Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore Media Richness

Media Richness

Published by athu29112004, 2023-01-14 06:34:05

Description: Media Richness

Search

Read the Text Version

MEDIA RICHNESS N H Ó M 8 KHOA QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG FINAL TEST NHẬP MÔN TRUYỂN THÔNG NHÓM 8

NHÓM 8 - NHẬP MÔN TRUYỀN THÔNG HUỲNH THANH TUYỀN TRƯƠNG ANH THƯ HOÀNG THỊ HOA CAO THÁI TOÀN TRƯƠNG BẢO TRÂN NGUYỄN BÀNH NGỌC NHƯ BÙI THỊ LAN CHI VÕ LÝ QUỐC VƯƠNG TRẦN LÊ MINH TRIẾT NHÓM 8

MỤC LỤCMedia Richness Theory 1 BỐI CẢNH 2 KHÁI NIỆM 3 LÝ THUYẾT MEDIA RICHNESS 4 \"RICH MEDIA\" VÀ \"LEAN MEDIA\" 5 ỨNG DỤNG MEDIA RICHNESS THEORY 6 TRANH CÃI MEDIA RICHNESS THEORY NHÓM 8

BỐI CẢNH Media Richness Theory được giới thiệu vào năm 1986 bởi Richard L. Daft và Robert H. Lengel. Dựa vào Information Processing Theory cho nền tảng lý thuyết của mình, MRT được phát triển để mô tả và đánh giá phương tiện truyền thông trong các tổ chức. Khi trình bày lý thuyết về MRT, Daft và Lengel đã tìm cách giúp các tổ chức đối phó với các rào cản giao tiếp, chẳng hạn như tin nhắn không rõ ràng hoặc gây nhầm lẫn, hoặc giải thích các thông điệp mâu thuẫn Các học giả truyền thông khác đã thử nghiệm lý thuyết này để cải thiện nó và gần đây, MRT đã được điều chỉnh để thêm vào các phương tiện truyền thông mới, như video call, hội nghị truyền hình và khóa học trực tuyến. Mặc dù MRT liên quan đến việc sử dụng thay vì lựa chọn phương tiện, các nghiên cứu thực nghiệm về lý thuyết này thường nghiên cứu phương tiện mà người quản lý sẽ chọn để truyền đạt, mà không phải là tác động của việc sử dụng phương tiện truyền thông. 01

KHÁI NIỆM Media Richness Theory Media Richness Theory (tạm Media richness là một hàm đặc dịch: Lý thuyết về sự phong phú trưng bao gồm: truyền thông ), đôi khi được xem ·Khả năng xử lý nhiều tín hiệu như Information Richness Theory đồng thời. (tạm dịch: Lý thuyết độ đa dạng thông tin) hay MRT, là một khung ·Khả năng tạo điều kiện cho được sử dụng để mô tả một khả phản hồi nhanh chóng. năng của phương tiện truyền thông dùng để tái tạo thông tin ·Khả năng thiết lập một trọng được gửi qua nó ,thuyết này như tâm cá nhân. là một phần mở rộng của ·Khả năng sử dụng ngôn ngữ tự Information Processing Theory nhiên. (tạm dịch: Lý thuyết xử lý thông tin). MRT được sử dụng để xếp hạng và đánh giá độ \"richness\" (phong phú/ đa dạng) của một phương tiện truyền thông nhất định, chẳng hạn như các cuộc gọi điện thoại, hội nghị truyền hình và email. Ví dụ, một cuộc điện thoại không thể tái tạo các tín hiệu xã hội trực quan như cử chỉ cơ thể, điều này làm cho nó thành một phương tiện truyền thông ít \"rich\" hơn so với hội nghị truyền hình, trong đó có thể truyền tải các cử chỉ và ngôn ngữ cơ thể. 02

Lý thuyết Media Richness MRT cho rằng tất cả các phương tiện truyền thông khác nhau về khả năng cho phép người dùng giao tiếp và thay đổi sự hiểu biết. Mức độ của khả năng này được gọi là độ \"richness\" của một phương tiện. MRT đặt tất cả các phương tiện truyền thông trên mức độ liên tục dựa trên khả năng truyền đạt đầy đủ một thông điệp phức tạp. Phương tiện truyền thông có thể khắc phục một cách hiệu quả các hệ quy chiếu khác nhau và làm rõ các vấn đề mơ hồ được coi là “rich” hơn, trái lại, phương tiện đòi hỏi nhiều thời gian hơn để truyền đạt sự hiểu biết được coi là ít “rich” hơn. Dựa trên Lý thuyết quyền biến và Information Processing Theory, MRT đưa ra giả thuyết rằng phương tiện truyền thông cá nhân, “rich” hơn thường hiệu quả hơn trong việc truyền đạt các vấn đề không rõ ràng, trái ngược với phương tiện truyền thông “lean” hơn. 03

Media Richness Theory Một tác nhân chính trong việc chọn phương tiện truyền thông cho một tin nhắn cụ thể là để giúp giảm sự mập mờ hoặc giải thích sai của tin nhắn đó. Nếu một thông điệp có nhiều nghĩa, nó không rõ ràng và do đó người nhận khó giải mã hơn. Một thông điệp càng không rõ ràng thì càng cần có nhiều tín hiệu và dữ liệu cần thiết để giải thích nó một cách chính xác. Lý thuyết được minh họa bằng một sơ đồ với hai trục là độ không rõ ràng và độ không chắc chắn từ thấp đến cao. Độ không rõ ràng thấp và độ không chắc chắn thấp thể hiện cho một tình huống rõ ràng, được xác định rõ; độ không rõ ràng cao và độ không chắc chắn cao cho thấy các sự kiện mơ hồ cần được các nhà quản lý làm rõ. Daft và Lengel cũng nhấn mạnh rằng sự rõ ràng của thông điệp có thể bị ảnh hưởng khi nhiều bộ phận giao tiếp với nhau, vì các bộ phận có thể được đào tạo với các bộ kỹ năng khác nhau hoặc có các mâu thuẫn trong chuẩn mực giao tiếp. 04

\"Rich media\" chỉ khả năng chứa và truyền tải nhiều tín hiệu \"\"RLiecahnMMeed id ia \"a \"& đồng thời và thường xuyên, cung cấp phản hồi trực quan và biểu cảm khuôn mặt, cho phép phản hồi nhanh chóng, tập trung trực tiếp, có mục tiêu và hỗ trợ cao cho sự rõ ràng của ngôn ngữ. Ví dụ về rich media bao gồm giao tiếp trực tiếp và hội nghị truyền hình. Ngược lại, \"lean media\" thường có bản chất không đồng thời, chỉ chứa một số lượng rất nhỏ các phản hồi trực quan (nếu có), có tốc độ tương tác chậm hơn và thường bị diễn giải một cách mơ hồ hoặc theo nhiều cách hiểu bởi người nhận. Các ví dụ của \"lean media\" bao gồm thư từ, các báo cáo và (có thể là) email. \"Rich media\" phù hợp cho việc truyền tải nội dung tới một người đánh giá cao sự hỗ trợ cá nhân và cho việc giải thích, thảo luận về các khái niệm phức tạp. Tuy nhiên, \"rich media\" không phải luôn là cách tốt nhất. Đôi khi, bạn sẽ muốn dùng \"lean media\" nếu bạn mong muốn đạt được sự ngắn gọn, nhanh chóng. Và \"lean media\" thường được dùng để giao tiếp với một nhóm lớn. 05

ỨNG DỤNG Trong công việc Trong các phương tiện truyền thông Các ứng dụng khác 06

Truyền thông tổ chức và kinh doanh MRT ban đầu được hình thành trong bối TRONG cảnh truyền thông của tổ chức để hiểu rõ CÔNG VIỆC hơn về sự tương tác trong công ty. MRT được sử dụng để xác định phương tiện \"tốt 07 nhất\" cho một cá nhân hoặc tổ chức để truyền thông một thông điệp. Ví dụ, các tổ chức có thể thấy rằng các quyết định quan trọng cần được thảo luận bằng các tương tác trực tiếp; sử dụng email sẽ không phải là một kênh thích hợp. Từ góc độ tổ chức, nhân sự cấp cao có thể yêu cầu phương tiện bằng lời nói để giúp giải quyết nhiều vấn đề của họ. Các vị trí cấp thấp với các công việc rõ ràng, không mơ hồ có thể được thực hiện bằng các hình thức truyền thông bằng văn bản. Tuy nhiên, từ quan điểm cá nhân, mọi người thích giao tiếp bằng lời vì các tín hiệu giao tiếp phong phú đủ khả năng giải thích thông điệp chính xác và hiệu quả hơn. Quan điểm xử lý thông tin của các tổ chức cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của truyền thông. Quan điểm này cho thấy các tổ chức thu thập thông tin từ môi trường của họ, xử lý thông tin này và sau đó hành động dựa trên thông tin đó. Bởi vì sự phức tạp của môi trường, nhiễu loạn thông tin và truyền thông tổ chức tăng lên. Hiệu quả của tổ chức trong việc xử lý thông tin trở nên rất quan trọng khi môi trường kinh doanh phức tạp và thay đổi nhanh chóng.

Độ nhạy phương tiện và hiệu suất công việc Daft và Lengel cũng khẳng định rằng không phải tất cả các giám đốc điều hành hoặc quản lý trong các tổ chức đều thể hiện kỹ năng tương tự trong việc đưa ra các lựa chọn truyền thông hiệu quả cho sự giao tiếp. Giám đốc điều hành hoặc quản lý hiệu suất cao có xu hướng \"nhạy cảm\" hơn với các yêu cầu về độ richness trong việc lựa chọn phương tiện so với các nhà quản lý hiệu suất thấp. Nói cách khác, các giám đốc điều hành có thẩm quyền chọn rich media cho các thông báo đột xuất và \"lean\"media cho các thông báo thường lệ. Từ quan điểm đồng thuận và hài lòng, các nhóm có phương tiện truyền thông quá \"lean\"cho công việc của họ dường như gặp nhiều khó khăn hơn so với các nhóm có phương tiện truyền thông rich hơn cho công việc của họ. Ngoài ra, các nhóm tương tác trực tiếp đạt được sự đồng thuận cao hơn, sự hài lòng quyết định cao hơn và sự hài lòng về kế hoạch quyết định cao hơn so với các nhóm tương tác không trực tiếp. 08

Tìm kiếm công việc và tuyển dụng Trong bối cảnh tuyển dụng việc làm, những tương tác trực tiếp với các đại diện công ty, ví dụ như các hội chợ việc làm, nên được các ứng viên xem là rich media. Các hội chợ việc làm cho phép các phản hồi tức thì dưới dạng các câu hỏi và trả lời, đồng thời mở ra các tín hiệu đa dạng bao gồm các thông điệp bằng lời và cử chỉ cơ thể. Các hội chợ này cũng có thể được thiết kế phù hợp với mỗi mối quan tâm của những người tìm việc và câu hỏi. Trong khi đó, các thông điệp tĩnh như đọc thông tin trên website công ty hay duyệt một bảng thông báo điện tử có thể được định nghĩa như phương tiện truyền thông \"lean\" hơn vì chúng không được cá nhân hóa cho từng nhu cầu cá nhân của người tìm việc; chúng không đồng bộ trong phản hồi và bởi vì chúng chủ yếu dựa trên văn bản nên không có cơ hội nào cho các biến tố bằng lời nói hay cử chỉ cơ thể. Tương tác này giữa những người tìm việc và các nhà tuyển dụng tiềm năng ảnh hưởng đến cách mà các ứng viên xử lý thông tin về tổ chức. Những tương tác mà một ứng viên có với một nhà tuyển dụng tiềm năng thông qua các phương tiện \"lean & rich\" định hình niềm tin của những người tìm việc. Một số nhà tuyển dụng bắt đầu sử dụng nhiều hơn các công cụ sinh động để trả lời các câu hỏi về tuyển dụng việc làm như video, hoạt hình và các trợ lý ảo. Ngược lại, các yếu tố có tính tương tác nhiều hơn như trợ lý ảo của Quân đội Mỹ, Starr, đã được chứng minh là cản trở việc chuyển đổi thông tin cho các thông điệp mơ hồ và phức tạp như giá trị hay sứ mệnh của công ty. 09

Các đội nhóm ảo và làm việc từ xa Nhiều tổ chức đã phân bố trên toàn cầu với các nhân viên trong một nhóm làm việc tại nhiều múi giờ khác nhau. Để tạo điều kiện cho việc hợp tác có hiệu quả và tạo động lực cho nhóm làm việc, các tổ chức tận dụng việc xem xét các công cụ công nghệ hỗ trợ cho việc làm việc chung và giao tiếp. Workman, Kahnweiler, and Bommer (2003) đã nhận thấy rằng một mô hình làm việc từ xa lý tưởng sẽ bao gồm nhiều loại phương tiện truyền thông, từ \"lean\" đến rich, nơi mà các nhân viên có thể lựa chọn phương tiện truyền thông phù hợp nhất với phong cách làm việc và công việc đang diễn ra. Hơn thế nữa, các công việc khác nhau có thể cần nhiều loại phương tiện truyền thông. Những công việc cụ thể và có cấu trúc hơn như lên kế hoạch, hành chính hoặc vận hành có thể gắn liền với các lựa chọn \"lean media\" trong khi thiết kế phần mềm hay công việc phát triển vốn đã mang nhiều độ không chắc chắn và thương lượng hơn thì được hỗ trợ tốt hơn bởi các kênh \"rich\" hơn. Một nghiên cứu năm 2019 khám phá về động lực của các nhóm ảo đã chỉ ra rằng việc sử dụng rich media trong môi trường làm việc ảo làm giảm đi đặc tính lười biếng xã hội, hoặc cảm giác rằng đóng góp của thành viên trong một nhóm không được chú ý hoặc ghi nhận. 10

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ban đầu nổi lên trong những năm 1960 mô tả sự tự điều chỉnh của một công ty trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức. Các tổ chức công thường diễn tả các nỗ lực CSR của họ như một khía cạnh của các chiến dịch marketing nhằm thu hút khách hàng. Sat và Selemat (2014) nhận thấy rằng những khách hàng bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các thông điệp CSR khi họ được truyền thông qua các kênh rich thay vì các kênh \"lean\". 11

TRONG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN Dù việc áp dụng MRT cho các phương tiện truyền THÔNG thông mới đã gây ra các tranh cãi (xem phần \"Tranh cãi\"), nó vẫn được sử dụng theo phương pháp Heuristic như một nền tảng cho các nghiên cứu kiểm tra các phương tiện truyền thông mới. Hội nghị truyền hình Phần mềm hội nghị truyền hình đã được sử dụng không chỉ cho các nhóm ảo trong các công ty lớn, mà còn cho các lớp học và các cuộc trò chuyện thông thường. Phần mềm hoặc Hệ thống hội nghị truyền hình (VCS) như Skype và Google Hangouts cho phép có nhiều tín hiệu trực quan hơn là chỉ có các cuộc hội thoại âm thanh. Nghiên cứu cho thấy rằng VCS ở đâu đó giữa điện thoại và các cuộc gặp mặt trực tiếp về sự phong phú của phương tiện truyền thông. Mặc dù hội nghị truyền hình không có độ \"richness\" như các cuộc đối thoại trực tiếp, một nghiên cứu về hội nghị truyền hình đã chỉ ra rằng các kiểu trình bày nội dung \"rich\" hơn dẫn tới mức độ tập trung cao hơn nhưng với tính hữu dụng thì các kiểu trình bày nội dung \"rich\" hơn có thể dẫn tới nhiều kết quả khác nhau. 12

Tin nhắn tức thời MRT ngụ ý rằng người gửi nên chọn một phương tiện có độ \"richness\" phù hợp để truyền đạt thông điệp mong muốn hoặc hoàn thành một công việc cụ thể. Người gửi sử dụng phương tiện truyền thông ít \"rich\" hơn phải xem xét các hạn chế của phương tiện đó trong các khía cạnh của việc phản hồi và điều chỉnh thông điệp cũng như cảm xúc. Kết quả từ một nghiên cứu được thực hiện bởi Anandarajan et al. về việc sử dụng tin nhắn tức thời của Thế hệ Y kết luận rằng \"Càng nhiều người dùng nhìn nhận Tin nhắn tức thời như một phương tiện giao tiếp rich, họ càng tin rằng phương tiện này hữu ích cho việc xã hội hóa.\" Dù người dùng thế hệ Y xem việc nhắn tin là \"rich\" thì vẫn có những bằng chứng bổ sung chỉ ra điều ngược lại. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về việc sử dụng MSN của thanh thiếu niên (sau này gọi là dịch vụ Microsoft Messenger), Sheer đã kiểm tra sự ảnh hưởng của cả độ \"richness\" của phương tiện truyền thông và sự kiểm soát truyền thông. Trong số những phát hiện khác, nghiên cứu của Sheer đã chứng minh rằng \"các tính năng đa dạng, như webcam và MSN Spaces dường như đã tạo điều kiện cho sự gia tăng của người quen, bạn mới, bạn khác giới và do đó, làm tăng tổng số bạn bè.\" 13

Email Trong những năm gần đây, khi dân số nói chung trở nên hiểu biết về email hơn, khoảng cách giữa giao tiếp trực tiếp và email đã trở nên mờ nhạt hơn. Email hiện được coi là một công cụ giao tiếp bằng lời, với khả năng cho phép phản hồi ngay lập tức, tận dụng ngôn ngữ tự nhiên và bao gồm cả cảm xúc thông qua các từ viết tắt và biểu tượng cảm xúc. Email có khả năng truyền tải nhiều nội dung thông tin hơn các kênh khác như thư thoại. Nhận thức về email như một nền tảng \"rich\" sẽ khác nhau giữa các người dùng. Nhận thức này góp phần vào việc cá nhân sẽ sử dụng kênh như thế nào. Đối với một số người, sự lựa chọn nội dung sẽ khác nhau. Chúng có thể bao gồm hình ảnh hoặc video nếu họ xem email là một kênh \"rich\" trong khi những người khác có thể chỉ tận dụng văn bản. Nhận thức này cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn các tính năng ngôn ngữ. Những người xem email tương tự như một kênh truyền miệng sẽ soạn thảo khác với những người xem email là một kênh truyền đạt bằng văn bản. 14

Website và siêu văn bản Các websites có thể khác nhau về độ \"richness\" của chúng. Trong một nghiên cứu kiểm tra các đại diện của Yugoslavia cũ trên World Wide Web, Jackson và Purcell đề xuất rằng siêu văn bản đóng vai trò quyết định độ \"richness\" của các websites riêng lẻ. Họ đã phát triển một khung tiêu chí trong đó việc sử dụng siêu văn bản trên một website có thể được đánh giá theo các đặc điểm \"richness\" về phương tiện như Daft và Lengel đã nêu trong tài liệu lý thuyết ban đầu của họ. Hơn thế nữa, trong bài viết năm 2004 của họ, Simon và Peppas đã xem xét sự phong phú của các websites sản phẩm về mặt sử dụng đa phương tiện. Họ đã phân loại \"các websites đa phương tiện\" là các websites bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh và video clip, trong khi \"các websites truyền thông \"lean\"\" chỉ chứa văn bản. Trong nghiên cứu của mình, họ tạo ra bốn websites (hai \"rich\" và hai \"lean\") để mô tả hai sản phẩm (một đơn giản, một phức tạp). Lu, Kim, Dou và Kumar (2014) đã chứng minh rằng các websites có chế độ xem 3D của một trung tâm thể hình đã thành công hơn trong việc tạo ra ý định của học viên đến phòng tập thể dục so với một website chỉ có hình ảnh 2D tĩnh. 15

Sự đánh lừa Sự đánh lừa, trong bối cảnh của lý thuyết truyền thông, xảy ra khi người gửi cố tình truyền thông điệp sai lệch đến người nhận. Theo Buller và Burgoon, \"sự đánh lừa xảy ra khi người giao tiếp điều chỉnh thông tin có trong tin nhắn của họ để truyền tải một ý nghĩa sai lệch so với sự thật mà họ biết\". Ý tưởng này là trọng tâm của Interpersonal Deception Theory (tạm dịch: Lý thuyết đánh lừa giữa các cá nhân). Nghiên cứu bổ sung đã phân tích mối quan CÁC ỨNG hệ giữa \"media richness\" và việc truyền đạt DỤNG KHÁC thông điệp sai lệch. \"Rich media\", đặc biệt là những phương tiện truyền những tín hiệu phi ngôn ngữ như giọng nói, nét mặt hoặc cử chỉ, cho thấy ít xảy ra hiện tượng thông điệp sai lệch hơn \"lean media\". 16

Giáo dục từ xa và sách điện tử Sách điện tử và giáo dục trực tuyến đang dần trở thành công cụ quen thuộc trong việc giảng dạy. Một trong những đặc điểm chính của học trực tuyến là khả năng tích hợp các phương tiện khác nhau, chẳng hạn như văn bản, hình ảnh, âm thanh, hoạt hình và video để tạo tài liệu giảng dạy đa phương tiện. Lựa chọn phương tiện trong học tập điện tử có thể là một vấn đề quan trọng vì chi phí sẽ tăng lên để phát triển các tài liệu học tập điện tử phi văn bản. Người học có thể hưởng lợi từ việc sử dụng các phương tiện \"rich\" hơn trong các khóa học có nội dung không rõ ràng và phức tạp; tuy nhiên, người học không đạt được lợi ích đáng kể về điểm số hoặc độ hài lòng từ việc sử dụng phương tiện \"rich\" hơn trong các khóa học có chứa nội dung có mức độ không rõ ràng thấp. 17

Điều dưỡng Sự chuyển đổi từ lưu trữ hồ sơ analog sang digital trong chăm sóc y tế hiện đang đi đầu trong đổi mới y tế. Castro, Favela và Gracia-Pena nghiên cứu sự ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông khác nhau (như giao tiếp trực tiếp, điện thoại và hội nghị truyền hình) đối với việc tư vấn điều dưỡng trong tình huống khẩn cấp. Họ thấy rằng mặc dù không có sự khác biệt về hiệu quả giữa các phương tiện truyền thông nhưng phương tiện \"rich\" hơn đã tạo điều kiện cho các cuộc tham vấn, giải quyết nhanh hơn và tăng trải nghiệm người dùng. 18

Tìm kiếm bác sĩ và nhà cung cấp sức khỏe Mặc dù giao tiếp giữa các cá nhân là một thành phần quan trọng trong các cuộc gặp gỡ y tế, và giao tiếp với bác sĩ là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với bệnh nhân trong việc lựa chọn bác sĩ mới, các tổ chức chăm sóc sức khỏe không làm tốt việc giúp đỡ bệnh nhân tương lai của họ hiểu làm thế nào một bác sĩ mới sẽ giao tiếp với bệnh nhân trong các cuộc gặp gỡ trong tương lai thông qua lý lịch trực tuyến của họ vì hầu hết các tổ chức này chỉ cung cấp lý lịch bằng văn bản theo dạng \"lean\" và rất ít người cung cấp video giới thiệu như dạng \"rich\". Perrault và Silk đã thử nghiệm việc giới thiệu qua video của các bác sĩ có những ảnh hưởng gì đến bệnh nhân khi họ ở trong giai đoạn ra quyết định này. Họ đã phát hiện ra rằng khi những người tham gia được tiếp xúc với một video giới thiệu về bác sĩ thì sự không chắc chắn đã giảm xuống với mức độ đáng kể so với khi họ tiếp xúc với lý lịch của các bác sĩ chỉ dựa trên văn bản. 19

Thúc đẩy sự tham gia của nhân dân Phương tiện truyền thông trực tuyến đã được chứng minh thành công trong việc kích thích sự tham gia của công dân. Tận dụng Internet để tạo điều kiện cho các thảo luận trong công chúng đã được chứng minh là một cách thành công và hiệu quả về chi phí để thu hút lượng lớn công dân. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương tiện truyền thông hỗn hợp (cả \"rich\" và \"lean\") có thể hữu ích trong giáo dục và thu hút sự tham gia của công dân. Sự bùng nổ sáng tạo trên Internet có thể được liên kết với các tổ chức chính thức như chính phủ và bộ giáo dục nhằm cho phép một nền tảng tham gia rộng hơn, dẫn đến sự tham gia mạnh mẽ hơn của công dân và tiếp cận với phạm vi kiến thức rộng hơn. 20

TRANH CÃI MEDIA RICHNESS THEORY Phạm vi của lý thuyết Giới hạn về văn hóa & xã hội Ứng dụng vào phương tiện mới 21

Phạm vi của lý thuyết MRT đã bị các nhà nghiên cứu chỉ trích vì tính chất quyết định của nó. Markus lập luận rằng áp lực xã hội có thể ảnh hưởng mạnh đến việc sử dụng phương tiện truyền thông hơn là độ \"richness\" và theo những cách không phù hợp với các nguyên lý chính của MRT. Và họ cũng lưu ý rằng MRT không nên cho rằng cảm giác khi sử dụng phương tiện \"rich\" hơn trong một tình huống là hoàn toàn trái ngược với khi sử dụng phương tiện \"lean\" hơn. Trên thực tế, sự lựa chọn phương tiện rất phức tạp và nói chung ngay cả khi rich media được coi là \"tốt nhất\" để truyền đạt một thông điệp, phương tiện \"lean\" hơn vẫn có thể làm được điều đó. Ngoài ra, đối với một số tác vụ, loại phương tiện được sử dụng sẽ không tạo ra sự khác biệt đối với tính chính xác của thông điệp được truyền đạt. Khi chọn phương tiện để truyền thông điệp, tin nhắn, một cá nhân cũng sẽ xem xét tính thuận tiện của mình khi lựa chọn. Nếu một cá nhân không thoải mái hoặc không quen với việc sử dụng hệ thống email để soạn và gửi thư và xem việc học gửi email sẽ tốn nhiều thời gian và không hiệu quả so với việc chỉ đơn giản là họp nhóm, họ có thể chọn phương tiện \"rich\" hơn thay vì những phương tiện khác hiệu quả hơn. Kết quả hành vi này phản ánh trải nghiệm đã được hình thành trước đó của cá nhân. 22

Giới hạn về Văn hóa và Xã hội Ngwenyama và Lee cho thấy rằng nền tảng văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương tiện truyền thông của các cá nhân theo những cách không tương thích với các dự đoán dựa trên MRT; bài báo của họ đã nhận được giải thưởng Paper of the Year trên tạp chí MIS Quarterly. Nghiên cứu của Ook Lee đã chứng minh rằng trong Khổng giáo, nơi thể hiện sự tôn trọng là điều cần thiết, khả năng truyền đạt nghi thức văn hóa của một kênh truyền thông quan trọng hơn độ \"richness\" của kênh. Vào năm 2009, nghiên cứu của Gerritsen đã kết luận rằng trong bối cảnh kinh doanh, văn hóa đóng vai trò quyết định mức độ ưa thích về phương tiện truyền thông của người nhận, có lẽ liên quan đến mức độ e ngại rủi ro của từng văn hóa cụ thể. Ngoài ra, Dennis, Kinney và Hung nhận thấy rằng liên quan tới hiệu suất thực tế của các công việc không rõ ràng, độ \"richness\" của một phương tiện có tác dụng đáng kể nhất đối với các đội gồm toàn nữ. Mặt khác, có ý kiến cho rằng \"liên kết độ \"richness\" của phương tiện với sự không rõ ràng của công việc không cải thiện chất lượng quyết định, thời gian, sự đồng thuận hoặc sự hài lòng trong giao tiếp đối với các nhóm toàn nam hoặc đa giới.\" Barkhi đã chứng minh rằng hình thức giao tiếp và phong cách nhận thức có thể đóng vai trò trong việc ưu tiên và lựa chọn phương tiện truyền thông, cho thấy rằng ngay cả trong các tình huống có thông điệp và ý định giống hệt nhau, lựa chọn phương tiện \"tốt nhất\" có thể khác nhau tùy theo từng người. 23

Ứng dụng vào phương tiện mới MRT đã được phát triển trước khi Internet được sử dụng rộng rãi và Internet đã mang tới các phương tiện như email, phòng chat, tin nhắn tức thời, điện thoại thông minh, các phương tiện truyền thông mạng xã hội,v.v. nên một số người đã nghi ngờ khả năng dự đoán chính xác của thuyết về những gì người dùng phương tiện mới có thể chọn. Một số nghiên cứu đã được thực hiện để kiểm tra lựa chọn phương tiện khi đưa ra các tùy chọn được coi là \"phương tiện mới\", chẳng hạn như thư thoại và email. Blau, Weiser và Eshet-Alkalai nghiên cứu sự khác biệt và tương đồng của cảm nhận và thực tế đối với những học sinh học cùng lớp trực tuyến hoặc những học sinh ở các lớp học truyền thống. Các tác giả kết luận rằng các thiết lập lớp học trực tiếp không vượt trội so với các lớp học trực tuyến. Hơn nữa, họ cũng cho rằng \"phương tiện truyền thông \"cấp cao\" có thể cản trở sự hiểu biết các kiến thức phức tạp\", trái ngược với những gì MRT dự đoán. Ngoài ra, khả năng mở rộng của phương tiện truyền thông mới, cách tiếp cận đơn phương của MRT để phân loại các phương tiện truyền thông khác nhau không còn đủ để nắm bắt tất cả các chiều mà các loại phương tiện có thể thay đổi. 24

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đề tài này, nhóm 8 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường Đại học Văn Lang vì đã đưa môn học Nhập môn truyền thông vào quá trình giảng dạy của chúng em. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - cô Lê Thị Thảo Trang đã giảng dạy tận tình, chi tiết để chúng em có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài cuối kì này. Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như những hạn chế về kiến thức, trong dự án chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía cô để dự án của chúng em được hoàn thiện hơn. Lời cuối cùng, nhóm em xin kính chúc cô nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc. NHÓM 8 - NHẬP MÔN TRUYỀN THÔNG 25


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook