Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore NHỮNG VẤN ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TỪ NGỮ LIỆU SGK NGỮ VĂN 9

NHỮNG VẤN ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TỪ NGỮ LIỆU SGK NGỮ VĂN 9

Published by NGUYỄN LƯƠNG HÙNG, 2022-04-07 10:04:44

Description: NGUYỄN LƯƠNG HÙNG

Search

Read the Text Version

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |1 P a g e 1 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TỪ NGỮ LIỆU SGK NGỮ VĂN 9 MÔN NGỮ VĂN 9 1. VẤN ĐỀ 1: “NGƯỜI ĂN XIN” Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi. Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay nóng hổi của ông: - Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả. Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười: - Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông. (Theo Tuốc- ghê- nhép, SGK Ngữ văn 9 – t1 – tr22) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. Câu 2: Văn bản Người ăn xin liên quan đến phương châm hội thoại nào? Vì sao? Câu 3: Lời của các nhân vật trong câu chuyện trên được trích dẫn theo cách nào? Chỉ rõ dấu hiệu nhận biết. Câu 4: Vì sao người ăn xin và cậu bé trong truyện đều cảm thấy mình đã nhận được từ người kia một cái gì đó? Câu 5: Mẩu chuyện trên kể về điều gì? Câu 6: Hành động và lời nói của cậu bé chứng tỏ tình cảm của cậu bé đối với ông lão ăn xin như thế nào? Câu 7: Theo em, cậu bé đã nhận được gì ở ông lão ăn xin? Câu 8: Chỉ ra sự giống và khác nhau về ý nghĩa của hai từ in đậm trong câu chuyện trên? Câu 9: Dựa vào văn bản em rút ra được bài học gì trong giao tiếp? Câu 10: Bài học rút ra từ văn bản trên? Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Tự sự. Câu 2: Văn bản Người ăn xin liên quan đến phương châm hội thoại lịch sự vì cả hai đều dùng cách thức tôn trọng trong giao tiếp với người đối thoại với mình. Câu 3: - Lời của các nhân vật trong câu chuyện trên được trích dẫn theo cách trực tiếp. P a g e 2 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |3 - Dấu hiệu nhận biết: Lời nói được đặt sau dấu 2 chấm và giữ nguyên văn lời nói, vai vế của nhân vật. Câu 4: Nhân vật “tôi” nhận được lời cám ơn từ ông lão, đồng thời nhận được bài học sâu sắc: Sự đồng cảm, tình người có giá trị hơn mọi thứ vật chất, của cải khác. Câu 5: Câu chuyện trên kể về: Cuộc gặp gỡ giữa một cậu bé nhân hậu và một ông lão ăn xin vô cùng đáng thương. Trước hoàn cảnh đáng thương của ông lão, cậu bé trao cho ông một cái nắm tay ấm áp. Câu 6: Hành động và lời nói ân cần ấy chứng tỏ cậu bé rất giàu tình thương người, biết xót thương và đồng cảm với cảnh ngộ người ăn xin Câu 7: - Cậu bé đã nhận được lời cảm ơn của ông lão ăn xin, - Nhận được bài học sâu sắc qua lời nói của ông lão ãn xin: tình người còn có giá trị hơn mọi thứ vật chất, của cải khác Câu 8: * Giống nhau: về trạng thái cảm xúc, cả hai đều thấy xúc động, cảm động về nhau. * Khác nhau: - Bàn tay cậu bé run run là trạng thái xúc động, cảm thương ông lão của cậu bé. - Bàn tay run rẩy của ông già là sự cộng hưởng của hai trạng thái: tuổi già, sức yếu lại thêm nỗi súc động trước thái độ của cậu bé. Câu 9: Trong giao tiếp chúng ta cần biết tôn trọng, tế nhị, lắng nghe và thấu hiểu lẫn nhau. Cũng giống như ông già và cậu bé, tuy khác nhau về tuổi tác nhưng cả hai đều giống nhau ở tình yêu thương, sự cảm thông trân trọng Câu 10: Các bài học rút ra từ văn bản: - Sự quan tâm, lòng chân thành chính là món quà tinh thần quý giá nhất đối với những mảnh đời bất hạnh, nó vượt lên trên mọi giá trị vật chất khác. - Phải biết yêu thương, chia sẻ, đồng cảm với hoàn cảnh, số phận của người khác - Khi cho đi cũng chính là lúc ta nhận lại. 2. VẤN ĐỀ 2: TRÍCH “NHỮNG TẤM LÒNG CAO CẢ” Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: “Hiện nay tất cả thiếu niên đều đi học, En-ri-cô yêu dấu ạ. Con hãy nghĩ đến những người thợ tối tối vẫn đến trường sau khi đã lao động vất vả suốt ngày, hãy nghĩ đến những cô gái đã đi học ngày chủ nhật vì cả tuần lễ phải bận rộn trong các xưởng thợ, đến những người lính ở thao trường trở về là đã viết viết, đọc đọc. Con hãy nghĩ đến những cậu bé câm và mù mà vẫn phải học [...]. Con hãy nghĩ đến tất cả trẻ em trên thế giới gần như cùng một lúc cũng đang đi P a g e 3 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |4 học. Con hãy tưởng tượng số học sinh động như kiến của hàng trăm dân tộc khác nhau ấy, cái phong trào cực kì rộng lớn mà họ tham gia và hãy tự nhủ rằng: “Nếu phong trào ấy mà ngừng thì nhân loại sẽ chìm đắm trở lại trong cảnh dã man. Phong trào ấy là sự tiến bộ, là niềm hi vọng, là vinh quang của thế giới”. Hãy can đảm lên con, người lính nhỏ của đạo quân mênh mông ấy. Sách vở là vũ khí của con, lớp học là đơn vị của con, trận địa là cả hoàn cầu và chiến thắng là nền văn minh nhân loại. Ôi, không bao giờ con lại là một người lính nhát gan, phải không En-ri-cô của bố.” (Những tấm lòng cao cả, Ét-môn-đơ A-mi-xi, Ngữ văn 7 tập I) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn? Câu 2. Hãy chỉ ra những câu văn nói về phong trào đi học. Em có nhận xét gì về phong trào ấy? Câu 3. Từ câu nhắn nhủ En-ri-cô của người bố: “Sách vở là vũ khí của con, lớp học là đơn vị của con, trận địa là cả hoàn cầu và chiến thắng là nền văn minh nhân loại.”, em hãy trình bày suy nghĩ (2/3 trang giấy thi) về điều nhắn nhủ này. Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt của đoạn văn là: biểu cảm, nghị luận Câu 2: Những câu văn nói về phong trào đi học, nhận xét * Những câu văn nói về phong trào đi học: - Những người thợ tối tối vẫn đến trường sau khi đã lao động vất vả suốt ngày, hãy nghĩ đến những cô gái đã đi học ngày chủ nhật vì cả tuần lễ phải bận rộn trong các xưởng thợ, đến những người lính ở thao trường trở về là đã viết viết, đọc đọc. - Con hãy nghĩ đến những cậu bé câm và mù mà vẫn phải học. - Con hãy nghĩ đến tất cả trẻ em trên thế giới gần như cùng một lúc cũng đang đi học. * Nhận xét về phong trào đi học: Đó là một phong trào rộng lớn, dành cho tất cả mọi người không phân biệt tầng lớp, lứa tuổi, nghề nghiệp... Câu 3: Viết đoạn văn “Sách vở là vũ khí” a. Hình thức: Đảm bảo dung lượng, có trình tự mạch lạc, lập luận chặt chẽ, diễn đạt rõ ý. b. Nội dung: Hiểu được nội dung lời nhắn nhủ: - Sách vở là thứ vũ khí vô cùng quan trọng và cần thiết để đi học. Lớp học là nơi sinh hoạt, rèn luyện hàng ngày ở đó có bạn bè, thầy cô giáo luôn sẻ chia quan tâm dìu dắt để tiến bộ. - Khi biết sử dụng vũ khí tốt nhất, rèn luyện trong đơn vị tốt nhất sẽ là người chiến thắng, thành quả là cả nền văn minh của nhân loại. - Bày tỏ được ý kiến theo quan điểm của cá nhân thông qua việc lấy dẫn chứng một số quyển sách em đã đọc và mang lại những tri thức cần thiết cho bản thân. P a g e 4 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |5 - Có liên hệ và rút ra bài học: Trân trọng sách vở, rèn thói quan và sở thích đọc sách. Đọc sách có chọn lọc để tích lũy kiến thức cho bản thân… 3. VẤN ĐỀ 3: “THỜI GIAN LÀ VÀNG” 3.1. Đề số 1: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: THỜI GIAN LÀ VÀNG Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm thì chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại. Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng là lỗ. Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được. Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp. (Theo Phương Liên- SGK Ngữ văn 9 tập 2- đd) Câu 1: Phương thức biểu đạt chính văn bản trên là gì? Câu 2: Tìm một phép liên kết được sử dụng trong đoạn trích trên và gọi tên phép liên kết đó? Câu 3: Hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 15- 20 câu nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của thời gian đối với lứa tuổi học trò ngày nay. Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt: Nghị luận Câu 2: Phép liên kết được sử dụng trong đoạn trích: - Học sinh nêu được một trong các phép liên kết: phép nối, phép lặp, phép thế ....... - Học sinh chỉ ra được từ ngữ dùng làm phép liên kết Câu 3: Viết đoạn văn “Ý nghĩa của thời gian đối với lứa tuổi học trò ngày nay” - Giải thích thời gian là một thứ trừu tượng, trôi qua từng ngày, ta có thể cảm nhận được thời gian qua sự thay đổi của sự vật tồn tại xung quanh mình. - Giải thích rõ từng khía cạnh ý nghĩa của thời gian: + Thời gian là sự sống. + Thời gian là thắng lợi. + Thời gian là tiền. P a g e 5 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |6 + Thời gian là tri thức - Ý nghĩa: Thời gian vô cùng quý giá đối với mỗi người - Mở rộng vấn đề: + Phải biết quý trọng thời gian nhưng không có nghĩa phải sống gấp gáp, chạy theo thời gian mà phải biết trân trọng từng giây phút, sống hết mình, cống hiến cho gia đình, xã hội + Đâu đó vẫn còn nhiều bạn trẻ nhất là lứa tuổi học trò chưa biết quý trọng thời gian, để thời gian trôi đi vô nghĩa (dẫn chứng: vui chơi, nghiện game, mạng xã hội….) - Liên hệ bản thân: + Cần phê phán những người không biết quý trọng thời gian. Ý thức đầy đủ về giá trị của thời gian để không lãng phí. Biết sắp xếp kế hoạch, thời gian biểu hợp lý đặc biệt trong thời gian ôn thi … + Làm chủ thời gian, không nóng vội; nỗ lực và kiên trì sẽ thành công. Sống hết mình từng phút giây để thời gian trôi qua không vô ích… 3.2. Đề số 2: Đọc kĩ ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi: Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm bắt thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại. Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ. Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được. Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp. (Phương Liên, Thời gian là vàng, Ngữ văn 9, tập 2, tr.36) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên. Câu 2: Nêu ngắn gọn nội dung của ngữ liệu trên. Câu 3: Xét về cấu tạo, câu “Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội.” là kiểu câu gì? Vì sao? Câu 4: Ngữ liệu trên mang thông điệp gì? Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận P a g e 6 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |7 Câu 2: Nội dung của ngữ liệu trên - Khẳng định giá trị của thời gian quý hơn vàng vì không mua được - Nếu biết tận dụng thời gian, chúng ta có thể làm được nhiều điều đáng quý cho chính mình cũng như cho xã hội. Câu 3 : Kiểu câu xét theo cấu tạo - Kiểu câu: “Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội.” là kiểu câu ghép. - Giải thích: + Câu ghép đã bị lược mất cả hai thành phần chủ ngữ ở hai vế nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu đối tượng mà câu văn nói tới là mọi người, chúng được tảo bởi cặp quan hệ từ “nếu … thì”. + Chúng ta có thể khôi phục câu văn: “Thế mới biết, nếu chúng ta biết tận dụng thời gian thì chũng ta sẽ làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội.” Câu 4: Thông điệp của ngữ liệu - Nhắc nhở mọi người biết quý trọng thời gian; - Dùng thời gian để làm những điều có ý nghĩa 3.3. Đề số 3: Cho đoạn văn sau: THỜI GIAN LÀ VÀNG Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại. Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ. Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được. Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp. (Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt văn bản trên. Câu 2. Việc lặp lại kiểu câu trong các câu in đậm có tác dụng gì? Câu 3. Theo tác giả, nếu bỏ phí thời gian sẽ như thế nào? P a g e 7 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |8 Câu 4. Từ nội dung văn bản trên, và những hiểu biết xã hội của bản thân, hãy viết khoảng 2/3 trang giấy thi trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: Đừng bao giờ để đến ngày mai những việc bạn có thể làm ngày hôm nay. Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt là nghị luận. Câu 2: Tác dụng việc lặp lại các câu in đậm Việc lặp lại các kiểu câu in đậm có tác dụng khắc sâu, nhấn mạnh vai trò, tác dụng của thời gian, khẳng định thời gian là vô cùng quý giá, quý báu. Nó cũng cho người đọc thấy tư tưởng, thái độ quý trọng thời gian của tác giả. Câu 3: Theo tác giả, nếu bỏ phí thời gian thì có hại và về sau nuối tiếc cũng không kịp. Câu 4. Viết đoạn văn về vấn đề “Đừng bao giờ để đến ngày mai những việc bạn có thể làm ngày hôm nay.” - Khẳng định quan điểm là đúng đắn và cần áp dụng vào cuộc sống hàng ngày. - Lập luận: Thời gian không chờ đợi ai bao giờ, chính vì thế, bạn cần tận dụng hết quỹ thời gian trong ngày để thực hiện tốt công việc của mình. - Ý nghĩa: + Người biết tranh thủ thời gian sẽ luôn được đánh giá cao. Họ cũng dễ tiến gần hơn đến đích thành công. + Biết sử dụng thời gian hợp lý không chỉ giúp bạn thành công trong sự nghiệp mà còn cả trong cuộc sống. - Phản đề: Phê phán lối sống ỷ lại, lười nhác, nước đến chân mới nhảy... 4. VẤN ĐỀ 4. THỜI GIAN VÔ CÙNG CẦN THIẾT TRONG CUỘC SỐNG Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Thời gian vật lí vô hình, giá lạnh, đi trên một con đường thẳng tắp, đều đặn như một cái máy (tuyệt hảo bởi không bao giờ hư), tạo tác và phá hủy mọi sinh vật, mọi hiện hữu. Trong khi đó, thời gian tâm lí lại hữu hình, nóng bỏng, quay theo một hình tròn, lúc nhanh lúc chậm với bao nhiêu kỉ niệm nhớ thương về dĩ vãng, cũng như bao nhiêu dự trù lo lắng cho tương lai.” (Thời gian là gì? – trong tạp chí Tia sáng, Ngữ văn 9 – tập 2, 2018) Câu 1. Theo em, chủ đề chính của đoạn văn trên là gì? Câu 2. Chỉ rõ và nêu hiệu quả của việc sử dụng một thành phần biệt lập trong đoạn văn trên. Câu 3. Từ nội dung của đoạn văn trên, em hãy trình suy nghĩ (khoảng 1 trang giấy thi) về ý kiến: Thời gian vô cùng cần thiết trong cuộc sống của chúng ta. P a g e 8 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng |9 Gợi ý Câu 1: Chủ đề: Quan niệm về ý nghĩa, giá trị của thời gian. Câu 2: Chỉ rõ hiệu quả và thành phần biệt lập - Thành phần biệt lập phụ chú: (tuyệt hảo bởi khôn g bao giờ hư) - Hiệu quả: Chú thích rõ hơn ý nghĩa, giá trị của thời gian. Giúp đoạn văn trở nên mạch lạc/logic hơn. Câu 3: Viết đoạn văn “Thời gian vô cùng cần thiết trong cuộc sống của chúng ta.” - Đặt vấn đề cần nghị luận: Giá trị của thời gian đối với con người. - Giải quyết vấn đề: + Giải thích: Khái niệm thời gian + Biểu hiện: Giá trị của thời gian vật lí/thời gian tâm lí đối với đời sống của con người. (Lấy ví dụ chứng minh) + Phản đề: Nhiều người không biết trân trọng thời gian. (Lấy ví dụ chứng minh) + Liên hệ bản thân: Hiểu và trân trọng thời gian như thế nào? - Kết thúc vấn đề: Khẳng định lại giá trị, tầm quan trọng của thời gian. 5. VẤN ĐỀ 5. GIÁO DỤC – CHÌA KHÓA CỦA TƯƠNG LAI, NGỮ VĂN 9 – T2 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Giáo dục tức là giải phóng. Nó mở ra cánh cửa dẫn đến hòa bình, công bằng và công lí. Những người nắm giữ chìa khóa của cánh cửa này - các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ đặc biệt là những người mẹ - gánh một trách nhiệm vô cùng quan trọng, bởi vì cái thế giới mà chúng ta để lại cho các thế hệ mai sau sẽ tùy thuộc vào những trẻ em mà chúng ta để lại cho các thế hệ mai sau sẽ tùy thuộc vào những trẻ em mà chúng ta để lại cho thế giới ấy.” (Phê-đê-ri-cô May-ô, Giáo dục – chìa khóa của tương lai, văn 9 tập 2) Câu 1. Hãy chỉ rõ một thành phần biệt lập có trong đoạn trích trên. Câu 2. Trong đoạn trích trên, tại sao tác giả lại cho rằng: “Giáo dục tức là giải phóng.”? Câu 3. Dựa vào nội dung đoạn trích trên kết hợp với những hiểu biết xã hội, hãy viết một đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của giáo dục đối với bản thân mình. Gợi ý Câu 1: Thành phần phụ chú các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ đặc biệt là những người mẹ Câu 2: Tác giả cho rằng “Giáo dục tức là giải phóng”, vì: - Nó mở ra cánh cửa dẫn đến hòa bình, công bằng và công lí. P a g e 9 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 10 - Vì nó mang đến tri thức, tình cảm, thẩm mĩ…bồi đắp, khơi gợi khát khao hòa bình từ đó tạo cho mỗi người động lực đấu tranh giải phóng cho chính mình, cho dân tôc, cho nhân loại. Câu 3: Viết đoạn văn về “Ý nghĩa của giáo dục đối với bản thân mình” * Hình thức: Học sinh viết được đoan văn đúng dung lượng, diễn đạt mạch lạc, lưu loát, không mắc lỗi chính tả, chữ viết rõ ràng, dùng từ, đặt câu đúng. *Nội dung: Học sinh có thể trình bày khác nhau song thuyết phục và đảm bảo ý cơ bản sau: - Hiểu được khái niệm giáo dục: là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sống xã hội, lao động, sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người… - Bàn luận xác đáng các ý nghĩa của giáo dục đối với bản thân: + Giúp bản thân có tri thức để sống, hiểu biết thể giới và chính mình. (Dẫn chứng) + Giúp bản thân có kĩ năng sống, đạo đức cần thiết để tồn tại, hòa nhập với cộng đồng, đóng góp cho cộng đồng phát triển… (dẫn chứng) + Giúp định hướng hành động… (Dẫn chứng) - Liên hệ nhận thức: giáo dục có vai trò quan trọng đối với mỗi người. làm nên sự tiến bộ, tiến hóa của loài người so với các loài động vật khác. - Hành động: quan tâm tới giáo dục, coi trọng giáo dục, hoàn thành tốt hoạt động giáo dục bản thân đang tiếp cận và trải nghiệm… 6. VẤN ĐỀ 6. TRI THỨC LÀ SỨC MẠNH, NGỮ VĂN 9 – T2 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Tri thức đúng là sức mạnh. Người ta kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của công ty Pho bị hỏng. Một hội đồng gồm nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra nguyên nhân. Người ta phải mời đến chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và làm cho máy hoạt động trở lại. Công ty phải trả cho ông 10.000 đô la. Nhiều người cho Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền. Nhưng trong giấy biên nhận, Xten-mét-xơ ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đô la. Tiền tìm ra chỗ vạch đúng đường ấy là 9.999 đô la”. Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu không biết cách chữa thì cỗ máy kia có thể thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu được không”? (Theo Hương Tâm, Ngữ Văn 9 tập hai. NXB Giáo dục 2019) Câu 1. Gọi tên phép lập luận được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Trong đoạn trích, việc chuyên gia Xten-mét-xơ “xem xét” máy phát điện hỏng và nhanh chóng “làm cho máy hoạt động trở lại” nói lên điều gì? P a g e 10 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 11 Câu 3. Từ nội dung đoạn trích trên và những hiểu biết thực tế, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về ý kiến “Tri thức là sức mạnh”. Gợi ý Câu 1: Phép lập luận: Tổng hợp Câu 2: Việc Xten-mét-xơ làm cho máy hoạt động trở lại nói lên Việc chuyên gia Xten-mét-xơ “xem xét” máy phát điện hỏng và nhanh chóng “làm cho máy hoạt động trở lại nói lên sức mạnh của tri thức, chứng minh cho chân lý: người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi. Câu 3: Viết đoạn văn “Tri thức là sức mạnh” * Giải thích khái niệm: - Tri thức: Những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc XH - Sức mạnh: Khả năng tác động mạnh đến những người khác, đến sự vật, gây tác dụng ở mức cao. - Tri thức là sức mạnh: Có tri thức, con người sẽ có được sức mạnh để làm chủ bản thân, làm chủ thế giới; đạt được mục tiêu của mình, tác động làm thay đổi bản thân, thay đổi mọi người xung quanh và thế giới theo hướng tích cực. * Tri thức là sức mạnh: - Hiểu biết đúng và sâu sắc về sự vật, hiện tượng giúp chúng ta có cách tác động đúng đắn vào sự vật hiện tượng đó, giúp đem lại kết quả cụ thể, kết quả như mong muốn. - Không có tri thức, hiểu biết, con người không làm được việc, không thể thành công. - Thế giới vô cùng rộng lớn, nhiều lĩnh vực phong phú, xã hội ngày càng phát triển nhưng cũng ngày càng phức tạp đòi hỏi con người cần phải có tri thức mới có thể tồn tại và phát triển. * Nêu biểu hiện: Một người giàu tri thức luôn được người khác tôn trọng, có thể hướng dẫn, giúp đỡ người khác. * Bàn luận mở rộng: Trong thời đại hội nhập và toàn cầu với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 tri thức có vai trò vô cùng quan trọng. Cần không ngừng trau dồi tri thức, tránh nguy cơ tụt hậu. 7. VẤN ĐỀ 7. VĂN HÓA ĐỌC SÁCH Cho đoạn trích sau: Nhiều người mới học tham nhiều mà không vụ thực chất, đã lãng phí thời gian và sức lực trên những cuốn sách vô thưởng, vô phạt, nên không tránh khỏi bỏ lỡ mất dịp đọc những cuốn sách quan trọng, cơ bản. Chiếm lĩnh học vấn giống như đánh trận, cần phải đánh vào P a g e 11 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 12 thành trì kiên cố, đánh bại quân địch tinh nhuệ, chiếm cứ mặt trận xung yếu. Mục tiêu quá nhiều, che lấp mất vị trí kiên cố, chỉ đá bên đông, đấm bên tây, hóa ra thành lối đánh “tiêu hao lực lượng”. (“Bàn về đọc sách”- Chu Quang Tiềm, Ngữ văn 9 tập 2) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong trích đoạn trên. Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ có trong đoạn trích trên? Câu 3. Một bộ phận giới trẻ hiện nay thường ngại đọc các tác phẩm văn chương, chỉ thích đọc truyện tranh, báo mạng và truyện ngôn tình. Qua văn bản Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm và bằng sự hiểu biết xã hội, hãy viết một đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy thi trình bày suy nghĩ của em về thực trạng trên? Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt: Nghị luận Câu 2: Chỉ ra được một biện pháp tu từ so sánh: Chiếm lĩnh học vấn giống như đánh trận Câu 3: Viết đoạn văn a. Giải thích về khái niệm văn hóa đọc - Nghĩa rộng: Là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước. - Nghĩa hẹp: Là thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của mỗi cá nhân. b. Văn hóa đọc của giới trẻ ngày nay - Vì sống trong thời buổi công nghệ hiện đại, nên các bạn không ý thức được việc đọc sách. - Đọc sách theo phong trào. Lựa chọn những cuốn “sách đen” để đọc. c. Tác hại của việc lạm dụng sản phẩm công nghệ và không đọc sách - Làm cho cơ thể không còn hoạt bát, năng động. Khiến cho não bộ ở trạng thái thụ động, không được minh mẫn. - Thiếu vốn từ trầm trọng, làm giảm khả năng suy nghĩ, giải thích các vấn đề không rõ ràng và lan man, nói năng không lưu loát. d. Lợi ích của việc đọc sách - Kích thích tinh thần. Trau dồi kiến thức. - Mở rộng vốn từ và cách hành văn. Tăng cường khả năng tư duy, phân tích và sáng tạo. e. Phản đề: Phê phán những người lợi dụng sách để truyền tải nội dung thiếu văn hóa, sao chép sách… f. Các biện pháp và hướng dẫn hình thành thói quen đọc sách P a g e 12 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 13 - Phụ huynh hãy tạo cơ hội đọc sách cho con và cùng trao đổi, thảo luận về sách với con cái. Nhà trường hãy tổ chức các hoạt động và các trò chơi về sách để giới thiệu những cuốn sách hay và khuyến khích học sinh đọc sách nhiều hơn. - Để phát triển văn hóa đọc, chúng ta nên xây dựng thói quen đọc sách qua từng ngày, lựa chọn sách phù hợp và rèn luyện kỹ năng đọc sách. 8. VẤN ĐỀ 8. CON NGƯỜI SỐNG TRONG HÒA BÌNH Đọc kĩ đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Tuy nhiên ý nghĩ dai dẳng cho rằng trái đất là nơi độc nhất có phép màu trong hệ mặt trời, ý nghĩa đó đã đẩy chúng ta đến kết luận này: Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lí trí. Không những đi ngược lại với lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa (...) Từ khi mới nhen nhúm sự sống trên trái đất, đã phải trải qua 380 triệu năm con bướm mới bay được, rồi 180 triệu năm nữa bông hồng mới nở chỉ để làm đẹp mà thôi. Cũng đã phải trải qua bốn kì địa chất, con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu. Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ con người chẳng có gì để tự hào vì đã phát minh ra một biện pháp, chỉ cần bấm nút một cái là đưa cả quá trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu năm trở lại điểm xuất phát của nó. (Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, G. Macket, Ngữ văn 9, t1, tr19) Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là phương thức nào? Câu 2. Nêu tác dụng của biện pháp nói quá trong câu văn sau “Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ con người chẳng có gì để tự hào vì đã phát minh ra một biện pháp, chỉ cần bấm nút một cái là đưa cả quá trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu năm trở lại điểm xuất phát của nó” Câu 3. Em hãy viết một đoạn văn khoảng một trang giấy thi về ý kiến sau “con người cần được sống trong một thế giới hòa bình”. Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt: Nghị luận Câu 2: Tác dụng của biện pháp nói quá Biện pháp nói quá có tác dụng nhấn mạnh sự nguy hiểm của hiểm họa hạt nhân đe dọa cuộc sống con người. Câu 3: Viết đoạn văn “con người cần được sống trong một thế giới hòa bình”. - Dẫn dắt vấn đề, giới thiệu ý kiến “con người cần được sống trong một thế giới hòa bình” - Giải thích: Thế giới hòa bình không còn chiến tranh, xung đột, mâu thuẫn, là thế giới con người sống trong sự an toàn, công bằng. P a g e 13 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 14 - Vai trò của hòa bình: + Hòa bình tạo môi trường an toàn để con người phát triển + Hòa bình tạo ra môi trường thúc đẩy xã hội phát triển văn minh. (dẫn chứng) - Phản đề/ liên hệ, bài học nhận thức và hành động. 9. VẤN ĐỀ 9. HỌC ĐỂ LÀM Trong văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”, tác giả Vũ Khoan viết: “Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu. Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề. Không nhanh chóng lấp những lỗ hổng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng”. (Trích Ngữ văn 9, tập II, trang 27, NXB Giáo dục) Câu 1. Nêu cách hiểu của em về từ “hành trang” đặt trong nhan đề của văn bản? Câu 2. Phân tích hai phép liên kết được sử dụng trong đoạn trích trên. Câu 3. Khi nhận định một điểm yếu của con người Việt Nam, tác giả đã thẳng thắn chỉ ra: “khả năng thực hành… bị hạn chế”. Bàn về mục đích của việc học, UNESCO đã từng đề xướng “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.” Bằng một đoạn văn khoảng ½ trang giấy thi, em hãy làm rõ quan điểm “Học để làm” của lớp trẻ hiện nay. Câu 4. Trong chương trình Ngữ văn THCS, em còn học một văn bản khác cũng bàn về vai trò, mục đích của việc học. Đó là văn bản nào? Của ai? Gợi ý Câu 1: Nêu cách hiểu về từ “hành trang” - “hành trang”: đồ dùng mang theo và các thứ trang bị khi đi xa. - “hành trang”: đặt trong nhan đề của văn bản: hành trang tinh thần như tri thức, kĩ năng, thói quen… để đi vào một thế kỉ mới. Câu 2: Phân tích hai phép liên kết được sử dụng - Nêu đúng tên, từ ngữ thực hiện hai phép liên kết được sử dụng trong đoạn trích. - Ví dụ phép nối “Nhưng” và phép thế “Ấy là” Câu 3: Viết đoạn văn P a g e 14 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 15 * Những vấn đề được tác giả đặt ra trong tác phẩm: - Để chuẩn bị vào thế kỉ mới thì yếu tố tiên quyết nhất vẫn là con người→ Con người là nền tảng của sự phát triển - Với sự phát triển ngày một lớn mạnh của thế giới, trong nền kinh tế tri thức thì vai trò của con người càng nổi bật và khẳng định. - Những nhiệm vụ cấp bách đặt ra lúc này là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiếp cận với nền kinh tế tri thức. - Điểm mạnh, điểm yếu của người Việt Nam * Bài học nhận thức bản thân: - Mỗi học sinh chúng ta phải nỗ lực ngay từ bây giờ, rèn luyện đạo đức, sức khoẻ, thẩm mỹ, trí tuệ, hoàn thiện bản thân. - Mỗi học sinh phải là những người trẻ nhanh nhạy, tiếp thu những tinh hoa nhân loại, đón đầu những đổi mới của thế giới, những xu thế phát triển mới để tiếp cận và học hỏi. - Trong thực tế, chúng ta là những học sinh vẫn còn tồn tại những khuyết điểm → Cần khắc phục, sửa chữa. - Chủ động trong lối sống, sống có mục tiêu, có lý tưởng 10. VẤN ĐỀ 10. HỌC CHAY, HỌC VẸT CỦA HỌC SINH Cho đoạn văn: “[...] Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng tồn tại không ít cái yếu. Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề. Không nhanh chóng lấp đầy những lỗ hổng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng.” (Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan, Ngữ văn 9, t2, tr.28) Câu 1. Từ in đậm trong đoạn văn trên là phương tiện của phép liên kết nào? Câu 2. Hãy chỉ rõ phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên. Câu 3. Trong đoạn văn, tác giả đã chỉ rõ những điểm mạnh và điểm yếu nào trong tính cách, phẩm chất, thói quen của người Việt Nam ta? Câu 4. Từ đoạn văn trên và những hiểu biết xã hội, hãy viết một đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng học chay, học vẹt của học sinh, sinh viên trong các nhà trường hiện nay. P a g e 15 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 16 Gợi ý Câu 1: Phép liên kết: Phép nối “Nhưng” Câu 2: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận Câu 3: Điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách, phẩm chất, thói quen của người Việt Nam - Điểm mạnh: sự thông minh, nhay bén với cái mới... - Điểm yếu: hổng kiến thức cơ bản, khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế... Câu 4: Viết đoạn văn về “Hiện tượng học chay, học vẹt của học sinh, sinh viên hiện nay” a. Khái niệm - Học chay là học nặng về lý thuyết, không ứng dụng vào thực tế, không gắn với thực hành. - Học vẹt là dập khuôn máy móc, chỉ thuộc làu kiến thức lý thuyết được truyền thụ mà không chịu suy nghĩ hay vận dụng nên không hiểu bản chất vấn đề. b. Thực trạng - Là hiện tượng phổ biến của học sinh hiện nay - Nhiều học sinh rất giỏi lí thuyết nhưng khi áp dụng vào thực tế thì lúng túng hoặc ko biết cách làm. Ví như học vật lí nhưng không biết lắp bảng điện, học công nghệ mà không tự nấu được một món ăn đơn giản, học văn mà không biết viết một lá đơn. c. Tác hại - Không hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức. - Thụ động, phụ thuộc thầy cô, sách vở -> không phát huy được trí thông minh, sự sáng tạo. - Không tự đối phó được với những tình huống bất ngờ trong thực tiễn cuộc sống. d. Nguyên nhân - Chủ quan: chưa ý thức được mục đích chân chính của việc học mà chỉ học hình thức để thi đỗ và mang lại lợi ích bản thân sau này. Thiếu phương pháp học đúng đắn. Học sinh bị cuốn vào những trò giải trí nên không dành thời gian cho việc học, lười đào sâu suy nghĩ - Khách quan: Chương trình học nặng về lí thuyết, thiếu tính thực tế, yêu cầu cao trong thi cử. Phương pháp học một chiều. Áp lực từ phía gia đình, nhà trường và bệnh thành tích khiến học sinhmệt mỏi, chán nản. e. Giải pháp – Liên hệ bản thân - Xác định rõ mục đích học tập để thành người có ích, góp phần xây dựng đất nước. - Có phương pháp học đúng đắn, phù hợp với từng môn học (VD: các môn tự nhiên: sổ ghi chép, văn: đọc nhiều, viết nhiều…) - Luôn kết hợp việc học đi đôi với hành P a g e 16 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 17 - Tích cực tự học, tìm tòi mở rộng thêm kiến thức. - Học để hiểu bản chất của vấn đề chứ không phải để đối phó, học đâu nắm chắc đấy để có kiến thức thực sự. 11. VẤN ĐỀ 11. TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY Cho đoạn trích sau: “Tết năm nay là sự chuyển tiếp giữa hai thế kỉ, và hơn nữa, là sự chuyển tiếp giữa hai thiên niên kỉ. Trong thời khắc như vậy, ai ai cũng nói tới việc chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, thiên niên kỉ mới. Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thế kỉ tới mà ai cũng phải thừa nhận ra rằng nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội.” (Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan – Ngữ văn 9, T2) Câu 1. Hãy xác định thành phần biệt lập trong đoạn trích trên. Từ “hành trang” trong đoạn trích đó có nghĩa là gì? Câu 2. Theo em, tại sao trong vấn đề chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, tác giả lại cho rằng “sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”? Câu 3. Từ văn bản có nội dung trên cùng với những hiểu biết xã hội, hãy viết một đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy khi trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam đối với đất nước trong thời kỳ hiện nay. Gợi ý Câu 1: Thành phần biệt lập. Nghĩa từ “hành trang” - Thành phần biệt lập tình thái “có lẽ” trong “có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. - Giải nghĩa từ “hành trang”: là tinh thần, tri thức, kỹ năng, thói quen… Câu 2: Tác giả cho rằng “sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất” - Từ xưa tới nay, bao giờ con người cũng là nhân tố quyết định, là động lực phát triển của lịch sử. - Con người là chủ nhân của đất nước, mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đều do con người xây dựng và phát triển nên. - Trong thế kỷ tới, khi nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng trở nên quan trọng. P a g e 17 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 18 Câu 3: Viết đoạn văn về “Trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam đối với đất nước trong thời kỳ hiện nay” - Hiểu rõ được thế hệ trẻ là: thanh niên, học sinh. - Nêu được nhiệm vụ của đất nước ta hiện nay: vừa xây dựng, vừa bảo vệ Tổ quốc. - Vai trò của thế hệ trẻ: + Tuổi trẻ là lực lượng chủ yếu, nòng cốt của đất nước, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. + Tuổi trẻ là đối tượng năng động, giàu sức sáng tạo, sôi nổi, nhiệt tình, sẵn sàng đi tiên phong trong mọi lĩnh vực… - Từ đó, học sinh đưa ra những nhận thức và hành động thể hiện trách nhiệm đối với quê hương trong thời kỳ hiện nay: ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện sức khỏe... sẵn sàng tham gia các hoạt động ở mọi lĩnh vực… 12. VẤN ĐỀ 12. TÁC HẠI CỦA TÍNH ĐỐ KỊ Văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” của tác giả Vũ Khoan có đoạn: “... (1) Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. (2) Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu. (3) Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu...”. Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”. Câu 2. Chỉ ra hai phép liên kết câu được tác giả sử dụng trong đoạn văn trên. Nêu rõ từ ngữ được dùng làm phương tiện liên kết. Câu 3. Cũng trong văn bản, tác giả đã chỉ rõ một điểm yếu của người Việt Nam là tính đố kị. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy kiểm tra) trình bày suy nghĩ của em về tác hại của tính đố kị. Gợi ý Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Nghị luận. Câu 2: Chỉ ra hai phép liên kết câu. Nêu rõ từ ngữ làm phương tiện liên kết - Phép lặp: cái mạnh (câu 1, câu 3) - Phép thế: bản chất trời phú ấy (câu 2)-thông minh, nhạy bén với cái mới (cậul) - Phép nối: Nhưng (câu 3) Câu 3: Viết đoạn văn về “Tác hại của tính đố kị” P a g e 18 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 19 - Giải thích khái quát về tính đố kị. (đố kị: là sự ghen tị, ganh tị, có thái độ không vui trước thành công của người khác, thỏa mãn, hả hê khi người khác thất bại, ... - Suy nghĩ cụ thể về tác hại của tính đố kị: + Hủy hoại chính mình cả về thể chất lẫn tinh thần, khiến con người trở nên nhỏ mọn, xấu xa. + Làm ảnh hưởng đến người khác. + Hủy hoại các mối quan hệ. (lấy dẫn chứng và phân tích) - Phê phán những người có tính đố kị và rút ra bài học nhận thức và hành động - Liên hệ bản thân 13. VẤN ĐỀ 13. THÓI QUEN TỐT ĐẸP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Đây là đoạn trích trong văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (Vũ Khoan): ...Bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu. Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ - những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ mới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất. (Trích Ngữ Văn 9, tập hai, NXB Giáo dục) Câu 1. Văn bản chưa đoạn trích trên được viết năm nào? Thời điểm lịch sử của văn bản đó ra đời có ý nghĩa đặc biệt gì? Câu 2. Theo em, tại sao lớp trẻ lại được coi là những người chủ thực sự của đất nước. Câu 3. Hãy viết một đoạn văn (Khoảng 2/3 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về một thói quen tốt đẹp của Người Việt Nam mà em biết. Gợi ý Câu 1: Xuất xứ và ý nghĩa đặc biệt thời điểm ra đời văn bản - Văn bản chứa đoạn trích trên được viết vào năm 2001. - Tác giả viết bài văn này vào đầu năm 2001, khi đất nước ta cùng toàn thế giới bước vào năm đầu tiên của thế kỷ mới. Đây là thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ, hai thiên niên kỷ. Ở nước ta, công cuộc đổi mới bắt đầu từ cuối thế kỷ trước đã thu được những thành quả nhất định, chúng ta bước sang thế kỷ mới với những mục tiêu vô cùng quan trọng, đó là tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, kết hợp với những truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời để đưa nước ta tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Câu 2: Lớp trẻ được coi là người chủ thực sự của đất nước P a g e 19 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 20 Tuổi trẻ là những công dân ở lứa thành niên, thanh niên là thế hệ măng đã sắp thành tre, là người đã đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận biết vai trò của mình đối với bản thân, xã hội. Tuổi trẻ của mỗi thời đại là niềm tự hào dân tộc, là lớp người tiên phong trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước. Tương lai đất nước là vận mệnh, là số phận của đất nước mà mỗi công dân sẽ góp phần xây dựng, phát triển, trong đó quan trọng nhất là thế hệ trẻ. Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nồng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ quốc. Câu 3. Viết đoạn văn về “Thói quen tốt của người Việt Nam” - Một trong những thói quen tốt của người Việt Nam là sống có nghĩa tình - yêu thương. Sống có nghĩa có tình – biết yêu thươngđùm bọc lẫn nhau là truyền thống tốt … - Biểu hiện: + Trong đời sống hàng ngày: + Trong văn học: - Khẳng định đây không chỉ là thói quen tốt mà còn là lối sống, ứng xử đầy tính nhân văn: + Giúp nhau vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống + Tạo nên một xã hội tốt đẹp ấm áp tình người + Tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc đánh đuổi xâm lăng dành độc lập xây dựng đất nước phát triển + Tạo nên ấn tượng tốt đẹp về đất nước trong mắt bạn bè quốc tế - Trái chiều: Trong thực tế cuộc sống xã hội của chúng ta ngày hôm nay cómột số người đi ngược lại thói quen tốt đẹp này: k ít những người sống sích kỷ, vô tâm thờ ơ trước những người hoạn nạn, hôi của …điều đó cần đáng lên án và đấu tranh loại bỏ - Liên hệ bản thân: Là học sinh – tuổi trẻ tương lai đất nước mỗi học sinh chúng ta cần bồi đắp tâm hồn tình cảm, biết yêu thương chia sẻ giúp đỡ, bảo vệ những người xung quanh. Tình cảm đó không giới hạn trong tập thể nhỏ hẹp mà mở rộng ra phạm vi đất nước, quốc tế và toàn nhân loại 14. VẤN ĐỀ 14. TINH THẦN LẠC QUAN TRONG CUỘC SỐNG Dưới đây là phần mở đầu văn bản Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang (trích tiểu thuyết Rô-bin-xơn Cru-xô của Đa-ni-an Đi-phô): P a g e 20 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 21 “Nếu có ai đó ở nước Anh gặp một kẻ như tôi lúc bấy giờ, chắc tôi sẽ làm cho họ hoảng sợ hoặc phá lên cười sằng sặc; và làm khi tôi đang lặng ngắm nghía bản thân mình, tôi cứ mỉm cười tưởng tượng tôi lang thang khắp miền Y-oóc-sai với trang bị và áo quân như vậy.” (Trích Ngữ văn 9, tập hai, 2017) Câu 1. Em hãy nêu ngôi kể của văn bản? Việc sử dụng ngôi kể như vậy có tác dụng gì? Câu 2. Em có nhận xét gì về giọng kể của nhân vật trong đoạn trích trên? Giọng kể ấy giúp em cảm nhận được điều gì về nhân vật? Câu 3. Từ văn bản trên kết hợp với hiểu biết thực tế, em hãy viết đoạn văn nghị luận khoảng 2/3 trang giấy trình bày suy nghĩ về tinh thần lạc quan trong cuộc sống. Gợi ý Câu 1: Ngôi kể, tác dụng của ngôi kể - Văn bản được kể bằng ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi” Rô-bin-xơn - Tác dụng: Giúp câu chuyện trở nên chân thực, sinh động, đáng tin cậy hơn vì đó là chuyện của chính nhân vật trải nghiệm. Giúp cho nhân vật “tôi” có thể trực tiếp bộc lộ cảm xúc, lời đánh giá về chuyện mà nhân vật đang kể. Câu 2: Giọng kể của nhân vật trong đoạn trích - Giọng kể của nhân vật trong đoạn trích trên: dí dỏm, hài hước. - Giọng kể ấy giúp em cảm nhận được một nhân vật có khiếu hài hước và có tinh thần lạc quan. Câu 3: Việt đoạn văn về “Tinh thần lạc quan trong cuộc sống” a. Lạc quan và biểu hiện của tinh thần lạc quan - Lạc quan là: Lạc quan là thái độ sống, là luôn vui tươi, vui cười dù có bất kì chuyện gì xảy ra. Lạc quan như là một liều thuốc bổ cho cuộc sống tươi đẹp hơn. - Biểu hiện của lạc quan: Luôn tươi cười dù có chuyện gì xảy ra. Luôn yêu đời, bình tĩnh xử lí mọi tình huống dù có chuyện gì xảy ra b. Ý nghĩa của tinh thần lạc quan - Lạc quan sẽ tạo nên cuộc sống tươi đẹp cho tất cả mọi người - Giúp chúng ta biết sống một cách có ý nghĩa hơn - Giúp con người tránh khỏi những hiểm họa trong cuộc sống - Những người lạc quan thường thành công trong cuộc sống và công việc c.Phản biện: Phê phán kẻ bi quan, chán nản, đùn đẩy cho số phận… d.Bài học nhận thức và hàn động cho bản thân. P a g e 21 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 22 15. VẤN ĐỀ 15. SỨC MẠNH TINH THẦN ĐOÀN KẾT Dưới đây là trích đoạn trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê: “Những cái xảy ra hàng ngày: máy bay rít, bom nổ. Nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 30 mét. Đất dưới chân chúng tôi rung. Mấy cái khan mặt mắc ở dây cũng rung. Tất cả, cứ như lên cơn sốt. Khói lên, và cửa hang bị che lấp. Không thấy mây và bầu trời đâu nữa. Chị Thao cầm cái thước trên tay tôi, nuốt nốt miếng bích quy ngon lành: “Định ở nhà. Lần này nó bỏ ít, hai đứa đi cũng đủ”, rồi kéo tay áo Nho, vác xẻng lên vai và đi ra cửa. Tôi không cãi chị. Quyền hạn phân công là ở chị. Thời gian bắt đầu căng lên. Trí não tôi cũng không thua. Những gì đã qua, những gì sắp tới…không đáng kể nữa. Có gì lí thú đâu, nếu các bạn tôi không quay về?...” Câu 1. Nhân vật “Tôi” được nói đến trong đoạn trích là ai? Nhân vật đó được giao nhiệm vụ gì? Từ đó, em thấy những phẩm chất nào của nhân vật được bộc lộ? Câu 2. Những câu văn: “Những gì đã qua, những gì sắp tới…không đáng kể nữa. Có gì lí thú đâu, nếu các bạn tôi không quay về?” sử dụng hình thức ngôn ngữ nào? Vì sao? Câu 3. Từ tình đồng chí, đồng đội của các cô gái thanh niên xung phong trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” kết hợp với hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về sức mạnh của tinh thần đoàn kết trong cuộc sống hiện nay. Gợi ý Câu 1: Nhân vật được nói đến, nhiệm vụ và phẩm chất của nhân vật “Tôi” - Nhân vật “tôi” được nói đến trong đoạn trích là Phương Định - Cô được giao nhiệm vụ: Trực điện thoại trong hang - Những phẩm chất của nhân vật được bộc lộ: tinh thần trách nhiệm, tính kỉ luật, tình đồng đội… Câu 2: Hình thức ngôn ngữ trong câu văn: “Những gì đã qua, những gì sắp tới…không đáng kể nữa. Có gì lí thú đâu, nếu các bạn tôi không quay về?” - Hình thức ngôn ngữ: độc thoại nội tâm - Vì những câu đó không được nhân vật nói ra thành lời, chỉ thể hiện trong suy nghĩ. Trước các câu đó không có dấu gạch đầu dòng Câu 3: Viết đoạn văn “Sức mạnh của tinh thần đoàn kết” - Giải thích: Đoàn kết nghĩa là những cá nhân riêng lẻ cùng nhau hợp sức lại, tạo nên một sức mạnh vững chắc giải quyết tốt vấn đề mà tập thể đang muốn làm. - Biểu hiện của tình đoàn kết: Trong lao động, trong chiến đấu, trong cuộc sống hằng ngày… P a g e 22 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 23 - Ý nghĩa, sức mạnh của tình đoàn kết? (giúp con người hoà nhập, gắn kết trong cộng đồng; tạo nên sức mạnh lớn lao để vượt qua khó khăn, đạt được thành công trong mọi hoàn cảnh…) - Liên hệ mở rộng: Phê phán, lên án những con người đoàn kết lại để làm việc xấu, gây phương hại đến những người khác. - Trong trường học, nhiều học sinh tự chia nhau thành các nhóm riêng rẽ, gây mất đoàn kết trong lớp. Có học sinh chỉ vì lợi ích cá nhân bàn ra tán vào gây ảnh hưởng nặng nề đến tinh thần đoàn kết của cả lớp… - Liên hệ bản thân 16. VẤN ĐỀ 16. Ý NGHĨA SỰ ĐỒNG CẢM, SẺ CHIA GIỮA NGƯỜI VỚI NGƯỜI Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: … “Bỗng một bàn tay chắc nịch đặt lên vai em và một giọng ồm ồm hỏi em: “Có điều gì làm cháu buồn phiền đến thế, cháu ơi?”. Xi-mông quay lại. Một bác công nhân cao lớn, râu tóc đen, quăn, đang nhìn em với vẻ nhân hậu…” (Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục) Câu 1. Đoạn trích trên trích trong tác phẩm nào? Ai là tác giả? Câu 2. Hãy tìm và chép lại chính xác phần lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích trên. Vì sao em chọn đó là lời dẫn trực tiếp? Câu 3. Đoạn trích trên giúp em hiểu như thế nào về tính cách của nhân vật “bác công nhân”? Câu 4. Từ câu chuyện trên về cậu bé Xi - mông, kết hợp những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ về ý nghĩa sự đồng cảm, sẻ chia giữa con người với con người trong cuộc sống hiện nay. Gợi ý Câu 1: Xuất xứ, tác giả: Đoạn trích trong “Bố của Xi Mông” – Guy đơ Mô-pa-xăng Câu 2: Lời dẫn trực tiếp trong đoạn, lí do chọn - Lời dẫn trực tiếp: “Có điều gì làm cháu buồn phiền đến thế, cháu ơi?” - Lí do: + Về nội dung: ghi lại lời nói của nhân vật một cách nguyên văn + Về hình thức: được đặt trong ngoặc kép, sau dấu hai chấm Câu 3: Tình cách của nhân vật “bác công nhân” trong đoạn trích - “Bác công nhân” trong đoạn là bác Phi-lip. - Qua đoạn trích ta cảm nhận được tấm lòng nhân hậu, giàu tình yêu thương của bác. P a g e 23 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 24 Câu 4: Viết đoạn văn về sự đồng cảm, sẻ chia a. Giải thích đồng cảm và chia sẻ: - Đồng cảm là chung một cảm nghĩ, một tấm lòng. Là sự đồng cảm, luôn thấu hiểu và quan tâm đến người khác - Chia sẻ là san sẻ những gì mình có với người khác. Cùng vui cùng buồn với người khác, khi họ gặp khó khăn, gian khổ. Giúp đỡ họ khi họ không có khả năng thực hiện b. Bàn luận - Sự đồng cảm và chia sẻ được thể hiện qua các mối quan hệ: Giữa con người với con người. Giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Giữa mọi người trong nhà trường, tập thể, xã hội, toàn cầu… - Những biểu hiện của đồng cảm và chia sẻ: + Về vật chất: chúng ta có thể quyên góp, ủng hộ bằng nhiều cách để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn, khó khăn. + Về tinh thần: chúng ta biết lắng nghe, mở lòng để thấu hiểu họ, thể hiện tình cảm, sự thấu hiếu đối với những người gặp khó khăn + Về công sức: có thể góp sức xây dựng nên nơi cư trú hay xây dựng trường học cho những nơi khó khăn... c. Ý nghĩa của sự đồng cảm và chia sẻ: - Đối với người nhận: những người gặp khó khăn sẽ rất vui, họ cảm thấy được an ủi, được quan tâm và chia sẻ - Đối với người ủng hộ: những người ủng hộ sẽ được an lòng, cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản và sống tốt hơn. - Đồng cảm và chia sẻ đều mang lại lợi ích cho cả hai bên, giúp cho tinh thần của học trở nên thư thái và được yêu thương hơn. d. Liên hệ bản thân và thế hệ trẻ 17. VẤN ĐỀ 17. TINH THẦN VƯỢT QUA NGHỊCH CẢNH Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Nguyễn Hiền nhà rất nghèo, phải xin làm chú tiểu trong chùa. Việc chính là quét lá và dọn dẹp vệ sinh. Nhưng cậu rất thông minh và ham học. Những buổi thầy giảng kinh, cậu đều nép bên cửa lắng nghe, rồi chỗ nào chưa hiểu, cậu hỏi thầy giảng thêm. Thấy, Nguyễn Hiền thông minh, mau hiểu, thầy dạy cho cậu học chữ. Không có giấy, Nguyễn Hiền lấy lá để viết chữ, rồi lấy que tre xâu thành từng xâu rồi ghim xuống đất. Mỗi ghim một bài. (Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.22) Câu 1. Chỉ ra các phép liên kết và từ ngữ được sử dụng làm liên kết trong những câu in đậm. P a g e 24 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 25 Câu 2. Hoàn cảnh của Nguyễn Hiền có gì đặc biệt? Nguyễn Hiền đã ứng xử ra sao trước hoàn cảnh đó? Câu 3. Cậu bé Nguyễn Hiền nhà nghèo xưa đã vượt lên hoàn cảnh, chăm chỉ học tập để rồi được lưu tên bảng vàng đổ Trạng Nguyên khi chỉ mới 12 tuổi. Từ tấm gương của Nguyễn Hiền cũng như rất nhiều những tấm gương khác trong cuộc sống, em hãy viết đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về tinh thần vượt qua nghịch cảnh. Gợi ý Câu 1: Phép liên kết và từ ngữ được sử dụng làm phép liên kết trong những câu in đậm - Phép nối: nhưng - Phép lặp: cậu Câu 2: Hoàn cảnh đặc biệt của Nguyễn Hiền, cách ứng xử - Hoàn cảnh đặc của Nguyễn Hiền: nhà nghèo, phải xin làm chú tiểu trong chùa, thiếu thốn vật chất (không có tiền đi học, không có giấy) - Cách ứng xử của Nguyễn Hiền trước hoàn cảnh: tìm cách khắc phục vượt qua khó khăn (nép bên cửa lắng nghe, chỗ nào chưa hiểu, cậu hỏi thầy giảng, lấy lá viết chữ, lấy que tre xâu thành từng xâu rồi ghim xuống đất. Mỗi ghim một bài) Câu 3: Viết đoạn văn về vấn đề “Tinh thần vượt qua nghịch cảnh” - Hiểu được vấn đề nghị luận: tinh thần vượt qua nghịch cảnh là sự kiện cường, mạnh mẽ dám đương đầu với khó khăn, thử thách trong cuộc sống (HS tìm ra được dẫn chứng: những người nổi tiếng như Bác Hồ, Nick Vujicic... hay những con người nhỏ bé như Minh Hiếu - Tất Minh với hành trình 10 năm cõng bạn đến trường...) - Nhận thức được ý nghĩa của tinh thần vượt lên nghịch cảnh: hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, từ đó hoàn thiện chính mình: đóng góp cho xã hội... rèn được thái độ chủ động, bản lĩnh, ý chí vượt qua khó khăn thử thách, khắng định được chính mình, từ đó có được sự nể phục, tin yêu của mọi người... - Bày tỏ tấm lòng khâm phục và rút ra cho mình bài học về nghị lực của những con người dám vượt qua nghịch cảnh để thành công 18. VẤN ĐỀ 18. HIỆN TƯỢNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Cho đoạn văn: “Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem tiếng nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vuc khí vì một cuộc sống hòa bình, công bằng. Nhưng dù cho tại họa có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích” P a g e 25 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 26 (Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục 2013) Câu 1. Đoạn trích đã cho nằm trong văn bản nào? Nó thuộc kiểu văn bản gì? Câu 2. Chỉ ra 2 phép liên kết trong đoạn văn trên Câu 3. Loài người đang rất tích cực trong việc xây dựng một cuộc sống hòa bình. Phải chăng tiêu chí ấy sẽ đạt được khi con người biết ứng xử hòa nhã, bao dung? Vậy nên trong thực tế có những người lại nóng vội, hành xử bằng bạo lực, trong đó có cả già, trẻ. Em hãy viết đoạn văn dài khỏang 2/3 trang giấy thi để nêu suy nghĩ của em về hiện tượng bạo lực học đường hiện nay Gợi ý Câu 1: Xuất xứ, thể loại - Đấu tranh cho một thế giới hòa bình - Kiểu văn bản nhật dụng Câu 2: Phép liên kết trong đoạn văn trên - Phép nối: Nhưng - Phép lặp: Chúng ta Câu 3: Viết đoạn văn về “Hiện tượng bạo lực học đường” - Giới thiệu khái quát hiện tượng: Tình trạng bạo lực học đường đang gia tăng một cách đáng lo ngại trong thời gian gần đây. - Chỉ ra thực trạng: Số lượng, mức độ. - Phân tích nguyên nhân: Nhận thức sai lầm, lệch lạc, thiếu hiểu biết về pháp luật, thiếu sự quản lí của gia đình, nhà trường. - Hậu quả nghiêm trọng: Tổn thương về thể chất, tinh thần: Là mầm mống phát triển tội phạm; ảnh hưởng đến môi trường trong nhà trường và ngoài xã hội. - Giải pháp: Mỗi người cần bình tĩnh, tự chủ khi gặp mâu thuẫn, thái độ cần có khi chứng kiến các vụ bạo lực, trách nhiệm của cộng đồng… - Liên hệ bản thân. 19. VẤN ĐỀ 19. TÌNH YÊU TỔ QUỐC CỦA NGƯỜI VIỆT TRẺ TUỔI HÔM NAY Cho đoạn văn sau: “Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. Bà lẳng lặng xuống bếp châm lửa ngồi tính tiền hàng. Vẫn những tiền cua, tiền bún, tiền đỗ, tiền kẹo…Vẫn cái giọng rì rầm, rì rầm thường ngày. - Này thầy nó ạ. Ông Hai nằm rũ ở trên giường không nói gì. P a g e 26 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 27 - Thầy nó ngủ rồi à? - Gì? Ông lão khẽ nhúc nhích. - Tôi thấy người ta đồn… Ông lão gắt lên: - Biết rồi! Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi hiu hắt.” (Trích Làng – Kim Lân) Câu 1. Dấu chấm lửng trong câu “Tôi thấy người ta đồn...” có tác dụng gì? Việc mà bà Hai nghe “người ta đồn” là việc nào? Câu 2. Ngôn ngữ tác giả sử dụng trong đoạn trích trên có phải là ngôn ngữ đối thoại không? Em có nhận xét như thế nào về tác dụng của cách sử dụng ngôn ngữ nhân vật trong đoạn trích? Câu 3. Từ văn bản trên, với những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ trong khoảng nửa trang giấy thi, về tình yêu Tổ quốc của người Việt trẻ tuổi hôm nay. Gợi ý Câu 1: Tác dụng của dấu chấm lửng, việc “người ta đồn” - Dấu chấm lửng trong câu “Tôi thấy người ta đồn…” thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hoặc ngập ngừng ngắt quãng. - Việc bà Hai nghe “người ta đồn” là việc làng Chợ Dầu theo giặc. Câu 2: Ngôn ngữ và tác dụng của ngôn ngữ nhân vật trong đoạn trích - Ngôn ngữ tác giả sử dụng trong đoạn trích trên là ngôn ngữ đối thoại - Nhận xét: Có 3 lượt lời trao (lời của bà Hai) nhưng chỉ có hai lời đáp của ông Hai. + Lời thoại đầu không có câu trả lời. + Lời thoại hai đáp lại bằng 1 từ “Gì”. + Lời thoại ba đáp lại bằng câu ngắn “Biết rồi” với giọng gắt. - Cuộc đối thoại diễn ra không bình thường, nhằm diễn tả tâm trạng chán chường, buồn bã, thất vọng của ông Hai trong cái đêm nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc Câu 3. Viết đoạn văn về “Tình yêu Tổ quốc của người Việt trẻ tuổi hôm nay” - Khẳng định qua truyện ngắn Làng của Kim Lân, ta thấy được tình yêu làng quê và tình yêu nước sâu sắc trong con người ông Hai. Đặt nhân vật vào tình huống gay cấn, tác giả đã làm bộc lộ cả hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy tình yêu nước, tinh thần kháng chiến lớn rộng bao trùm lên tình yêu làng, nó chi phối và thống nhất mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kháng chiến. - Ngày nay, tuổi trẻ Việt Nam có nhận thức và hành động đúng về tình yêu Tổ quốc. - Trong nhận thức: ý thức được trách nhiệm công dân trong việc chống âm mưu xâm P a g e 27 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 28 lược, thôn tính đất nước của các thế lực thù địch, đánh đuổi giặc dốt, giặc đói… - Trong hành động: nỗ lực rèn luyện (đạo đức, trí tuệ, thể lực…) để lập thân, kiến quốc. Tình yêu Tổ quốc được biểu hiện trong những việc làm dù nhỏ, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. (Có thể về học tập, việc giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa…) 20. VẤN ĐỀ 20. LÒNG DŨNG CẢM CỦA THẾ HỆ TRẺ Trong truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê (Ngữ văn 9, tập 2), người kể chuyện có đoạn xưng “chúng tôi”: “Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi…” Lại có những đoạn xưng “tôi” kể chuyện: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá...” Câu 1. Nhân vật xưng “tôi” trong truyện là ai? Câu 2. Giải thích ý nghĩa sự thay đổi ngôi xưng trong truyện? Câu 3. Nhân vật “tôi” cùng đồng đội trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” là những con người dũng cảm tiêu biểu cho tuổi trẻ Việt Nam anh hùng thời kháng chiến chống Mĩ.Từ suy nghĩ, hành động của các nhân vật trên và những hiểu biết xã hội, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về lòng dũng cảm của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay. Gợi ý Câu 1: Nhân vật xưng “Tôi”: Nhân vật xưng “tôi” trong đoạn trích trên là Phương Định. Câu 2: Ý nghĩa sự thay đổi ngôi xưng trong truyện - Đảm bảo thống nhất một ngôi kể (ngôi thứ nhất) trong diễn biến câu chuyện - Phù hợp với nội dung truyện: khắc họa vẻ đẹp chung và riêng của các nhân vật qua cảm nhận của Phương Định - nhân vật chính và là một trong ba cô gái trong tổ trinh sát. Câu 3: Viết đoạn văn về “Lòng dũng cảm của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay” a. Khẳng định lòng dũng cảm của các nhân vật trong tác phẩm - Phương Định, Thao, Nho trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” là những nữ TNXP gan dạ, dũng cảm, dám hi sinh tuổi thanh xuân, quên đi sự sống của bản thân (có nghĩ đến cái chết – nhưng rất mờ nhạt), sẵn sàng đối mặt với những hiểm nguy, khốc liệt của chiến tranh để hoàn thành nhiệm vụ riêng, cùng đồng đội góp phần cho những đoàn xe thông tuyến. - Là tiêu biểu cho tuổi trẻ Việt Nam anh hùng thời kháng chiến chống Mĩ. b. Suy nghĩ về lòng dũng cảm của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay - Giải thích khái niệm lòng dũng cảm P a g e 28 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 29 - Nêu biểu hiện lòng dũng cảmcủa tuổi trẻ trong thời đại ngày nay. - Giải thích nguyên nhân làm nên dũng cảm và ý nghĩa của những việc làm thể hiện lòng dũng cảm. - Phê phán biểu hiện hèn nhát, yếu đuối - Bài học về nhận thức và hành động: + Khi gặp phải những khó khăn, thử thách trong học tập, công tác và đời sống con người phải có ý chí cao để vượt lên, đạt kết quả và thành công. + Khi phải đối đầu với cái xấu, cái tiêu cực hoặc kẻ thù của dân tộc, phải có lòng dũng cảm để đấu tranh giành thắng lợi. + Lòng dũng cảm cần thiết đối với mỗi người, xã hội và dân tộc. - Liên hệ bản thân 21. VẤN ĐỀ 21. CHỮ HIẾU CỦA CON CÁI TRONG CUỘC SỐNG NGÀY NAY “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai Xót người từ cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? Sân Lai cách mấy nắng mưa Có khi gốc tử đã vừa người ôm.” (Trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”- “Truyện Kiều”- Nguyễn Du) Câu 1. Giải nghĩa từ “chén đồng”. Câu 2. Đoạn thơ trên đã diễn tả nỗi nhớ thương của Kiều với Kim Trọng và cha mẹ. Có ý kiến cho rằng: “Nếu Nguyễn Du miêu tả Kiều nhớ cha mẹ trước, nhớ người yêu sau thì phải đạo làm con hơn.” Em có đồng ý với ý kiến trên không?Vì sao? Câu 3. Từ đoạn trích trên và bằng những hiểu biết xã hội, hãy viết một đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy thi trình bày suy nghĩ của em về chữ “hiếu” của con cái đối với cha mẹ trong cuộc sống ngày nay. Gợi ý Câu 1: Giải nghĩa từ “chén đồng” Chén đồng: chén rượu thề nguyền cùng lòng cùng dạ (đồng tâm) với nhau Câu 2: Ý kiến “Nếu Nguyễn Du miêu tả Kiều nhớ cha mẹ trước, nhớ người yêu sau thì phải đạo làm con hơn.” P a g e 29 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 30 - Không đồng ý với ý kiến trên. - Trước hết, nàng đau đớn nhớ tới chàng Kim, điều này vừa phù hợp với quy luật tâm lý, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du. - Kiều nhớ Kim Trọng trước rồi mới nhớ đến cha mẹ vì nàng cảm thấy mình có lỗi không giữ được lời hẹn ước với chàng Kim. Còn với cha mẹ dù sao Kiều cũng đã phần nào làm tròn chữ hiếu khi bán mình cứu cha và em. Câu 3: Viết đoạn văn về chữ hiếu của con cái đối với cha mẹ trong cuộc sống ngày nay * Khẳng định: Ở lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng đã quên đi cảnh ngộ của mình để nghĩ những người thân. Điều đó chứng tỏ Kiều là người con gái có tấm lòng vị tha, hiếu thảo đáng trân trọng. * Suy nghĩ về chữ “hiếu” của con cái đối với cha mẹ trong cuộc sống ngày nay. - Giải thích thế nào là có “hiếu” với cha mẹ. - Biểu hiện của sự hiếu thảo với cha mẹ. ( Xưa - nay) - Người Việt Nam hiện đại vẫn rất đề cao chữ “hiếu”, tuy nhiên do hoàn cảnh xã hội thay đổi nên cách ứng xử của con cái đối với cha mẹ sao cho trọn hiếu cũng thay đổi. - Hiếu không chỉ là nhớ ơn chín chữ, không chỉ là quạt nồng ấp lạnh mà còn là cố gắng tu dưỡng rèn đức, luyện tài để trở thành con ngoan, thành người có ích cho xã hội, thỏa lòng mong ước và công lao dưỡng dục của cha mẹ. - Nêu ý nghĩa sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ. - Phê phán những hành động trái với đạo lí, chà đạp tình mẫu tử, phụ tử thiêng liêng. Những hành động đó đáng bị xã hội lên án. - Bài học nhận thức và hành động: Dù trong xã hội nào con cái cũng phải có hiếu với cha mẹ, đó là đạo lí tốt đẹp của người Việt Nam 22. VẤN ĐỀ 22. TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC CỦA THẾ HỆ TRẺ Cho đoạn trích: “Ngôi nhà cũ xa dần, phong cảnh làng cũ cũng mờ dần, nhưng lòng tôi không chút lưu luyến. Tôi chỉ cảm thấy chung quanh tôi là bốn bức tường vô hình, nhưng rất cao, làm cho tôi vô cùng lẻ loi, ngột ngạt. Hình ảnh đứa trẻ oai hùng, cổ đeo vòng bạc, đứng giữa ruộng dua hấu, tôi vốn nhớ rõ lắm, nhưng bây giừo bỗng nhiên cũng mờ nhạt đi, khiến tôi lại càng thêm ảo não”. (trích Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2015) Câu 1. Những câu văn trên được rút từ văn bản nào, của ai? Câu 2. Nhân vật “tôi” trong đoạn trích được miêu tả trong hoàn cảnh nào? “Đứa trẻ oai hùng, cổ đeo vòng bạc” được nhắc tới ai? Người kể chuyện đã từng “nhớ rõ” về đứa trẻ đó nhưng P a g e 30 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 31 giờ lại cảm thấy “mờ nhạt đi”. Vì sao vậy? Câu 3. Từ nội dung văn bản có chứa những câu văn trên và những hiểu biết xã hội, hãy viết một đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy) trình bày suy nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng đất nước ta hiện nay. Gợi ý Câu 1: Văn bản: Cố hương, tác giả: Lỗ Tấn Câu 2: Nhân vật “tôi” trong đoạn trích được miêu tả trong hoàn cảnh nào? “Đứa trẻ oai hùng, cổ đeo vòng bạc” được nhắc tới ai? Người kể chuyện đã từng “nhớ rõ” về đứa trẻ đó nhưng giờ lại cảm thấy “mờ nhạt đi”. Vì sao vậy? - Hoàn cảnh: trên đường xa quê, đứa trẻ - Nhuận Thổ - Lí do: Thời gian trôi qua Nhuận Thổ đã thay đổi, khác xa so với những kí ức và trí tưởng tượng của người kể Câu 3: Viết đoạn về “Tình yêu quê hương đất nước của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay” a. Giải thích ý nghĩa tình yêu quê hương đất nước - Là thứ tình cảm gắn bó nơi chôn rau cắt rốn - Không ngừng nỗ lực xây dựng và phát triển đất nước - Là tình cảm thiêng liêng, cao quý, truyền thống từ bao đời nay của dân tộc ta b. Biểu hiện b1. Trong thời kì chiến tranh - Các chiến sĩ anh dũng đứng lên cầm súng để bảo vệ độc lập cho dân tộc - Hậu phương vững chắc tăng gia sản xuất chi viện cho tiền tuyến - Hi sinh thân mình để bảo vệ độc lập dân tộc b2. Trong thời bình - Tình yêu đối với gia đình, xã hội và đất nước - Gắn bó, yêu thương quê hương nơi chôn rau cắt rốn - Không ngừng cố gắng học tập, xây dựng và làm đẹp cho quê hương đất nước - Giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc ta c. Tình yêu quê hương đất nước giúp cho mỗi chúng ta - Có một lối sống đẹp, không quên cội nguồn nơi mình sinh ra - Sống có trách nhiệm hơn đối với bản thân, gia đình, quê hương, đất nước - Nâng cao tinh thần, ý chí quyết tâm, cống hiến cho đất nước - Đối với thanh niên hiện nay không ngừng nỗ lực vượt qua khó khăn. Tham gia các chiến dịch tình nguyện, giúp đỡ trẻ em nghèo vùng sâu vùng xa, hiến máu cứu người, P a g e 31 | 32

Thầy giáo Nguyễn Lương Hùng | 32 - Cả nước cùng nhau chống dịch như chống giặc chung tay đẩy lùi dịch Covid-19 - Một số thanh niên sống lệch lạc, làm những hành vi sai trái, phạm pháp d. Bài học, liên hệ - Là yếu tố quan trọng, lòng tự hào dân tộc có bên trong mỗi con người - Xây dựng, bồi dưỡng tình yêu đối với quê hương, đất nước - Phê phán những người sống sai trái, thiếu trách nhiệm, hướng họ tới với cuộc sống tốt đẹp hơn 23. VẤN ĐỀ 23. P a g e 32 | 32


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook