống nhau trong quá trình tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ và sau này là văn hóa Âu - Mỹ, các cƣ dân Đông Nam Á đã xây dựng nên một nền văn hóa quốc gia - dân tộc độc đáo, đa dạng, phong phú, vừa có sự khác biệt trong tính đa dạng, vừa có nét tƣơng đồng khu vực và đã đóng góp vào kho tàng văn hóa chung của loài ngƣời những giá trị tinh thần độc đáo. Trên
cơ sở của văn tự Phạn, ngƣời Khơme đã sáng tạo ra chữ Khơme cổ vào thế kỉ thứ VII và sớm hơn nữa, từ thế kỉ thứ IV ngƣời Chăm đã có chữ viết riêng của mình. Cùng với tổng thể kiến trúc Bôrôbuđua ở Giava, khu đền Ăngco Vát và Ăngco Thom ở Camphuchia, That Luông ở Lào, Tháp Chàm ở Việt Nam..., vừa mang dáng dấp của kiến trúc Ấn Độ, vừa có những nét riêng độc đáo của từng dân tộc là những di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng không chỉ của Đông Nam Á mà của cả loài ngƣời. Từ khoảng đầu công nguyên đến thế kỉ thứ VII, hàng loạt quốc gia sơ kì đã đƣợc hình thành và phát triển ở khu vực phía Nam của Đông Nam Á lục địa. Vùng Nam Trung Bộ Việt Nam có vƣơng quốc Chămpa, vùng trung và hạ lƣu Mê Công có các vƣơng quốc Sresthapura, Isanapura, Naravara và Phù Nam. Trên bán đảo Mã Lai có các vƣơng quốc Lankasuka, Tambralinga và các nƣớc Tumasic ở gần Xingapo ngày nay. Trong số các vƣơng quốc này, thì Phù Nam là vƣơng quốc hùng mạnh và có tầm quan trọng hơn cả. Trên lƣu vực sông Mê Nam và Iraoađi, vào những thế kỉ đầu công nguyên là địa bàn sinh sống chủ yếu của ngƣời Môn. Thƣ tịch cổ Trung Hoa có nói tới một \"thuộc quốc\" của Phù Nam ở vùng này là nƣớc Xích Thổ. Sau đó vào nửa sau thế kỉ VII và thế kỉ VIII ở đây còn xuất hiện một vƣơng quốc khác của ngƣời Môn là Đvaravati. Lƣu vực sông Iraoađi là địa bàn cƣ trú của ngƣời Môn, Pyu và Miến. Từ thế kỉ V, ở khu vực này đã xuất hiện những địa điểm quần cƣ - trung tâm Phật giáo ở Thatơn và Prôme. Đến thế kỉ VII và thế kỉ VIII các nhà sƣ Trung Hoa nhƣ Nghĩa Tĩnh và Huyền Trang có nói tới một vƣơng quốc Sri Ksetra của ngƣời Pyu ở vùng Prôme.
Cuối cùng, trên đảo Giava từ thế kỉ IV đã xuất hiện vƣơng quốc Tamura ở phía Tây, còn trên đảo Xumatơra có vƣơng quốc Malayu. Bắt đầu từ khoảng thế kỉ VII đến thế kỉ X ở Đông Nam Á đã diễn ra quá trình hình thành các quốc gia \"dân tộc\" lấy một bộ tộc tƣơng đối đông đúc và phát triển hơn cả làm nòng cốt. Bên cạnh những quốc gia đã xuất hiện từ trƣớc nhƣ Âu Lạc của ngƣời Việt, Chămpa của ngƣời Chăm, đây là thời kì hình thành các vƣơng quốc Chân Lạp của ngƣời Khơme, Xri Vijaya trên đảo Xumatơra, Kalinga ở Giava... Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là giai đoạn xác lập và phát triển thịnh đạt của các quốc gia phong kiến \"dân tộc\" ở Đông Nam Á: ở khu vực Đông Nam Á hải đảo, Inđônêxia dƣới vƣơng triều Môgiôpahit bao gồm hơn 10 nƣớc nhỏ và đảo phụ thuộc \"có sản phẩm quý, đứng hàng thứ hai sau Arập\" đã không ngừng lớn mạnh trong suốt 3 thế kỉ (XIII - XVI). Ở Đông Nam Á lục địa ngoài quốc gia Đại Việt và Chămpa, Campuchia từ thế kỉ IX cũng bắt đầu bƣớc vào thời kì Ăngco huy hoàng và trở thành một trong những vƣơng quốc mạnh và ham chiến trận nhất trong khu vực. Trên lƣu vực sông Mê Nam, từ giữa thế kỉ IX, quốc gia Pagan đã dần dần mạnh lên, chinh phục các tiểu quốc khác thống nhất lãnh thổ, mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển của Mianma. Cũng trong giai đoạn này, ở Đông Nam Á ngoài những quốc gia đã đƣợc hình thành từ trƣớc, nay đang phát triển thịnh vƣợng còn xuất hiện 2 vƣơng quốc mới là Sukhôthay của ngƣời Thái và Lanxang của các bộ tộc ngƣời Lào. Sau thế kỉ XV, Đông Nam Á bắt đầu bƣớc vào thời kì suy thoái. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia, sự suy thoái diễn ra không
đồng đều về thời gian. Ở Campuchia quá trình này bắt đầu sớm hơn, từ khoảng thế kỉ XIII; Chămpa từ thế kỉ XV, Đại Việt và Mianma muộn hơn một chút. Riêng đối với Xiêm và Lanxang, chế độ phong kiến vẫn đang tiếp tục hƣng thịnh. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng suy thoái bắt nguồn từ trong lòng của chế độ phong kiến. Nền kinh tế phong kiến đã trở nên lỗi thời, không còn tiếp tục phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Chính quyền chuyên chế không chăm lo tới sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, nhất là thủy lợi mà chỉ tiêu hao sức ngƣời, sức của vào những cuộc chiến tranh nhằm xác định lãnh thổ và quyền lực của mình. Mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt. Những cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp xảy ra. Chế độ phong kiến đã trở nên trì trệ và dần dần suy thoái. Trong bối cảnh đó, sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân vào Đông Nam Á là nhân tố cuối cùng có ý nghĩa quyết định dẫn tới sự suy sụp của các quốc gia phong kiến trong khu vực. ----------------------- 1. G.Coedes. Lịch sử cổ đại. sđd, trang 40 2. G.Coedes. Lịch sử cổ đại. sđd, trang 61 - 63 III - MỘT SỐ THÀNH TỰU VĂN HÓA Cùng sinh tụ trên một khu vực địa lí, cƣ dân Đông Nam Á đã sáng tạo nên một nền văn hóa bản địa có cội nguồn chung từ thời tiền sử và sơ sử trƣớc khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Trong tính thống nhất khu vực, nền văn hóa đó có nguồn gốc và bản sắc riêng của
mỗi dân tộc đƣợc phát triển liên tục trong suốt chiều dài lịch sử. Xét về cội nguồn, Đông Nam Á có những đặc điểm văn hóa chung, tạo nên tính thống nhất của cƣ dân toàn vùng. Theo một số nhà nghiên cứu thì cƣ dân Đông Nam Á có những nét chung, thống nhất về mặt văn hóa vì cƣ dân ở đây có chung một nền tảng văn hóa Nam Á, lấy sản xuất nông nghiệp lúa nƣớc làm phƣơng thức hoạt động kinh tế là chính. Là cộng đồng các cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc, Đông Nam Á không những bao chứa những nét tƣơng đồng trong canh tác với hệ thống thủy lợi, mà còn có đời sống văn hóa tinh thần hết sức phong phú trong đó bao trùm tất cả là chu trình của đời sống nông nghiệp lúa nƣớc. Vì thế từ những truyện thần thoại đến lễ hội; từ phong tục tập quán đến âm nhạc nghệ thuật, kể cả múa hát... đều ít nhiều chịu ảnh hƣởng và phản ánh đời sống của cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc. 1. Cũng nhƣ nhiều dân tộc khác trên thế giới, ở giai đoạn phát triển đầu tiên của mình khi mà nhà nƣớc chƣa ra đời, các cƣ dân Đông Nam Á chƣa có hệ thống tôn giáo hoàn chỉnh. Những ngƣời đã dùng thuyết \"vạn vật hữu linh\" để chỉ tất cả những hình thức tín ngƣỡng, thờ tự ở Đông Nam Á trƣớc khi Phật giáo, Hồi giáo và Kitô giáo truyền bá tới khu vực này. Trong số các hình thức tín ngƣỡng nguyên thủy thì bái vật giáo là hình thức xuất hiện sớm hơn cả. Những ý niệm bái vật giáo xƣa nhất là những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của tự nhiên. Theo quan niệm của ngƣời Lào, trong thế giới vô hình mà con ngƣời cảm thấy đƣợc có vô vàn những phi (ma): phi rừng, phi núi, phi lửa, phi ruộng... Chúng có ảnh hƣởng lớn đến đời sống con ngƣời. Ngƣời Xacuđai ở Inđônêxia tin rằng mọi vật từ
các vật sống nhƣ ngƣời, súc vật đến các vật vô tri vô giác nhƣ đá, cây, sông, mặt trời, mƣa... đều có linh hồn. Ngƣời Thái gọi những lực lƣợng siêu nhiên, thần bí bằng cái tên chung là phỉ: phỉ lửa, phỉ núi, phỉ bệnh... Đối với ngƣời Lào và Khơme, thần đá và núi là quan trọng hơn cả. Ngƣời Lào đặt những hòn đá thiêng nghiêng trên bàn thờ của gia đình. Ngƣời Pnông ở Campuchia cho rằng đá là nơi cƣ ngụ của thần bản địa, thần nhà. Họ chỉ đem những viên đá thần đó ra khỏi bàn thờ khi làm lễ tế lớn. Trong số các thần cƣ ngụ trong đá, trên núi mà cƣ dân Đông Nam Á thờ phụng thì thần đất - vị thần bảo hộ, phù trợ cho nông nghiệp - bao giờ cũng là vị thần tối cao. Do cuộc sống gắn liền với yêu cầu phát triển nông nghiệp trồng lúa nên bên cạnh việc sùng bái tự nhiên, tín ngƣỡng phồn thực với nghi thức cầu mong đƣợc mùa, cầu cho các giống loài sinh sôi nảy nở… cũng rất phát triển ở Đông Nam Á vào buổi đầu lịch sử. Trên mặt trống đồng, xen kẽ giữa các tia mặt trời là các hình tƣợng sinh thực khí nam nữ cách điệu hóa những hình cóc trên mặt trống làm rõ ý nghĩa cầu mƣa của những \"trống sấm\" thời Đông Sơn. Cụ thể hơn nữa, trên nóc thạp đồng Đào Thịnh có 4 cặp nam nữ giao phối vừa rất tự nhiên, vừa có ý nghĩa của nghi lễ phồn thực. Việc thờ các hình sinh thực khí của ngƣời Chăm, ngƣời Thái, ngƣời Mƣờng và nhiều dân tộc khác ở Đông Nam Á rất gần với tục thờ linga của Siva giáo. Song ở ngƣời Chăm, hình tƣợng linga lại hết sức độc đáo: một dãy 7 linga trên cùng một bệ, 1 linga ngất ngƣởng trên yoni làm bệ cao tới 2 m, linga mặt ngƣời, linga có vỏ bọc... Những hội \"múa dƣới trăng\" của ngƣời Hmông, ngƣời Dao, những tục đánh trống thi cho đến thủng trống của ngƣời Việt, ngƣời Mƣờng, ngƣời Thái, ngƣời Choang..., những lễ cúng tế của nhiều dân tộc khác đến những trò chơi phổ biến ở Đông
Search
Read the Text Version
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
- 36
- 37
- 38
- 39
- 40
- 41
- 42
- 43
- 44
- 45
- 46
- 47
- 48
- 49
- 50
- 51
- 52
- 53
- 54
- 55
- 56
- 57
- 58
- 59
- 60
- 61
- 62
- 63
- 64
- 65
- 66
- 67
- 68
- 69
- 70
- 71
- 72
- 73
- 74
- 75
- 76
- 77
- 78
- 79
- 80
- 81
- 82
- 83
- 84
- 85
- 86
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- 92
- 93
- 94
- 95
- 96
- 97
- 98
- 99
- 100
- 101
- 102
- 103
- 104
- 105
- 106
- 107
- 108
- 109
- 110
- 111
- 112
- 113
- 114
- 115
- 116
- 117
- 118
- 119
- 120
- 121
- 122
- 123
- 124
- 125
- 126
- 127
- 128
- 129
- 130
- 131
- 132
- 133
- 134
- 135
- 136
- 137
- 138
- 139
- 140
- 141
- 142
- 143
- 144
- 145
- 146
- 147
- 148
- 149
- 150
- 151
- 152
- 153
- 154
- 155
- 156
- 157
- 158
- 159
- 160
- 161
- 162
- 163
- 164
- 165
- 166
- 167
- 168
- 169
- 170
- 171
- 172
- 173
- 174
- 175
- 176
- 177
- 178
- 179
- 180
- 181
- 182
- 183
- 184
- 185
- 186
- 187
- 188
- 189
- 190
- 191
- 192
- 193
- 194
- 195
- 196
- 197
- 198
- 199
- 200
- 201
- 202
- 203
- 204
- 205
- 206
- 207
- 208
- 209
- 210
- 211
- 212
- 213
- 214
- 215
- 216
- 217
- 218
- 219
- 220
- 221
- 222
- 223
- 224
- 225
- 226
- 227
- 228
- 229
- 230
- 231
- 232
- 233
- 234
- 235
- 236
- 237
- 238
- 239
- 240
- 241
- 242
- 243
- 244
- 245
- 246
- 247
- 248
- 249
- 250
- 251
- 252
- 253
- 254
- 255
- 256
- 257
- 258
- 259
- 260
- 261
- 262
- 263
- 264
- 265
- 266
- 267
- 268
- 269
- 270
- 271
- 272
- 273
- 274
- 275
- 276
- 277
- 278
- 279
- 280
- 281
- 282
- 283
- 284
- 285
- 286
- 287
- 288
- 289
- 290
- 291
- 292
- 293
- 294
- 295
- 296
- 297
- 298
- 299
- 300
- 301
- 302
- 303
- 304
- 305
- 306
- 307
- 308
- 309
- 310
- 311
- 312
- 313
- 314
- 315
- 316
- 317
- 318
- 319
- 320
- 321
- 322
- 323
- 324
- 325
- 326
- 327
- 328
- 329
- 330
- 331
- 332
- 333
- 334
- 335
- 336
- 337
- 338
- 339
- 340
- 341
- 342
- 343
- 344
- 345
- 346
- 347
- 348
- 349
- 350
- 351
- 352
- 353
- 354
- 355
- 356
- 357
- 358
- 359
- 360
- 361
- 362
- 363
- 364
- 365
- 366
- 367
- 368
- 369
- 370
- 371
- 372
- 373
- 374
- 375
- 376
- 377
- 378
- 379
- 380
- 381
- 382
- 383
- 384
- 385
- 386
- 387
- 388
- 389
- 390
- 391
- 392
- 393
- 394
- 395
- 396
- 397
- 398
- 399
- 400
- 401
- 402
- 403
- 404
- 405
- 406
- 407
- 408
- 409
- 410
- 411
- 412
- 413
- 414
- 415
- 416
- 417
- 418
- 419
- 420
- 421
- 422
- 423
- 424
- 425
- 426
- 427
- 428
- 429
- 430
- 431
- 432
- 433
- 434
- 435
- 436
- 437
- 438
- 439
- 440
- 441
- 442
- 443
- 444
- 445
- 446
- 447
- 448
- 449
- 450
- 451
- 452
- 453
- 454
- 455
- 1 - 50
- 51 - 100
- 101 - 150
- 151 - 200
- 201 - 250
- 251 - 300
- 301 - 350
- 351 - 400
- 401 - 450
- 451 - 455
Pages: