giản hóa hơn. 1. Cùng xem hướng dẫn của bài tập với con để đảm bảo cả hai cùng hiểu yêu cầu. Nếu bài tập cho con lựa chọn chủ đề, thì việc lựa chọn chủ đề là bước đầu tiên. Rất nhiều trẻ gặp vấn đề trong việc suy nghĩ về chủ đề. Khi đó, bạn nên cùng con suy nghĩ các ý tưởng về chủ đề, đưa ra nhiều gợi ý và bắt đầu với chủ đề con hứng thú nhiều hơn. 2. Sử dụng Bảng Kế hoạch Dự án Dài hơi sau đây, viết ra các chủ đề khả thi. Sau khi liệt kê được 3-5 chủ đề, hãy hỏi xem con thích và không thích lựa chọn nào. 3. Giúp con đưa ra lựa chọn cuối cùng. Ngoài việc suy nghĩ xem chủ đề nào con hứng thú nhất, cũng có một số điểm cần xem xét khi đưa ra lựa chọn cuối cùng là (a) chủ đề có quá rộng hay quá hẹp không; (b) có khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn lực và nguồn tham khảo không; và (c) liệu có cách điều chỉnh nào để chủ đề thú vị hơn không. 4. Sử dụng Bảng Kế hoạch Dự án Dài hơi, quyết định tài liệu hoặc nguồn lực cần thiết, khi nào trẻ cần đến chúng và tìm kiếm ở đâu. 5. Sử dụng Bảng Kế hoạch Dự án, liệt kê tất cả các bước cần được hoàn thành rồi thiết lập lịch trình để con biết khi nào một bước cần kết thúc. Việc biến thông tin này thành một cuốn lịch hằng tháng treo tường hoặc bảng tin gần bàn học của con có thể sẽ rất hữu ích. Việc này giúp trẻ dễ theo dõi những gì cần làm và khi nào cần làm hơn. 6. Gợi ý cho trẻ trong việc tuân thủ lịch trình. Trước khi con bắt đầu mỗi bước, hãy thảo luận với con về việc cần làm gì để hoàn thành bước này. Điều chỉnh/Thích nghi Sử dụng các yếu tố củng cố cần thiết để đạt được mục tiêu về thời gian và hoàn thành dự án trước hạn cuối, bạn có thể cho con điểm
thưởng vì hoàn thành mà không cần nhắc nhở (hoặc với số lần nhắc nhở tối thiểu đã thỏa thuận từ trước). 30 11. VIẾT BÀI LUẬN Kỹ năng thực hành cần có: Khởi đầu công việc (Chương 15), Duy trì tập trung (Chương 14), Lên kế hoạch (Chương 16), Tổ chức sắp xếp (Chương 17), Quản lý thời gian (Chương 18), Nhận thức tổng quan (Chương 21). Độ tuổi: 8-14 tuổi; trẻ thường phải bắt đầu viết văn từ năm lớp 3, và một bài thường chưa tới 5 đoạn văn đối với các em nhỏ nhất trong độ tuổi này. Và nếu con mới 8 tuổi, bạn có thể tùy theo đó mà rút ngắn mẫu này. Bước 1: Lên ý tưởng chủ đề Nếu con bạn phải nghĩ chủ đề để viết, bạn nên đảm bảo rằng bạn hiểu chính xác yêu cầu của đề bài trước khi bắt đầu. Điều này có thể cần một cuộc điện thoại tới giáo viên hoặc bạn bè của con để làm rõ hướng dẫn. Quy tắc lên ý tưởng là bất cứ ý tưởng nào cũng được chấp nhận và viết xuống vào lúc đầu và không phê phán chút gì. Nếu con gặp vấn đề trong việc tự nghĩ ý tưởng, hãy đưa ra vài ý tưởng của bạn để thúc đẩy con. Một khi bạn và con hết ý tưởng, hãy đọc lại danh sách đó và khoanh tròn những ý tưởng có triển vọng nhất. Con bạn có thể đã biết ngay lập tức mình muốn viết gì. Nếu không, hãy nói chuyện với con về thứ con thích và không thích ở mỗi ý tưởng để giúp việc lựa chọn một ý tưởng tốt trở nên dễ dàng hơn. Bước 2: Lên ý tưởng nội dung Một khi đã lựa chọn được chủ đề, quá trình lên ý tưởng sẽ bắt đầu lần nữa. Hãy hỏi con về tất cả những gì con biết hoặc muốn biết về chủ đề này. Sau đó, hãy viết ra bất cứ ý tưởng hay câu hỏi nào.
Bước 3: Sắp xếp nội dung Giờ, hãy quan sát tất cả các ý tưởng hay câu hỏi bạn đã viết. Hãy cùng con quyết định xem những tài liệu nào có thể gộp lại với nhau. Nếu như đề bài là viết về “lợn đất” chẳng hạn, bạn có thể tìm thấy cụm thông tin được phân loại như trông chúng thế nào, chúng ở đâu, ăn gì, kẻ thù là ai và tự vệ như thế nào. Xây dựng tiêu đề và viết chi tiết dưới từng tiêu đề. Một số bố mẹ thấy nên dùng giấy nhớ trong quá trình này. Trong suốt giai đoạn động não này, mỗi ý tưởng hay câu hỏi sẽ được viết trên từng tờ giấy nhớ. Những tờ giấy nhớ này có thể được sắp xếp trên bàn dưới những tiêu đề để hình thành nên khung bài. Bài viết của con có thể được viết nên từ khung sườn này. Bước 4: Viết đoạn văn mở đầu Đây thường là phần khó viết nhất. Đoạn mở đầu, bởi nó là phần cơ bản nhất, sẽ mô tả rất ngắn gọn bài văn sẽ như thế nào. Chẳng hạn như đoạn mở đầu bài viết về lợn đất có thể như sau: Bài viết này viết về một con vật kỳ lạ có tên “lợn đất”. Vào lúc đọc xong bài viết này, bạn sẽ biết chúng trông như thế nào, chúng sống ở đâu, ăn gì, kẻ thù của chúng là ai và cách chúng tự bảo vệ bản thân ra sao. Thêm nữa, đoạn mở đầu nên cố gắng để “thu hút người đọc”, cung cấp thông tin thú vị để lôi kéo sự tò mò của họ. Trẻ gặp khó khăn về kỹ năng viết sẽ gặp khó khăn trong việc tự viết đoạn mở đầu và có lẽ rất cần sự trợ giúp của bạn. Bạn có thể giúp trẻ bằng cách đặt các câu hỏi chung như “Con muốn mọi người biết gì sau khi đọc xong bài viết của con?” hay “Tại sao con nghĩ mọi người sẽ hứng thú đọc bài này?” Nếu con cần nhiều giúp đỡ hơn thế, bạn có thể đưa cho chúng một bài mẫu để học tập. Bạn có thể viết đoạn mở đầu của một chủ đề tương tự với chủ đề con bạn đang làm, hoặc sử dụng đoạn văn ở đây làm ví dụ. Nếu con bạn cần sự giúp đỡ mang tính định hướng để viết đoạn văn này, hãy cho con. Và rồi xem liệu con có thể tiếp tục mà không cần sự hỗ trợ nữa
không. Hãy nhớ, đoạn văn đầu thường là phần khó viết nhất trong bài. Bước 5: Viết tất cả phần còn lại của bài Để hướng dẫn con thêm một chút, hãy gợi ý con rằng phần còn lại của bài sẽ được chia thành các phần với tiêu đề của mỗi phần (cũng giống như cách lập khung bài). Giúp con lên danh sách các tiêu đề và rồi quan sát xem con bạn có thể tự viết được không. Mỗi đoạn văn nên bắt đầu với một câu mở đầu nói lên ý chính. Tiếp sau câu mở đầu có thể là 3-5 câu triển khai hoặc giải thích ý chính đó. Sẽ là rất có ích nếu sử dụng các từ nối để liên kết các câu hoặc các đoạn văn. Trong giai đoạn đầu học viết, những trẻ gặp khó khăn trong việc viết lách cần rất nhiều sự giúp đỡ. Bạn có thể phải viết nửa bài vào thời gian đầu. Tình trạng này sẽ được cải thiện theo thời gian, đặc biệt nếu như bạn kết thúc mỗi buổi luyện viết bằng các phản hồi tích cực với con về điều con làm tốt. Hãy chú ý bất kỳ cải thiện cụ thể nào trong bài viết mới của con so với bài viết trước. Nếu không thấy sự tiến triển hoặc nếu bạn thiếu thời gian hay kỹ năng để dạy trẻ học viết, hãy nói chuyện với giáo viên của trẻ để xem liệu có sự trợ giúp thêm nào từ phía nhà trường không. Thậm chí, bạn có thể yêu cầu gia tăng hỗ trợ từ phía nhà trường nếu bạn tin rằng kỹ năng viết của con đang tụt hậu trầm trọng so với những đứa trẻ cùng lứa tuổi. MẪU BÀI VIẾT CÓ 5 ĐOẠN VĂN Phần mở đầu Câu 1: Tóm tắt chủ đề bài viết Câu 2: Tập trung vào ý chính Câu 3: Bổ sung chi tiết hoặc giải thích lý do tại sao chủ đề này quan trọng
Phần thân bài Đoạn văn 1 – Câu mở đầu: Chi tiết bổ trợ 1: Chi tiết bổ trợ 2: Chi tiết bổ trợ 3: Đoạn văn 2 – Câu mở đầu: Chi tiết bổ trợ 1: Chi tiết bổ trợ 2: Chi tiết bổ trợ 3: Đoạn văn 3 – Câu mở đầu: Chi tiết bổ trợ 1: Chi tiết bổ trợ 2: Chi tiết bổ trợ 3: Phần kết bài Nhấn mạnh lại ý quan trọng nhất của bài (những gì độc giả nên hiểu sau khi đọc xong) 12. ÔN BÀI CHUẨN BỊ CHO BUỔI KIỂM TRA Kỹ năng thực hành cần có: Khởi đầu công việc (Chương 15), Duy trì tập trung (Chương 14), Lên kế hoạch (Chương 16), Tổ chức sắp xếp (Chương 17), Quản lý thời gian (Chương 18), Nhận thức tổng quan (Chương 21). ổ
Độ tuổi: 10-14 tuổi; trẻ thường không có bài kiểm tra nào cho đến năm lớp 4, và thậm chí đến lúc đó giáo viên nhiều khi còn thông báo trẻ phải học gì, nên thói quen này có lẽ sẽ không hữu dụng lắm với bạn cho đến khi con bạn lên lớp 5. 1. Treo lịch tháng và cùng con đánh dấu các bài kiểm tra sắp tới. 2. Từ 5-7 ngày trước buổi kiểm tra, hãy lên kế hoạch học tập với con. 3. Sử dụng Danh sách Chiến lược Học tập, để con quyết định chiến lược nào con muốn sử dụng để chuẩn bị cho bài kiểm tra sắp tới. 4. Hãy để con bạn lên kế hoạch học tập 4 ngày trước bài kiểm tra. Các nghiên cứu tâm lý trong nhiều năm đã chỉ ra rằng, khi học tài liệu mới, việc phân bổ luyện tập sẽ hiệu quả hơn việc học một lượng lớn kiến thức trong một lúc. Nói cách khác, nếu bạn định bỏ ra 2 tiếng học bài, sẽ tốt hơn nếu chia khoảng thời gian đó thành nhiều phần nhỏ 30 phút mỗi tối trong 4 tối. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các kiến thức cũng được củng cố hơn trong lúc ngủ, nên ngủ một giấc thật ngon đêm trước ngày kiểm tra cũng có lợi hơn là dành thời gian “nhồi nhét” kiến thức. 5. Với những trẻ gặp vấn đề trong việc duy trì sự tập trung, sử dụng một vài chiến lược trong một khoảng thời gian ngắn có thể sẽ dễ dàng hơn một chiến lược xuyên suốt quá trình học tập. Bạn có thể đặt chuông báo thời lượng mỗi chiến lược, và khi chuông kêu, con có thể chuyển sang chiến lược tiếp theo (trừ khi trẻ thích chiến lược đang sử dụng và muốn tiếp tục dùng nó). Điều chỉnh/Thích nghi Sau khi con làm bài kiểm tra hoặc có điểm kiểm tra, hãy yêu cầu con đánh giá kế hoạch học tập đó. Chiến lược nào hiệu quả nhất? Chiến lược nào kém hiệu quả nhất? Liệu có các chiến lược khác con có thể thử trong lần sau không? Về tổng thời gian dành cho việc học thì sao? Như vậy đủ chưa? Ghi nhớ những điểm cần lưu ý về kế hoạch học tập để giúp trẻ trong lần kiểm tra tiếp theo.
1. Nếu con bạn cảm thấy con đã học đầy đủ nhưng vẫn làm bài kém, hãy hỏi giáo viên của con xem liệu con có học sai tài liệu hay học sai cách không? 2. Nếu con thường xuyên làm bài kiểm tra kém dù đã nỗ lực học suốt thời gian dài, hãy đề nghị cô giáo của con điều chỉnh bài kiểm tra như kéo dài thời gian kiểm tra, cho con cơ hội làm lại bài, cơ hội làm bài khác để cải thiện điểm số, có phương án thay thế cho bài kiểm tra. Điều này có thể dẫn đến việc yêu cầu đánh giá xem liệu con có cần tham gia lớp giáo dục đặc biệt hay không (Chương 23). 3. Bổ sung thêm hệ thống khích lệ với các giải thưởng cho điểm kiểm tra tốt. 31 Đánh giá sau kiểm tra Việc học của con hiệu quả ra sao? Hãy trả lời các câu hỏi sau: 1. Chiến lược nào hiệu quả nhất? 2. Chiến lược nào không hiệu quả lắm? 3. Con có dành thời gian đủ cho việc học không? 4. Nếu không, con nên làm thêm gì? 5. Lần kiểm tra tới, con sẽ làm khác đi như thế nào? 13. HỌC CÁCH QUẢN LÝ CÁC NHIỆM VỤ TỐN NHIỀU CÔNG SỨC Kỹ năng thực hành cần có: Khởi đầu công việc (Chương 15), Duy trì tập trung (Chương 14). Độ tuổi: Mọi lứa tuổi.
Có hai cách cơ bản để biến một nhiệm vụ tốn nhiều công sức trở nên dễ dàng hơn trong mắt trẻ: Giảm yêu cầu khối lượng công việc hoặc khích lệ đủ nhiều để trẻ sẵn sàng bỏ ra nhiều tâm sức để đạt được phần thưởng. Ví dụ như: 1. Chia nhiệm vụ thành những phần rất nhỏ, để mỗi phần không mất quá 5 phút. Cho phép con đạt được những phần thưởng nhỏ sau khi kết thúc mỗi phần này. 2. Để con quyết định xem nên chia nhỏ nhiệm vụ thế nào. 3. Cho con điều gì đó rất đáng để mong chờ khi công việc hoàn thành. 4. Thưởng cho con vì đã sẵn sàng xử lý nhiệm vụ tốn nhiều công sức đó. Bạn cũng có thể thiết kế một thang điểm đánh giá cho công sức bỏ ra với 1 điểm cho nhiệm vụ dễ nhất, tăng dần cho đến 10 điểm là nhiệm vụ khó nhất để trẻ có thể tưởng tượng bản thân mình làm. Khi con bạn sử dụng thành thạo thang điểm đó, bạn có thể bắt đầu suy nghĩ cách làm thế nào để biến một nhiệm vụ tốn nhiều công sức (chẳng hạn như được đánh giá điểm 8 – 10) thành nhiệm vụ đơn giản hơn (ví dụ như điểm 3 – 4). Điều chỉnh/Thích nghi Nếu con vẫn không hoàn thành các nhiệm vụ khó khăn mà không phàn nàn, kêu ca, khóc lóc, hoặc trì hoãn, bạn có thể chọn cách chậm rãi và thiên về chân tay nhiều hơn để huấn luyện con chịu đựng các nhiệm vụ hao tâm tổn sức. Cách tiếp cận này, được đề cập trước đó trong phần Dọn dẹp phòng ngủ, được gọi là làm ngược. Con cần phải bắt đầu từ điểm cuối của nhiệm vụ khó khăn đó, đầu tiên con sẽ chỉ hoàn thành bước cuối cùng trong chuỗi để đạt được phần thưởng. Bạn tiếp tục lặp lại quá trình này cho đến khi con có thể làm bước đó mà không mất chút nỗ lực nào. Rồi bạn yêu cầu con làm 2 bước cuối cùng trong nhiệm vụ để được phần thưởng. Theo thời gian, con bạn sẽ tiến đến tận đầu nhiệm vụ nơi bạn mong đợi con sẽ
hoàn thành trọn vẹn. Nhiều phụ huynh ngại cách này, đặc biệt khi họ biết trẻ sẽ dọn dẹp phòng nếu bị la mắng và thúc giục đủ lâu. Nhưng có ai muốn phải la mắng con suốt đâu? Cách làm ngược thực sự giúp huấn luyện con trẻ chịu đựng các công việc buồn chán hoặc tốn nhiều công sức và loại bỏ việc la mắng con trẻ. 14. TỔ CHỨC SẮP XẾP SÁCH VỞ/BÀI TẬP VỀ NHÀ Kỹ năng thực hành cần có: Tổ chức sắp xếp (Chương 17), Khởi đầu công việc (Chương 15). Độ tuổi: 6-14 tuổi. 1. Hãy cùng con quyết định xem cần những gì trong hệ thống tổ chức sắp xếp: Một nơi để lưu trữ bài tập chưa hoàn thành? Một chỗ riêng biệt để đặt các bài tập đã hoàn tất? Một nơi khác để đặt các giấy tờ chưa được phân loại? Những quyển sổ hay tập hồ sơ lưu giữ các ghi chú, các bài tập hoàn thành, các tài liệu, bảng biểu? 2. Một khi đã liệt kê được tất cả các thành tố, hãy suy nghĩ cách tốt nhất để xử lý từng loại một. Chẳng hạn như, bạn và con có thể quyết định sử dụng hệ thống thư mục theo màu, hoặc giá tài liệu riêng biệt cho mỗi môn hoặc một tập tài liệu lớn để tất cả các môn học. Bạn cũng có thể tới một cửa hàng văn phòng phẩm để xem xét các ý tưởng. 3. Tập hợp tất cả các loại văn phòng phẩm cần thiết. 4. Sắp đặt sách vở và tập tài liệu, dán nhãn mọi thứ rõ ràng. 5. Vào lúc đầu mỗi buổi làm bài tập về nhà, hãy để con bạn lấy ra tập tài liệu chứa các bài tập đã hoàn thành, các bài tập chưa hoàn thành và các tư liệu cần được phân loại. Hãy để con quyết định về mỗi tư liệu và vị trí sắp xếp. Con cần hoàn thành quá trình này trước khi bắt đầu làm bài tập. 6. Khi bài tập về nhà đã hoàn tất, hãy nói con bạn để bài tập về nhà trong tập tài liệu phù hợp và phân loại tất cả những gì cần được lưu
trữ. Điều chỉnh/Thích nghi 1. Hãy để con tham gia thiết kế hệ thống tổ chức sắp xếp càng nhiều càng tốt. 2. Tái thiết kế các thành phần không hiệu quả. Hãy cho con tham gia giải quyết vấn đề. “Làm thế nào để việc này hiệu quả hơn với con?” và cách để tiếp cận vấn đề này. 3. Với những trẻ vốn không trật tự ngăn nắp, có thể sẽ mất một thời gian dài để quá trình này trở thành một thói quen. Hãy luôn ghi nhớ rằng việc giám sát trong suốt quãng đường dài này là một điều cần thiết. 32 33 15. HỌC CÁCH KIỂM SOÁT CẢM XÚC Kỹ năng thực hành cần có: Kiểm soát cảm xúc (Chương 13), Kiềm chế phản ứng (Chương 11), Linh hoạt (Chương 19). Độ tuổi: Mọi lứa tuổi. 1. Hãy cùng con lên danh sách các việc khiến con mất kiểm soát cảm xúc (những việc này được gọi là điểm thúc đẩy). Bạn có thể lên một danh sách dài tất cả những việc khác nhau khiến con nổi giận rồi xem liệu có thể nhóm chúng thành một tập hợp lớn không. 2. Nói chuyện với con về việc “mất bình tĩnh sẽ như thế nào”. Quyết định xem những việc gì sẽ được xếp vào danh sách ”việc không được làm”. Giữ cho danh sách đó ngắn gọn và chỉ xử lý một hoặc hai hành vi một lúc.
3. Giờ, hãy lên danh sách những việc con có thể làm thay vào đó (được gọi là hành vi thay thế). Đó nên là 3-4 việc khác nhau con có thể làm thay cho các hành vi “không được làm”. 4. Hãy viết vào Bảng Giai đoạn Khó khăn. 5. Hãy luyện tập cùng con. 6. Sau vài tuần luyện tập, bắt đầu áp dụng quá trình này, nhưng ban đầu chỉ cho những việc ít gây khó chịu. 7. Sau khi thành công với các việc ít gây khó chịu, hãy chuyển đến các việc thách thức hơn. 8. Kết nối quá trình này với một phần thưởng. Để đạt hiệu quả tốt nhất, hãy sử dụng 2 cấp độ phần thưởng: “một phần thưởng lớn” vì không phải sử dụng Bảng Giai đoạn Khó khăn, và “một phần thường nhỏ” vì đã sử dụng thành công chiến lược trên Bảng Giai đoạn Khó khăn. Luyện tập quy trình 1. Sử dụng các ví dụ trong đời thực. 2. Hãy làm cho những buổi luyện tập trở nên nhanh chóng và đơn giản. 3. Để con bạn luyện tập từng chiến lược được liệt kê trong Bảng Giai đoạn Khó khăn. 4. Thực hiện những buổi luyện tập ngắn hằng ngày hoặc một vài lần mỗi tuần trong vài tuần trước khi áp dụng vào thực tế. Điều chỉnh/Thích nghi 1. Lập mô hình cách sử dụng chiến lược. Tức là, bạn chỉ cho con biết con cần nói gì hoặc nghĩ gì khi con triển khai chiến lược đó.
2. Sẽ có những khoảng thời gian mặc dù áp dụng một quy trình, con bạn vẫn mất kiểm soát và không thể bình tĩnh hay sử dụng bất cứ chiến lược nào trên Bảng Giai đoạn Khó khăn. Trong trường hợp đó, hãy đưa trẻ ra khỏi tình huống đó. Hãy nói trước với con rằng bạn sẽ làm thế, để đứa trẻ biết những gì có thể xảy ra. Hãy nói, “Nếu con đấm đá hay la hét, chúng ta sẽ về nhà.” 3. Nếu con bạn thường xuyên không thể áp dụng những chiến lược này hiệu quả, có thể đã đến lúc xem xét đến việc tìm kiếm sự giúp đỡ của các chuyên gia (xem Chương 22). BẢNG GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN (Điểm thúc đẩy) Điều khiến con nổi điên: 1......................................... 2.......................................... 3.......................................... Việc không được làm: 1.......................................... 2.......................................... 3.......................................... Khi con rơi vào khoảng thời gian khó khăn, con có thể: 1.......................................... 2.......................................... 3.......................................... 16. HỌC CÁCH KIỂM SOÁT HÀNH VI BỐC ĐỒNG
Kỹ năng thực hành cần có: Kiềm chế phản ứng (Chương 11), Kiểm soát cảm xúc (Chương 13). Độ tuổi: Mọi lứa tuổi. 1. Hãy cùng con xác định điểm thúc đẩy những hành vi bốc đồng. 2. Cùng đồng thuận về một quy tắc trong các tình huống đó. Quy tắc đó nên tập trung vào những gì con có thể làm để kiểm soát sự xúc động. Lồng ghép các lựa chọn nếu có thể; nói cách khác, bạn và con nên nghĩ ra một vài việc khác nhau con có thể làm để thay cho hành vi bốc đồng không mong đợi. 3. Nói chuyện về việc bạn có thể ra dấu hiệu cho con khi con đang trên bờ vực “mất kiểm soát”, để con có thể lùi lại hoặc sử dụng một trong các chiến lược xử lý đã định trước. Việc này hiệu quả nhất khi dấu hiệu đưa ra là dấu hiệu tương đối trực quan để cảnh báo trẻ về tình huống có vấn đề. 4. Hãy luyện tập quy trình này. Biến nó trở thành trò chơi nhập vai kiểu “Mình hãy cùng giả vờ là con đang ở ngoài chơi với bạn và một bạn nói một câu gì đó khiến con nổi điên lên. Mẹ sẽ đóng vai bạn con và con thì cứ là con nhé.” Nếu điều này khó khăn với trẻ, bạn có thể đóng vai con để mô phỏng cách con nên giải quyết tình huống. 5. Cũng tương tự như các kỹ năng có liên quan đến điều chỉnh hành vi khác, hãy luyện tập hằng ngày hoặc vài lần một tuần trong một vài tuần. 6. Khi bạn và con sẵn sàng áp dụng quy trình này vào thực tế, hãy nhắc nhở con về nó ngay trước khi “điểm thúc đẩy” có khả năng xảy ra. 7. Nhìn nhận lại hiệu quả của quá trình. Bạn có thể xây dựng một thang điểm để bạn và con sử dụng và đánh giá hiệu quả của chúng. Điều chỉnh/Thích nghi
1. Nếu bạn nghĩ quá trình sẽ diễn ra nhanh hơn hay hiệu quả hơn nếu kết nối việc sử dụng thành công hành vi thay thế với một yếu tố củng cố, hãy làm thế. Bạn cũng có thể trao thêm điểm thưởng cho con nếu con có thể vượt qua một khoảng thời gian nhất định mà không mất điểm nào. 2. Nếu sự bốc đồng là một vấn đề trầm trọng của trẻ, hãy bắt đầu bằng cách chọn một thời điểm trong ngày hoặc hành vi bốc đồng làm mục tiêu để có khả năng thành công cao hơn. 3. Hãy nhớ khen ngợi con vì đã thể hiện khả năng tự kiểm soát. Dù bạn đang sử dụng phần thưởng hữu hình, thì những lời khen ngợi vẫn luôn có thể hữu ích cho yếu tố củng cố khác. TỰ KIỂM SOÁT BẢN THÂN Những việc con làm mà không suy nghĩ kỹ là: 1.................................... 2.................................... 3.................................... Các tình huống con thường cư xử mà không suy nghĩ kỹ là: 1.................................... 2.................................... 3.................................... Con sẽ làm gì để giữ kiểm soát: 1.................................... 2.................................... 3.................................... Ẳ Á ỂÁ
17. HỌC CÁCH KIỂM SOÁT CĂNG THẲNG Kỹ năng thực hành cần có: Kiểm soát cảm xúc (Chương 13), Linh hoạt (Chương 19). Độ tuổi: Mọi lứa tuổi. 1. Hãy cùng con lên danh sách những việc xảy ra khiến con thấy căng thẳng. 2. Nói chuyện với con bạn về dấu hiệu căng thẳng để con mau chóng nhận ra tình trạng đó. Dấu hiệu thường là cảm giác rất rõ ràng về mặt thể chất như thấy cồn cào ở bụng, tay chảy mồ hôi, tim đập mạnh. 3. Lên danh sách những việc con có thể làm (được gọi là hành vi thay thế), nên là 3-4 việc khác nhau để con bình tĩnh trở lại hoặc hướng sự chú ý khỏi việc lo lắng. 4. Viết những việc này lên Bảng Lo lắng. 5. Hãy luyện tập. 6. Sau vài tuần luyện tập, hãy áp dụng quá trình này vào thực tế nhưng ban đầu, chỉ sử dụng cho các mối lo lắng nhỏ. 7. Sau khi thành công với các lo lắng nhỏ, hãy chuyển sang các mối lo lắng lớn hơn. 8. Kết nối quá trình này với phần thưởng. Để đạt được hiệu quả tốt nhất, hãy sử dụng 2 cấp độ phần thưởng: “một phần thưởng lớn” vì không phải dùng đến Bảng Lo lắng, và “một phần thường nhỏ” vì đã sử dụng thành công chiến lược trên Bảng Lo lắng. Luyện tập quy trình 1. Sử dụng các ví dụ đa dạng và thực tế.
2. Hãy biến buổi luyện tập trở nên nhanh chóng và đơn giản, đồng thời luyện tập vài lần mỗi ngày. 3. Để con bạn luyện tập từng chiến lược được liệt kê trong Bảng Lo lắng. 4. Luyện tập ngắn hằng ngày hoặc vài lần một tuần trong vài tuần trước khi áp dụng vào thực tế. Điều chỉnh/Thích nghi 1. Các chiến lược kiểm soát sự căng thẳng bao gồm thở sâu và chậm, đếm đến 20, thư giãn, dừng suy nghĩ hoặc nói chuyện với nỗi lo, vẽ bức tranh về sự lo lắng, đóng gói nó lại và cất vào trong một cái hộp có nắp, nghe nhạc (và nhảy theo), thách thức sự lo lắng. 2. Giúp trẻ kiểm soát sự căng thẳng thường bao gồm một quy trình đôi khi được gọi là kỹ thuật giải mẫn cảm mà trong đó, mức độ căng thẳng trẻ lộ ra đủ thấp để với một chút hỗ trợ, trẻ có thể vượt qua nó. Ví dụ, nếu trẻ sợ chó, bạn có thể bắt đầu bằng cách yêu cầu con nhìn vào bức tranh một chú chó và mô hình hóa những gì con có thể nói với bản thân mình. Bước tiếp theo có thể là cho trẻ vào một ngôi nhà với con chó ở bên ngoài và nói về việc đó. Dần dần, mang con chó đến không được chuyển sang bước tiếp theo cho đến khi đứa trẻ cảm thấy thoải mái với bước hiện tại. Thành tố quan trọng trong việc thành thạo thông qua hướng dẫn là khoảng cách và thời gian cụ thể: Ban đầu, trẻ cách xa vật gây căng thẳng và thời gian tiếp xúc rất ngắn ngủi. Khoảng cách sau đó giảm dần và thời gian tăng dần. 3. Loại hình lo lắng và căng thẳng thường là (1) căng thẳng xa cách (không vui hoặc lo lắng khi bị cách xa một người yêu thương, thường là bố mẹ); (2) phải xử lý các tình huống mới lạ hoặc không quen thuộc lắm; và (3) các suy nghĩ ám ảnh (nghĩ về một điều tồi tệ nào đó sẽ xảy ra). Cách tiếp cận này có thể hiệu quả với ba trường hợp trên, mặc dù chiến lược xử lý cho mỗi trường hợp có thể khác nhau. Ả
BẢNG LO LẮNG Con lo lắng khi… 1....................................... 2....................................... 3....................................... Con căng thẳng khi… 1....................................... 2....................................... 3....................................... Khi cảm thấy lo lắng hay căng thẳng, con có thể… 1....................................... 2....................................... 3....................................... 18. HỌC CÁCH XỬ LÝ THAY ĐỔI TRONG KẾ HOẠCH Kỹ năng thực hành cần có: Kiểm soát cảm xúc (Chương 13), Linh hoạt (Chương 19). Độ tuổi: Mọi lứa tuổi. Giúp con chấp nhận sự thay đổi trong kế hoạch mà không tức giận hoặc căng thẳng cần nhiều nỗ lực và luyện tập. Bất cứ khi nào có thể, bạn cần cho trẻ biết kế hoạch của mình trước khi trẻ hình thành kế hoạch của riêng mình cho khoảng thời gian đó. Trong lúc đó, hãy bắt đầu thường xuyên giới thiệu một số sự thay đổi nhỏ tới trẻ, để
tăng dần khả năng chịu đựng trước những bất ngờ của trẻ theo thời gian. 1. Cùng con thiết lập lịch trình cho các hoạt động và nhiệm vụ. 2. Cố gắng không áp thời gian chính xác vào các hoạt động nếu không cần thiết. 3. Nói chuyện với con bạn về thực tế là, thay đổi hay “bất ngờ” luôn có thể xảy đến bất kể chúng ta đã lên kế hoạch và lịch trình trước thế nào chăng nữa. 4. Xây dựng một lịch trình trực quan, chẳng hạn như viết các hoạt động lên các tấm thẻ hoặc như nhà bếp hay phòng của con. Hãy làm một tấm thẻ Bất ngờ cho lịch trình và giải thích rằng khi sắp có một thay đổi, bạn sẽ đưa cho con tấm thẻ này, nói cho con biết thay đổi là gì, và dính chúng vào lịch trình. (Thậm chí khi một thay đổi đến làm tất cả mọi người bất ngờ, bạn có thể lấy tấm thẻ ra và vẫn làm theo quy trình như vậy). 5. Xem lại lịch trình với con vào tối hôm trước và/hoặc sáng hôm đó. 6. Bắt đầu đưa ra các thay đổi và cho con xem tấm thẻ Bất ngờ. Ban đầu, “bất ngờ” nên dễ chịu thôi, rồi dần tăng lên và sau đó bao gồm cả những thay đổi không mấy dễ chịu. Điều chỉnh/Thích nghi Nếu những cách trên vẫn không hiệu quả, chúng ta nên xem xét một vài cách khác. Khi có thể, hãy giới thiệu về sự thay đổi kỹ càng trước khi sự kiện diễn ra. Điều này cho phép trẻ có thời gian để thích nghi dần dần thay vì phải nhanh chóng thích nghi. Tùy thuộc vào phản ứng của trẻ trước những thay đổi không dễ chịu lắm (khóc lóc, chống cự, phàn nàn), hãy nói về các hành vi khác trẻ có thể áp dụng để thể hiện thái độ theo cách dễ chấp nhận hơn (chẳng hạn như điền vào Phiếu Phàn nàn). Bạn cũng có thể đưa ra phần thưởng vì con đã kiểm soát thay đổi thành công.
34 19. HỌC CÁCH KHÔNG GÀO KHÓC VÌ NHỮNG THỨ NHỎ NHẶT Kỹ năng thực hành cần có: Kiểm soát cảm xúc (Chương 13), Linh hoạt (Chương 19). Độ tuổi: Mọi lứa tuổi. Khi trẻ khóc lóc vì những việc nhỏ nhặt, thường là trẻ đang cố nói rằng chúng muốn sự đồng cảm, và chúng sử dụng phương thức này để đạt được điều đó bởi vì chúng nhận thấy nó hiệu quả trong quá khứ. Vì thế, mục tiêu của lần can thiệp này không phải là dạy trẻ trở thành những chiến binh dũng cảm hay gì đó tương tự, mà là giúp trẻ tìm ra những cách thức khác để đạt được điều chúng muốn thay vì khóc lóc. Quan trọng là khiến trẻ sử dụng ngôn từ thay vì nước mắt trong các tình huống mà việc khóc lóc không phải một phản hồi thích hợp. 1. Hãy cho con biết rằng khóc lóc quá nhiều sẽ khiến người khác không thích ở bên con nữa và rằng bạn muốn giúp con tìm ra cách thức khác để xử lý các cảm xúc khi buồn bực. 2. Giải thích rằng con cần sử dụng ngôn từ thay vì nước mắt khi buồn bực. 3. Hãy để con biết rằng việc con giải thích lý do khiến con cảm thấy như vậy sẽ có ích hơn là khóc lóc. 4. Khi trẻ có thể sử dụng ngôn từ, hãy hồi đáp bằng cách thể hiện sự đồng cảm với cảm xúc của con. 5. Hãy để cho con biết điều gì sẽ xảy ra khi một tình huống gây buồn bực sắp đến. Việc này bao gồm cả việc cho con biết kịch bản XỬ LÝ TÌNH HUỐNG. Có thể bạn sẽ nói rằng, “Khi con cảm thấy muốn khóc, con có thể sử dụng các từ như 'Con giận', 'Con buồn', 'Con cần được giúp đỡ', hoặc 'Con cần nghỉ ngơi'. Khi con sử dụng những từ này, mẹ sẽ lắng nghe và cố gắng hiểu cảm xúc của con.
Còn nếu con bắt đầu khóc thì con chỉ có một mình thôi đấy. Mẹ sẽ rời khỏi phòng, hoặc yêu cầu con đi vào phòng mình để khóc cho hết.” Lúc đầu, bạn sẽ cần thỉnh thoảng nhắc nhở con để chuẩn bị cho con làm theo kịch bản khi một tình huống gây buồn bực xảy ra. Ngay khi con bắt đầu khóc, hãy đảm bảo con không thu hút được sự chú ý của bất cứ ai nhờ việc khóc lóc. Mất đi sự chú ý nhờ khóc lóc, hành động này của con sẽ dần tự giảm bớt (mặc dù nó có thể sẽ tồi tệ hơn trước khi nó trở nên khá hơn). 6. Mục tiêu ở đây không phải là triệt tiêu mọi loại hình khóc lóc (bởi vì có những lý do thực sự khiến trẻ khóc). Một quy tắc để đánh giá khi nào là phù hợp cho trẻ để khóc là nghĩ đến những trẻ cùng độ tuổi trung bình với con bạn. Liệu khóc lóc có phải phản ứng tự nhiên trước tình huống này không? Việc khóc lóc là phù hợp, chẳng hạn như khi trẻ phải đối mặt với những nỗi đau thể chất hoặc khi một việc không may mắn xảy đến với trẻ hay với người trẻ yêu thương và gần gũi. Điều chỉnh/Thích nghi Nếu nước mắt tiếp tục cố thủ, bạn có thể lồng ghép các yếu tố củng cố vào để giúp con học cách sử dụng ngôn từ thay vì nước mắt. Tùy thuộc vào độ tuổi của con, bạn có thể cho con miếng dán hình hoặc điểm thưởng vì đã sử dụng ngôn từ thay vì nước mắt hoặc vì đã vượt qua một khoảng thời gian nhất định mà không khóc lóc. Để xác định thời gian bao lâu là đủ dài, có lẽ bạn cần lựa chọn một điểm cơ bản để biết trẻ thường xuyên khóc như thế nào. Một bảng theo dõi để giúp bạn biết việc khóc lóc thường xuyên xảy ra ra sao, mất bao lâu thì kết thúc, và thường bởi sự kiện nào. 35 20. HỌC CÁCH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Kỹ năng thực hành cần có: Nhận thức tổng quan (Chương 21), Linh hoạt (Chương 19). ổ
Độ tuổi: 7-14 tuổi, mặc dù khả năng nhận thức tổng quan ở mức cao cấp nhất là một trong những kỹ năng phát triển muộn nhất, bạn vẫn có thể thực hiện việc giải quyết vấn đề với trẻ nhỏ. 1. Nói chuyện với con về vấn đề hiện có. Việc này thường bao gồm 3 bước: (1) đồng cảm với trẻ hoặc cho trẻ biết là bạn hiểu con đang cảm thấy như thế nào; (2) cảm nhận xem vấn đề ở đây là gì; và (3) thu hẹp khái niệm vấn đề để con có thể bắt đầu suy nghĩ giải pháp. 2. Hãy suy nghĩ về các giải pháp. Cùng với con bạn, hãy nghĩ đến nhiều nhất có thể những thứ khác nhau có thể giải quyết vấn đề này. Bạn nên đặt ra một khoảng thời gian nhất định để đẩy nhanh tiến độ hoặc khiến con ít cảm thấy giống với một bài tập mở hơn. Viết ra tất cả những giải pháp khả thi. Đừng phê phán những giải pháp ở thời điểm này bởi điều đó dễ vùi dập quá trình suy nghĩ sáng tạo. 3. Hãy yêu cầu con nhìn vào tất cả các giải pháp và lựa chọn một giải pháp mà con thích nhất. Bạn nên bắt đầu bằng cách để con khoanh tròn 3-5 lựa chọn con thích nhất và rồi thu hẹp lựa chọn dần xuống bằng cách nói về các ưu nhược điểm của từng lựa chọn đó. 4. Hãy hỏi xem con có cần sự hỗ trợ trong việc triển khai lựa chọn ấy không. 5. Hãy nói về những gì sẽ xảy ra nếu lựa chọn đầu tiên không hiệu quả. Điều này có thể bao gồm cả việc lựa chọn một giải pháp khác hoặc phân tích xem lựa chọn đầu tiên gặp vấn đề ở đâu và sửa chữa nó. 6. Khen ngợi con vì đã nghĩ ra một giải pháp hay (và rồi tiếp tục khen ngợi sau khi giải pháp đó được triển khai). Điều chỉnh/Thích nghi Đây là một cách tiếp cận tiêu chuẩn trong việc giải quyết vấn đề mà có thể sử dụng với mọi loại vấn đề, bao gồm cả các vấn đề giữa người với người cũng như các trở ngại đang ngăn chặn trẻ đạt
được điều mình muốn. Đôi khi, lựa chọn tốt nhất là tìm ra các cách thức để vượt qua mọi chướng ngại, trong khi có những lúc, lựa chọn tốt nhất lại là giúp cho con hiểu một thực tế rằng con không thể có những gì con muốn. Đôi khi quá trình giải quyết vấn đề lại dẫn đến việc “thương lượng”, khi bạn và con cùng đồng ý sẽ làm gì để đạt tới một giải pháp thỏa mãn đôi bên. Sau khi bạn cùng con áp dụng quá trình này (và cả bảng sau đây) cho rất nhiều loại vấn đề khác nhau, con có thể sẽ tự sử dụng độc lập. Bởi vì mục tiêu của bạn là khích lệ khả năng giải quyết vấn đề của con, bạn nên yêu cầu con tự điền vào Bảng Giải quyết Vấn đề trước khi tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn (nếu con thực sự cần). Cuối cùng, con sẽ nằm lòng cả quá trình và chắp cánh cho khả năng giải quyết vấn đề. BẢNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Vấn đề của con là gì? Đâu là những việc khả thi con có thể làm để giải quyết vấn đề này? Con sẽ thử việc nào trước? Nếu việc đó không hiệu quả, con có thể làm gì? Mọi thứ diễn ra thế nào? Giải pháp của con có phát huy tác dụng không? Con có thể làm khác đi thế nào trong lần tiếp theo?
Chương 11Xây dựng khả năng kiềm chế phản ứng Kiềm chế phản ứng là khả năng suy nghĩ trước khi hành động để chống lại cơn bốc đồng nói hay làm một điều gì đó trước khi kịp đánh giá tình huống. Hầu hết chúng ta đều đã học dần dần trên con đường dài tiến tới sự trưởng thành, thường là qua những trải nghiệm đau đớn về việc không suy nghĩ trước khi hành động. Một vài người trong chúng ta tưởng như đã luyện tập kỹ năng thực hành này rất tốt cho đến khi rơi vào tình huống gây xúc động mạnh. Trong thời đại mà việc giao tiếp được trao đổi trong chớp mắt như hiện nay, những bức thư điện tử đầy tức giận mà người gửi ngay lập tức hối hận – hoặc hối hận ngay sau khi nhận được một phản hồi giận dữ tương tự – là sản phẩm thường thấy của việc kiềm chế phản ứng kém. Để giúp con vượt qua được sự thiếu hụt về khả năng kiềm chế phản ứng trong khi bạn cũng có điểm yếu tương tự, hãy xem các gợi ý ở Chương 3. Khả năng kiềm chế phản ứng phát triển như thế nào? Như đã nói, khả năng kiềm chế phản ứng hiển lộ ngay từ thời ẵm ngửa. Trong hình thái sơ đẳng nhất, khả năng kiềm chế cho phép đứa trẻ sơ sinh “lựa chọn” phản ứng hay không phản ứng với bất cứ thứ gì trước mặt trẻ. Trước khi khả năng này xuất hiện, đứa trẻ hầu như dựa dẫm vào sự khoan dung của môi trường. Nếu một thứ gì đó xuất hiện trong khả năng nhìn thấy được của trẻ, chúng sẽ nhìn chằm chằm vào nó, ít nhất cũng nhìn đủ lâu để cảm nhận được một điều gì đó. Còn với kỹ năng kiềm chế phản ứng, trẻ sẽ có khả năng bỏ qua hoặc không bị ngăn chặn bởi nhứng thứ làm gián đoạn nếu chúng đang nỗ lực làm một điều gì đó. Một khi khả năng ngôn ngữ được phát triển, khả năng kiềm chế cũng phát triển hơn bởi trẻ có
thể nằm lòng các quy tắc mà người khác đưa ra (Chẳng hạn như “Đừng sờ vào cái nồi nóng”). Một nghiên cứu nổi tiếng đã chỉ ra rằng, trẻ nhỏ rất khác nhau trong khả năng kiềm chế phản ứng khi còn nhỏ và sự khác nhau đó là thước đo để dự đoán mức độ thành công của trẻ khi trưởng thành. Những đứa trẻ 3 tuổi được để lại một mình trong phòng với một viên kẹo dẻo cùng 2 lựa chọn hoặc là ăn nó, hoặc là chờ đến khi người lớn quay lại và được 2 viên kẹo dẻo. Các nhà nghiên cứu quan sát một vài trẻ trong số đó kiểm soát nỗi khát khao ăn kẹo của chúng bằng cách nói chuyện với bản thân, tránh nhìn vào viên kẹo, hoặc tìm các cách khác để dịch chuyển sự chú ý của chúng khỏi viên kẹo. Khi nhà nghiên cứu tìm kiếm lại nhiều năm sau đó, họ nhận ra rằng những đứa trẻ có khả năng kiềm chế phản ứng tốt hồi 3 tuổi đạt được điểm số tốt hơn trong học bạ, ít dính vào rắc rối pháp luật hơn, và thành công hơn trong nhiều khía cạnh khác nữa. Trong khi trẻ nhỏ thông thạo sử dụng hầu hết các kỹ năng thực hành theo thời gian và độ tuổi, sự phát triển của kỹ năng kiềm chế phản ứng có thể không theo chiều hướng ổn định đó. Kiềm chế phản ứng có vẻ nhạy cảm hơn với sự gián đoạn trong thời niên thiếu. Các nghiên cứu thần kinh học về cách bộ não thay đổi trong suốt những năm tháng tuổi thiếu niên đã phát hiện ra rằng có một sự “đứt kết nối” giữa khu vực tâm dưới của bộ não, nơi cảm xúc và sự bốc đồng phát triển, và vùng vỏ não trước trán, nơi các quyết định lý tính được thực hiện. Chỉ rất chậm thôi, trong suốt thời niên thiếu, và thậm chí cho đến giai đoạn trưởng thành, những sự kết nối mới ngày càng trở nên mạnh mẽ và nhanh chóng hơn, cho phép người trẻ kiểm soát cảm xúc hợp lý. Cho đến khi những kết nối này thực sự ổn định, người trẻ dễ đưa ra quyết định vội vàng và “cảm tính”. Khả năng kiểm soát bốc đồng của con có thể phù hợp với sự phát triển như thế nào? Thang điểm đánh giá trong bảng khảo sát dưới đây có thể giúp bạn trả lời câu hỏi trên, xác nhận hoặc phủ nhận đánh giá sơ bộ từ Chương 2 bằng cách trao cho bạn cơ hội quan
sát sâu hơn vào khả năng sử dụng kỹ năng này thường xuyên của trẻ. CON KIỀM CHẾ PHẢN ỨNG TỐT ĐẾN ĐÂU? Hãy sử dụng thang điểm dưới đây để đánh giá xem con thực hiện từng nhiệm vụ được liệt kê tốt như thế nào. Ở mỗi cấp độ, trẻ được mong đợi sẽ thực hiện tất cả nhiệm vụ được liệt kê tương đối tốt cho đến rất tốt. Thang điểm đánh giá 0 – Không bao giờ hoặc hiếm khi 1 – Có nhưng không tốt (khoảng 25% thời gian) 2 – Khá tốt (khoảng 75% thời gian) 3 – Rất tốt (luôn luôn hoặc hầu như luôn luôn) Mầm non/Mẫu giáo - Cư xử phù hợp trong các tình huống nguy hiểm rõ ràng - Có thể chia sẻ đồ chơi mà không giành giật - Có thể chờ trong một thời gian ngắn khi được người lớn yêu cầu Tiểu học bé (Lớp 1 – 3) - Có thể tuân thủ các quy định đơn giản trong lớp như giơ tay trước khi phát biểu - Có thể ở gần trẻ khác mà không động chân động tay - Có thể chờ cho bố mẹ nói chuyện điện thoại xong mới kể cho bố mẹ chuyện gì đó Tiểu học lớn (Lớp 4 – 5)
- Xử lý mâu thuẫn với bạn đồng trang lứa mà không đánh nhau (có thể mất bình tĩnh) - Tuân thủ các quy định tại nhà và tại trường, kể cả khi không có người lớn - Có thể bình tĩnh trong một tình huống cảm tính khi được người lớn khuyên nhủ Trung học cơ sở (Lớp 6 – 8) - Có thể bỏ đi khỏi sự đối đầu hoặc trêu chọc của bạn cùng trang lứa - Có thể nói “không” với một hoạt động yêu thích nếu đã có kế hoạch khác - Kiềm chế việc nói những lời gây tổn thương khi ở cùng một nhóm bạn Nếu con đạt điểm 2 hoặc cao hơn trong mỗi khả năng ở độ tuổi của con, bạn có thể nói rằng con không tụt hậu đáng kể trong khả năng kiềm chế phản ứng, nhưng sẽ có lợi nếu điều chỉnh một chút. Nếu con toàn điểm 0 hoặc 1, bạn cần phải trực tiếp dạy trẻ kỹ năng này. Xây dựng khả năng kiềm chế phản ứng trong các tình huống hằng ngày • Hãy luôn nhớ, trẻ nhỏ nhất có rất ít khả năng kiểm soát sự bốc đồng. Chúng ta thường tập trung vào yếu tố thông minh, rất dễ quên rằng trí tuệ tự nhiên không chuyển đổi thành kỹ năng kiềm chế phản ứng khi trẻ mới 4, 5 hoặc 6 tuổi. Mặc dù kỹ năng kiềm chế phản ứng đã bắt đầu phát triển vào thời kỳ sơ sinh, nhưng trẻ mẫu giáo và trẻ ở đầu tiểu học có rất nhiều động lực cạnh tranh lẫn nhau, từ khát khao có một cái kem ốc quế bốn viên thay vì chỉ một, đến khát khao ngủ muộn vì cậu bé chưa cảm thấy mệt mỏi chút nào, hoặc lao tới bãi gửi xe để gặp bạn thân khi bãi gửi xe đang ngập tràn xe hơi đang chuẩn bị ra khỏi bãi. Bất kể đó là việc xóa bỏ các cám dỗ như
việc kiểm soát đồ ăn vặt, thiết lập thói quen như đi ngủ đúng giờ thường xuyên, đặt ra các quy tắc hành vi, hay giám sát chặt chẽ trong các tình huống mà sự bốc đồng có thể đưa trẻ đến với rắc rối, thiết lập giới hạn giúp những đứa trẻ nhỏ nhất kiểm soát sự bốc đồng, và từ đó khuyến khích việc kiềm chế phản ứng. • Hãy giúp trẻ học cách trì hoãn cơn bốc đồng bằng cách sử dụng những khoảng thời gian chờ cho thứ trẻ muốn làm hoặc muốn có. Học cách chờ đợi một điều gì đó là nền tảng cho những kỹ năng thực hành tinh tế hơn chúng ta muốn trẻ phát triển theo thời gian. Nếu con bạn gặp vấn đề trong khả năng đợi chờ, hãy đặt một chuông báo trong bếp và cho con biết khi chuông reo, con sẽ được làm hay có được thứ con mong muốn. Hãy làm khoảng thời gian đợi chờ đó lúc đầu thật ngắn và dần dần gia tăng thời gian trì hoãn. • Yêu cầu trẻ đạt được một điều gì đó là một cách để dạy chúng trì hoãn sự hài lòng và kiềm chế bốc đồng. Nếu việc này khó khăn với trẻ, hãy cho chúng một phương tiện trực quan để đánh dấu quá trình của chúng, chẳng hạn như một đồ thị hay biểu đồ. • Giúp trẻ hiểu hậu quả của khả năng kiểm soát bốc đồng kém. Trong một số trường hợp hậu quả là những sự việc xảy ra một cách tự nhiên (nếu con bạn tiếp tục đánh bạn, bạn sẽ sớm không chơi với con nữa), trong khi trong một số trường hợp khác, bạn sẽ cần đưa ra hậu quả (“Nếu con không thể chia sẻ trò Xbox với anh trai, mẹ sẽ tịch thu đấy.”) • Chuẩn bị cho con bạn trước những tình huống đòi hỏi phải kiểm soát sự bốc đồng bằng cách xem xét chúng với con trước. Hãy hỏi “Quy định của trò chơi này là gì?” hay “Con sẽ làm gì nếu có một hàng dài những bạn trẻ muốn chơi trò ống trượt nước lớn nhất ở công viên nước?” • Luyện tập khả năng kiềm chế phản ứng trong các tình huống chơi nhập vai. Trẻ em, cũng như người lớn, có thể gặp vấn đề trong việc kiểm soát bốc đồng nhiều hơn bình thường khi rơi vào các tình huống xúc động mạnh hoặc kích thích quá lớn. Hãy đưa ra những trường hợp tiến thoái lưỡng nan có thể lường trước và đóng vai một
người có thể thách thức khả năng suy nghĩ trước khi nói hay hành động của trẻ. • Nhắc con trước khi con bước vào một tình huống khơi gợi một hành vi cụ thể mà bạn đang nhắm đến và rồi thưởng cho con vì đã biểu lộ khả năng tự kiểm soát. Cứ cho là bạn đã rất nỗ lực trong việc giúp con bạn tránh việc đánh nhau khi cậu bé ra ngoài chơi đùa với hàng xóm. Trước khi con bạn ra ngoài chơi, hãy hỏi con, “Hành vi nào chúng ta đang cố cải thiện nhỉ?” và rồi quan sát xem mọi thứ xảy ra thế nào để bạn có thể trao cho con một phần thưởng rất nhanh chóng sau khi con bạn chứng tỏ rằng cậu bé đang luyện tập khả năng tự kiểm soát. Việc bạn có mặt ở đó (hoặc ít nhất từ khoảng cách gần) rất quan trọng để bạn có thể quan sát hành vi trực tiếp thay vì dựa theo báo cáo của trẻ. • Xem Nhiệm vụ 16 trong Chương 10 về thứ tự chỉ dạy chung để giúp trẻ học cách kiểm soát hành vi bốc đồng. Kêu gọi đình chiến: Khuyến khích không đánh nhau với anh chị em Evan là một cậu bé 13 tuổi và học lớp 7. Cậu nhanh nhẹn và hài hước, nhưng những bình luận châm biếm và đôi khi không phù hợp cũng nhiều lần khiến cậu gặp rắc rối. Evan có 2 em trai, 10 tuổi và 7 tuổi. Cậu và các em luôn mâu thuẫn, nhưng mọi việc có vẻ ngày càng nghiêm trọng suốt năm vừa rồi, từ khi Evan bước vào trường cấp 2. Như rất nhiều anh trai ở độ tuổi của cậu, Evan thấy các em rất phiền toái. Chỉ riêng việc chúng cứ ở bên cậu nhiều khi đã gây khó chịu rồi, nhưng cậu cảm thấy chúng làm trầm trọng hơn việc ấy với những bình luận “ngu xuẩn” và với việc tranh giành đòi xem TV và chơi game cũng như gây sự chú ý trong bữa ăn tối. Evan cảm thấy độ tuổi có đặc quyền riêng của nó, và cậu không thích nói chuyện với các em trai trừ khi bắt buộc phải nói. Các em trai của cậu rõ ràng không nhìn sự việc theo cách ấy. Mẹ cậu bé biết là đôi khi, các em trai của cậu chỉ muốn gây sự chú ý với cậu và với tư cách là anh trai cả, Evan nên trưởng thành hơn và chấp nhận những bình luận cũng như các hành vi của các em mình tốt hơn.
Evan không chỉ không làm được thế, mà cậu còn phản ứng nhanh chóng trước bất cứ bình luận nào của các em trai, gào thét và đôi khi còn đe dọa chúng. Việc này đã lên đến đỉnh điểm đến mức mỗi khi Evan với một trong hai em trai, hoặc cả hai cùng ở nhà, chúng cuối cùng đều đánh nhau. Mẹ cậu bé hoặc sẽ trở thành người trọng tài hoặc sẽ kỷ luật Evan vì cậu đã phản ứng thái quá. Chị đã chịu đựng đủ rồi. Tuy chị hiểu rằng tất cả bọn trẻ đều phải nhận trách nhiệm của mình, nhưng chị cảm thấy rằng nếu Evan bớt phản ứng mạnh mẽ một chút, chị có thể quản lý các em trai của cậu tốt hơn. Mẹ cậu bé liền đến nói chuyện với Evan về tình huống đó và cố gắng đưa ra một kế hoạch. Evan thừa nhận là không phải lúc nào cậu cũng thích đánh nhau, nhưng cậu không biết làm thế nào để kiềm chế bản thân. Cậu cảm thấy cậu xứng đáng có không gian riêng tư và tin rằng cậu có thể kiểm soát bản thân tốt hơn nếu không phải ở bên các em quá nhiều như vậy. Cùng lúc đó, cậu nghe những gì mẹ nói và sẵn sàng bỏ thêm (một chút) thời gian với các em miễn là nó trong sự kiểm soát. Evan và mẹ cậu bé đồng ý rằng phòng cậu sẽ là không gian riêng của cậu, và các em trai sẽ không được vào nếu không được cậu đồng ý. Ban đầu, cậu bé đồng ý rằng làm việc gì đó với các em khoảng 20 phút mỗi ngày trong tuần và khoảng 30 phút vào cuối tuần. Việc này không bao gồm thời gian sinh hoạt chung của cả gia đình. Evan cảm thấy – và mẹ cậu bé đồng ý – là các trận đánh nhau ít xảy ra nếu như thời gian được lên kế hoạch, nên họ cùng lập ra một danh sách các trò chơi ưa thích và các hoạt động khác của các em trai mà chúng có thể lựa chọn để chơi với Evan. Cậu bé sẵn sàng chơi bất cứ trò nào các em chọn và nói rằng cậu sẽ cố gắng không tranh luận về quy tắc hoặc sửa sai các em bởi vì đó là thời gian của chúng. Evan được quyền nói khi nào cậu rảnh bằng cách đặt một tấm biển trước cửa phòng có chữ Rảnh ở một mặt và Không rảnh ở mặt còn lại. Phản ứng nhanh chóng của Evan thì hơi khó hơn trong việc xử lý. Đầu tiên, mẹ cậu đồng ý rằng nếu chị nghe thấy một trong các em
nói câu gì đó mang tính khiêu khích, chị sẽ trừng phạt con. Tuy nhiên, chị sẽ không chấp nhận lời mách lẻo từ phía Evan hay các anh em khác. Trên hết, chị tin là Evan sẽ cần được nhắc nhở và một vài sự khích lệ để giúp cậu kiểm soát hành vi này. Cậu đã luôn muốn có điện thoại di động, và mặc dù mẹ cậu đã định mua cho cậu, chị chưa từng hành động hay hứa hẹn gì về điều này. Chị đề nghị là với mỗi 2 tiếng cậu chơi mà không cãi cọ hay đánh nhau với các em, chị sẽ cho cậu 1 điểm thưởng. Chị nhận ra là, mỗi ngày cậu bé có thể kiếm được 2 – 3 điểm thưởng và nhiều hơn nữa trong cuối tuần. Mẹ nói với Evan rằng chị sẽ nhắc nhở cậu bé về thỏa thuận này mỗi ngày. Nếu giữa chừng trong 2 giờ đó, cậu cãi nhau với các em trai, chị sẽ đặt lại đồng hồ tính giờ. Ngay khi Evan đạt được 100 điểm thưởng, chị sẽ mua điện thoại, và rồi cậu sẽ kiếm được nhiều phút gọi điện với điểm thưởng của cậu. Mặc dù hệ thống này đòi hỏi thời gian giám sát tương đối của mẹ, nó là một cái giá quá rẻ để triệt tiêu nguyên nhân của các trận đánh và cãi nhau. Ở nhà, Evan học thói quen bỏ qua các bình luận của em trai, và cậu bé đôi khi thực sự thích thú khi chơi với các em. Mẹ cậu rất vui bởi chị nhìn thấy các cuộc cãi vã và đánh nhau giảm bớt. BƯỚC 1: THIẾT LẬP MỤC TIÊU VỀ HÀNH VI Kỹ năng thực hành mục tiêu: Kiềm chế phản ứng Mục đích hành vi cụ thể: Chế ngự phản ứng và đe dọa trước bình luận của các em BƯỚC 2: THIẾT KẾ CAN THIỆP Những hỗ trợ xung quanh nào sẽ được đưa ra để giúp đạt được mục tiêu? • Không gian và thời gian riêng tư • Mẹ sẽ là trọng tài trước những bình luận của em trai về Evan
• Các hoạt động cụ thể và thời hạn tương tác với các em Kỹ năng cụ thể nào sẽ được dạy, ai sẽ dạy, và quy trình dạy như thế nào? Kỹ năng: Kiềm chế phản ứng (khi chơi với em và kiểm soát phản ứng trước bình luận của các em) Ai sẽ dạy kỹ năng? Mẹ cậu bé Quy trình: • Evan chỉ định khi nào cậu có thể chơi với các em • Cậu đồng ý với các hoạt động vui chơi và thời lượng vui chơi với các em • Mẹ là người duy trì ranh giới và xử lý những bình luận không chấp nhận được (từ các em) • Mẹ gợi ý cho Evan mỗi ngày về việc kiềm chế phản ứng trước các em • Evan rời khỏi tình huống và đi về phòng nếu cảm thấy ức chế Động lực nào được dùng để khích lệ trẻ sử dụng/thực hành các kỹ năng? • Evan được đảm bảo có thời gian và không gian riêng • Evan được thưởng một chiếc điện thoại và tiếp tục kiếm được thời gian sử dụng CHÌA KHÓA THÀNH CÔNG • Sự nhất quán là cực kỳ quan trọng ngay từ thời điểm ban đầu. Evan cần phải thấy là mẹ cậu bé đang nỗ lực để kỷ luật các em khi chúng nói hay làm điều gì đó gây phiền toái cho cậu bé. Nếu không như vậy, cậu sẽ thấy hệ thống này bất công và lại phản ứng như cũ.
Nếu bạn không nhanh chóng xử lý các hành vi của đứa em trong tình huống như vậy, cho rằng các bình luận của chúng là “vô hại” và mong đợi anh trai sẽ bỏ qua chúng, kế hoạch sẽ sụp đổ. • Dự đoán một số trận đánh nhau sẽ tiếp diễn bởi vì bạn sẽ không nhìn thấy tất cả mọi thứ giữa các anh em. Mẹ Evan từ chối chấp nhận các báo cáo về hành vi chị không chứng kiến là có lý. Nhưng điều đó cho thấy sẽ có những hành vi chị không chứng kiến. Nếu điều đó trở thành vấn đề, bạn có thể cần phải đặt ra một quy định là nếu xảy ra cãi vã, các các bé phải quay trở về phòng mình và ở đó ít nhất 15 phút. • Nếu kế hoạch không hiệu quả, có thể bạn đã để cho lũ trẻ chơi với nhau quá lâu. Hai mươi phút ban đầu có vẻ là quá dài để Evan chơi với các em, trong trường hợp đó, một buổi chơi ngắn hơn sẽ tạo dựng được thành công theo thời gian. • Theo dõi thường xuyên là rất quan trọng khi bạn đồng ý trao thưởng cho đứa trẻ vì một hành vi bạn mong muốn. Trao thưởng cho Evan vì đã không tranh luận/đánh nhau chỉ có hiệu quả bởi mẹ cậu bé đã thực sự chú tâm để hoàn thành lời hứa của mình là cho cậu điểm thưởng và rồi mua cho cậu khi cậu đạt được 100 điểm thưởng.
Chương 12Nâng cao bộ nhớ làm việc Bộ nhớ làm việc là khả năng lưu giữ thông tin trong đầu khi thực hiện các nhiệm vụ phức tạp. Chúng ta luôn phải phụ thuộc vào bộ nhớ làm việc. Tuy nhiên, khả năng xấu là bộ nhớ làm việc của bạn không tốt lắm, nếu bạn không nhớ được ngày sinh nhật của ai, và bạn có thể phải quay trở về nhà mà chưa hoàn tất việc mua sắm trừ khi bạn viết ra danh sách rõ ràng, và bạn sẽ làm bất cứ thứ gì để tránh phải giới thiệu ai đó tại bữa tiệc bởi vì bạn chẳng nhớ nổi tên ai cả. Trong trường hợp đó, hãy chắc chắn là bạn sẽ sử dụng những mẹo trong Chương 3 để giúp bạn tăng cường bộ nhớ làm việc của con bạn kể cả khi bạn cũng có cùng điểm yếu đó. Cách bộ nhớ làm việc phát triển Bộ nhớ làm việc bắt đầu phát triển tương đối sớm ở trẻ sơ sinh. Khi bạn đang chơi với một trẻ sơ sinh và bạn giấu một món đồ ưa thích của bé dưới chăn, bé sẽ sử dụng trí nhớ làm việc nếu lật tấm chăn lên tìm kiếm đồ chơi. Trẻ nhỏ phát triển bộ nhớ làm việc không lời trước khi chúng phát triển bộ nhớ làm việc bằng lời bởi vì kỹ năng này bắt đầu hiển lộ trước khi ngôn ngữ xuất hiện. Tuy nhiên, khi trẻ phát triển ngôn ngữ, kỹ năng ghi nhớ của chúng được mở rộng, bởi vì giờ chúng đã có thể dựa vào các hình ảnh trực quan và ngôn ngữ để tìm kiếm lại thông tin. Chúng ta có xu hướng giới hạn kỳ vọng về bộ nhớ làm việc ở các trẻ rất nhỏ. Trước tuổi lên 3, chúng ta chỉ mong đợi trẻ ghi nhớ chỉ một vài thứ trong phạm vi gần – hoặc về thời gian, hoặc về không gian. Nếu chúng ta muốn trẻ làm một việc gì đó, chúng ta không nói, “Con có thể cất đồ chơi của con đi sau khi con xem hoạt hình xong không?” (trừ khi chúng ta cũng muốn gợi ý là hết thời gian xem hoạt
hình rồi). Và trong khi chúng ta có thể yêu cầu trẻ cất tất cả đồ chơi vào hộp khi chúng ta đang ở đó với trẻ, chúng ta thường không chỉ dẫn trẻ đi tới phòng ngủ của mình và tự làm nhiệm vụ tương tự. Dần dần, chúng ta có thể kéo giãn cả thời gian và khoảng cách của những thứ ta mong đợi trẻ ghi nhớ. Trong bảng khảo sát dưới đây, bạn có thể đánh giá vị trí của trẻ trong bậc thang phát triển, dựa vào các loại hình nhiệm vụ trẻ có khả năng tiến hành độc lập trong mỗi giai đoạn khác nhau thời thơ ấu. TRÍ NHỚ LÀM VIỆC CỦA CON TỐT ĐẾN ĐÂU? Hãy sử dụng thang điểm đánh giá dưới đây để đánh giá xem con thực hiện từng nhiệm vụ được liệt kê tốt như thế nào. Ở mỗi cấp độ, trẻ em được mong đợi sẽ thực hiện tất cả nhiệm vụ được liệt kê tương đối tốt cho đến rất tốt. Thang điểm đánh giá 0 – Không bao giờ hoặc hiếm khi 1 – Có nhưng không tốt (khoảng 25% thời gian) 2 – Khá tốt (khoảng 75% thời gian) 3 – Rất tốt (luôn luôn hoặc hầu như luôn luôn) Mầm non/Mẫu giáo - Chạy các việc vặt đơn giản như lấy giày khi được yêu cầu) - Ghi nhớ các chỉ dẫn vừa được nói ra - Tuân thủ một công việc hằng ngày với một gợi ý mỗi bước như đánh răng sau bữa sáng Tiểu học bé (Lớp 1 – 3) - Có khả năng chạy các việc vặt gồm 2-3 bước
- Ghi nhớ những chỉ dẫn được nói ra cách đó vài phút - Tuân thủ 2 bước của một công việc hằng ngày chỉ với một gợi ý Tiểu học lớn (Lớp 4 – 5) - Nhớ thực hiện một việc nhà sau khi từ trường về mà không cần nhắc nhở - Mang sách vở, bài tập tới trường và về nhà - Theo dõi và ghi nhớ các thay đổi trong lịch trình hằng ngày Trung học cơ sở (Lớp 6 – 8) - Có khả năng theo dõi các bài tập và kỳ vọng tại lớp của nhiều giáo viên khác nhau - Ghi nhớ các sự kiện hay trách nhiệm khác với thông thường - Ghi nhớ các hướng dẫn nhiều bước, miễn là có đủ thời gian hoặc luyện tập đủ Xây dựng bộ nhớ làm việc trong các tình huống hằng ngày • Nhìn vào mắt con trước khi bạn nói cho con nghe điều mà bạn muốn con nhớ. • Giữ các việc gây xao lãng ở trẻ ở mức tối thiểu nếu bạn muốn con hoàn toàn tập trung. • Yêu cầu con nhắc lại những gì bạn vừa nói để biết rằng con đã nghe thấy. • Sử dụng giấy nhắc (lịch trình bằng tranh, danh sách và lịch trình tùy thuộc vào độ tuổi của con). Nhắc nhở trẻ hãy “kiểm tra lịch trình của con” hoặc “nhìn vào danh sách của con kìa” trong từng bước.
• Luyện tập với con những gì bạn mong con nhớ ngay trước khi tình huống xảy ra. • Giúp con nghĩ đến các cách khác nhau để ghi nhớ một việc quan trọng mà con cho rằng có thể hiệu quả với mình. • Với trẻ học cấp 2, sử dụng điện thoại di động, tin nhắn hoặc các ứng dụng giao tiếp để nhắc nhở con những việc quan trọng cần làm. • Xem xét sử dụng phần thưởng vì con đã ghi nhớ các thông tin chính yếu hoặc áp dụng một hình phạt vì con đã quên. Phần thưởng và hình phạt sẽ hữu ích khi bộ nhớ làm việc của con bạn chỉ hơi kém phát triển một chút. Vận động viên lơ đãng: Dạy con chú ý dụng cụ thể thao cá nhân Đã 7h30 sáng thứ Hai, và Jake, cậu bé 14 tuổi lớp 8, đang ngồi chơi trước màn hình máy tính. Bởi vì cậu đã mặc quần áo, ăn sáng, và nói đồ dùng của mình (cặp sách và túi bóng đá) đã sẵn sàng, bố cậu cho phép cậu ngồi chơi máy tính cho đến khi xe buýt đến vào lúc 7h45. Cậu có trận đá bóng hôm nay, và để cho yên tâm, bố cậu nói rằng, “Jake này, con kiểm tra túi bóng đá để chắc chắn con có mọi thứ nhé.” “Không vấn đề gì ạ”, tiếng cậu bé đáp lại trong lúc vẫn đang tiếp tục tán gẫu cùng bạn. Một vài phút trước khi xe buýt đến, bố cậu bé nhắc nhở Jake và em cậu chuẩn bị sẵn sàng. Khi Jake đi đến sảnh nhà, bố cậu hỏi cậu đã kiểm tra các đồ dùng bóng đá của mình chưa, thì cậu nhanh chóng mở túi ra và lục lọi chúng. “Bố đã làm gì với tấm bảo vệ ống đồng của con vậy?”, cậu bé buộc tội bố trong cơn hoảng loạn. Bị kích thích và không thể chống lại cơn bực, bố cậu trả lời là anh mặc chúng để đi đến chỗ làm. Jake, rất khó chịu nói rằng, “Huấn luyện viên sẽ giết con mất, và con sẽ không được chơi đâu.” Xe buýt đã đến, và bố cậu nói với cậu rằng họ sẽ cố tìm cách xem sao, mặc dù anh không chắc là có cách nào. Trong buổi đấu, huấn luyện viên rất bực và nói rằng cậu không thể chơi. Ngay trước khi trận đấu bắt đầu, bố cậu bé gặp một phụ huynh có thừa bộ bảo vệ ống đồng. Anh đấu tranh tư tưởng xem có nên để
Jake chịu hậu quả là không được chơi, nhưng bởi vì việc này xảy ra trước và nó không thể giải quyết được vấn đề, anh không muốn con gặp rắc rối với huấn luyện viên. Anh đưa tấm bảo vệ cho con trai, nhưng họ cùng đồng ý là việc này sẽ không tái diễn. Tối hôm đó, họ nói chuyện về một hệ thống giúp đỡ Jake tổ chức sắp xếp và ghi nhớ các dụng cụ. Bởi vì cậu là vận động viên 3 môn phối hợp, đây cơ bản là vấn đề xảy ra quanh năm. Bố cậu gợi ý một danh sách cậu có thể dùng để kiểm tra các dụng cụ khi cậu xếp đồ vào túi. Dù việc này có thể giúp cậu biết liệu đã đủ những gì cậu cần trong túi chưa, nó không giải quyết được vấn đề sắp xếp dụng cụ để khi cậu cần, mọi thứ đã có sẵn. Jake nói là có thể họ nên làm một góc cho cậu treo dụng cụ lên đó để cậu cất giữ dụng cụ và dễ dàng nhận thấy đang thiếu thứ gì. Họ đồng ý sẽ dán nhãn lên từng dụng cụ cần thiết, và bố cậu bé đồng ý sẽ gợi ý cho Jack vào đêm trước đó để kiểm tra và xếp vào túi. Về phần của cậu, Jake đồng ý rằng khi bố cậu gợi ý cậu làm vào đêm trước đó, cậu sẽ làm luôn và không đợi đến sáng hôm sau. Họ cũng đồng ý với nhau rằng nếu cậu không tuân thủ và quên một thứ gì đó, bố sẽ không giúp cậu. Họ làm góc đồ thể thao cùng nhau, và Jake dán nhãn nó cho mùa bóng đá hiện tại. Cậu làm các móc để treo đồ và thử nó bằng cách treo tất cả các dụng cụ thể thao vào góc trong lúc bố cậu quan sát. Họ rất hài lòng rằng góc thể thao này sẽ có hiệu quả. BƯỚC 1: THIẾT LẬP MỤC TIÊU VỀ HÀNH VI Kỹ năng thực hành mục tiêu: Bộ nhớ làm việc Mục đích hành vi cụ thể: Jake sẽ sắp xếp dụng cụ thể thao trước mỗi trận đấu và có các dụng cụ cậu cần cho mỗi trận mà không cần nhiều hơn một gợi ý từ người lớn BƯỚC 2: THIẾT KẾ CAN THIỆP Những hỗ trợ xung quanh nào sẽ được đưa ra để giúp đạt được mục tiêu?
• Một góc để Jack dán nhãn các dụng cụ thể thao cần thiết cho việc tập luyện và thi đấu. • Một lời nhắc nhở từ bố đêm trước ngày thi đấu để kiểm tra và xếp dụng cụ vào túi Kỹ năng cụ thể nào sẽ được dạy, ai sẽ dạy, và quy trình dạy như thế nào? Kỹ năng: Bộ nhớ làm việc (ghi nhớ tất cả dụng cụ thể thao cần cho việc tập luyện và thi đấu) Ai sẽ dạy kỹ năng? Bố cậu bé Quy trình: • Jake và bố đồng ý về một kế hoạch quản lý dụng cụ thể thao. • Với sự giúp đỡ của bố, Jake tạo góc dụng cụ của riêng mình. • Jake dán nhãn và treo tất cả dụng cụ lên góc riêng của mình. • Cậu làm thử một lần trong lúc bố quan sát. • Bố đồng ý sẽ nhắc cậu chuẩn bị sẵn sàng dụng cụ thể thao vào đêm trước đó. • Trong vòng 2 tuần, bố kiểm tra sau khi cậu được gợi ý để đảm bảo cậu tuân thủ kỹ càng. Động lực nào được dùng để khích lệ trẻ sử dụng/thực hành các kỹ năng? • Jake sẽ được tham gia thi đấu mà không phải chịu hậu quả do quên dụng cụ cần thiết. CHÌA KHÓA THÀNH CÔNG
• Theo gợi ý của bạn. Trong ví dụ này, góc dụng cụ được dùng như một lời nhắc nhở và công cụ tổ chức sắp xếp cho Jake. Trẻ em với bộ nhớ làm việc yếu kém, khi được hỏi hay gợi ý để nhớ về việc gì, thường cho biết chúng đã làm việc chúng cần làm hoặc sẽ làm ngay nhưng rồi lại quên mất. Bởi thế, bạn cần theo dõi trẻ sau khi nhắc nhở để xem trẻ có thực sự hành động không. Hành động ngay sau khi nhắc nhở là mục đích chính, và bạn cần kiểm tra con thường xuyên hơn cho đến khi hành vi mong muốn ở con được thực sự thiết lập.
Chương 13Cải thiện khả năng kiểm soát cảm xúc Kiểm soát cảm xúc là khả năng chế ngự các trạng thái cảm xúc nhằm đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ, hoặc điều khiển và định hướng hành vi của bạn. Nếu đây là điểm mạnh của bạn, bạn sẽ không chỉ có khả năng giải quyết những thuận lợi hay khó khăn trong cuộc sống một cách dễ dàng, mà còn có thể duy trì tâm trạng ổn định khi giải quyết các vấn đề liên quan nhiều đến cảm xúc – dù là đối diện với ông chủ nóng tính hay đứa con trai ở tuổi niên thiếu ngỗ nghịch. Có khả năng kiểm soát cảm xúc cũng đồng nghĩa với việc bạn có thể hướng mình đến các cảm xúc tích cực nhằm giúp bản thân vượt qua các trở ngại hoặc đi qua những khó khăn. Một số người thể hiện được kỹ năng này trong một vài hoàn cảnh này nhưng không thể hiện được trong hoàn cảnh khác. Hầu hết chúng ta, trẻ con cũng như người lớn, có một “phiên bản công chúng” và “phiên bản đời tư”, và dường như mỗi phiên bản có những nguyên tắc khác nhau. Bạn có thấy con bạn kìm nén tại trường học nhưng về nhà là bung xả, hoặc bản thân bạn có cố tỏ ra nghiêm túc tại chỗ làm nhưng lại trở nên rất thoải mái bên gia đình? Hiện tượng này không hề hiếm gặp, và không phải lúc nào cũng là vấn đề. Nhưng nếu bạn hay con bạn thấy rằng kiểm soát cảm xúc là một điều khó đạt được ngay cả khi bạn ở trong không gian quen thuộc. Trong trường hợp này, sự bùng nổ đối với các loại nhiệm vụ mà con bạn đang phải vật lộn để thực hiện do thiếu hụt về kỹ năng thực hành có thể sẽ là vấn đề to lớn đối với bạn. Điều này cho thấy việc tăng cường khả năng kiểm soát cảm xúc nên là ưu tiên đối với bạn và/hoặc con bạn. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc được hình thành như thế nào? Thời kỳ sơ sinh, trẻ nhỏ luôn mong muốn bố mẹ đáp ứng các nhu cầu thể chất của mình (ăn, bú bình, thay tã), và khi các nhu cầu này
được đáp ứng và có thể dự đoán, trẻ nhỏ sẽ có khả năng kiềm chế cảm xúc trong giới hạn. Tất nhiên, sẽ có những lúc người lớn không thể đáp ứng các nhu cầu đó ngay lập tức, nên trẻ nhỏ sẽ dần học được cách làm dịu bản thân lại. Có một số ngoại lệ đối với quá trình phát triển điển hình này – gọi là trẻ mắc “hội chứng quấy khóc sơ sinh” – những đứa trẻ có khả năng kém trong việc điều chỉnh phản ứng – nhưng hầu hết các trẻ sơ sinh đều có thể vượt qua giai đoạn này và học được kỹ thuật làm dịu bản thân như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên, trong thời kỳ chập chững biết đi và trước khi đi nhà trẻ, bạn đã có thể bắt đầu nhận thấy khác biệt giữa các trẻ trong khả năng điều chỉnh cảm xúc. Một vài trẻ trải qua “hai giai đoạn kinh khủng” này chỉ với thái độ hơi cáu bẳn, trong khi những trẻ khác rơi vào trạng thái khủng hoảng với tần suất và cường độ thách thức cả những ông bố bà mẹ kiên nhẫn nhất. Vào khoảng 3 tuổi, hầu hết trẻ nhỏ hình thành các thói quen, như chuỗi các bước chính xác chúng mong đợi sẽ diễn ra mỗi tối trước khi đi ngủ. Dù mong đợi như vậy, bạn sẽ thấy rằng một số trẻ có thể thích ứng với các thay đổi thói quen trong khi những đứa khác cảm thấy lo lắng nếu trình tự đó bị xáo trộn. Trẻ em có khả năng kiểm soát cảm xúc kém, vì thế, có vẻ rất cứng nhắc. Nếu con bạn rơi vào trường hợp này, bạn có thể sẽ thấy Chương 19 có ích; có rất nhiều trùng lặp giữa kỹ năng kiểm soát cảm xúc và xử lý linh hoạt. Ở trường tiểu học, trẻ có khả năng điều khiển cảm xúc kém thường gặp các vấn đề xã hội như lúc chia sẻ đồ chơi, thua trong các trò chơi hoặc trận đấu, hoặc không nhập cuộc được với các bạn trong các trò chơi tưởng tượng. Trẻ có khả năng kiểm soát cảm xúc tốt là những trẻ biết thỏa hiệp, chấp nhận thắng thua trong trò chơi hay trận đấu với thái độ bình thản, và có thể sẽ đứng ra hòa giải các vụ tranh cãi hoặc đánh nhau giữa các bạn. Thời niên thiếu mang lại các thách thức mới cho việc kiểm soát cảm xúc cũng như với các kỹ năng khác. Nhóm tuổi này nhạy cảm đối với các sự cố hơn trong khả năng giải quyết căng thẳng. Trẻ vị thành niên phụ thuộc vào vỏ não trước khi ra lệnh cho toàn bộ não cách hành xử. Trong những lúc căng thẳng, phần não chịu trách
nhiệm điều khiển các kỹ năng thực hành trở nên quá tải khi trẻ vị thành niên cố gắng ức chế phản ứng (xem Chương 11), xâm nhập bộ nhớ (xem Chương 12) và điều khiển cảm xúc cùng một lúc. Vì thế chẳng lạ gì khi trẻ em ở tuổi vị thành niên thường ra quyết định chậm hoặc rất dở, hoặc tệ hơn là ra quyết định tồi quá nhanh. Những trẻ vị thành niên bị tụt lại trong quá trình kiểm soát cảm xúc còn ở trong tình trạng bất lợi hơn, và sẽ trải nghiệm các rối loạn cảm xúc nhiều hơn bình thường trong giai đoạn phát triển cảm xúc lên xuống thất thường này. Biết được điều này, bạn sẽ có thể bảo vệ đứa con đang tuổi đi học tốt hơn bằng cách làm những gì có thể để giảm thiểu căng thẳng dẫn tới quyết định tồi. Trong khi đó, bạn cũng có thể giúp con mình cải thiện khả năng kiểm soát cảm xúc bằng cách thực hiện những chiến thuật trong chương này. Việc này sẽ xứng đáng với nỗ lực bỏ ra: trẻ vị thành niên có thể điều chỉnh cảm xúc tốt sẽ ít có xu hướng tranh cãi với thầy cô, có thể XỬ LÝ TÌNH HUỐNG trong trò chơi, thi cử mà không bị lo lắng quá mức, và lấy lại cân bằng nhanh chóng khi bị thất vọng. CON KIỀM CHẾ CẢM XÚC TỐT ĐẾN ĐÂU? Hãy sử dụng thang điểm đánh giá dưới đây để đánh giá xem con thực hiện từng nhiệm vụ được liệt kê tốt như thế nào. Ở mỗi cấp độ, trẻ em được mong đợi sẽ thực hiện tất cả nhiệm vụ được liệt kê tương đối tốt cho đến rất tốt. Thang điểm đánh giá 0 – Không bao giờ hoặc hiếm khi 1 – Có nhưng không tốt (khoảng 25% thời gian) 2 – Khá tốt (khoảng 75% thời gian) 3 – Rất tốt (luôn luôn hoặc hầu như luôn luôn) Mầm non/Mẫu giáo
- Có thể hồi phục nhanh chóng mỗi khi bị thất vọng hoặc có thay đổi trong kế hoạch - Có thể dùng các giải pháp phi bạo lực khi bị trẻ khác lấy mất đồ chơi - Có thể chơi trong nhóm mà không bị quá khích Tiểu học bé (Lớp 1 – 3) - Có thể chịu được phê bình từ người lớn - Có thể đối diện với những gì được cho là “bất công” mà không quá buồn bã - Có thể nhanh chóng điều chỉnh hành vi theo tình huống Tiểu học lớn (Lớp 4 – 5) - Không phản ứng thái quá khi bị thua hoặc không đạt được một giải thưởng - Có thể chấp nhận không đạt được điều con muốn khi làm hoặc chơi trong một tập thể - Xử sự kiềm chế khi bị trêu chọc Trung học cơ sở (Lớp 6 – 8) - Có thể “đọc” được phản ứng của bạn bè và điều chỉnh hành vi phù hợp - Có thể dự đoán được kết quả và chuẩn bị tinh thần cho sự thất vọng nếu có - Có thể chủ động như nhờ thầy cô giúp đỡ khi thích hợp Cải thiện khả năng kiểm soát cảm xúc trong các tình huống hằng ngày
• Với trẻ nhỏ, hãy tạo lập môi trường. Bạn có thể tăng khả năng kiểm soát cảm xúc của con bằng cách tạo các thói quen, đặc biệt là giờ ăn, ngủ trưa và ngủ tối. Tránh đặt con vào tình huống dễ trở nên phấn khích và tìm cách tách con nhanh chóng khỏi các tình huống mà bạn cảm thấy con bắt đầu mất kiểm soát. • Chuẩn bị tâm lý cho con bằng cách nói chuyện với con về những gì có thể xảy ra và con có thể làm gì nếu bắt đầu cảm thấy choáng ngợp. Một số tình huống khó khăn không thể tránh khỏi nhưng có thể được giảm nhẹ nếu chuẩn bị từ trước. Dạy cho con các chiến thuật giải quyết vấn đề. Bạn có thể đưa ra các phương án giải thoát nào? Trẻ nhỏ và thầy cô hoặc người lớn có thể cùng thống nhất dấu hiệu khi trẻ cảm thấy cần nghỉ ngơi. Những chiến thuật tự làm dịu đơn giản bao gồm việc ôm thú nhồi bông yêu thích của con (đối với trẻ nhỏ) hoặc bật nhạc nhẹ nhàng (đối với trẻ lớn hơn). Hoặc dạy cho con các kỹ thuật thư giãn, như thở sâu và thả lỏng tích cực, căng và duỗi các nhóm cơ chính trong cơ thể. • Cho con kịch bản đối phó với các tình huống có vấn đề. Không cần quá phức tạp, chỉ cần vài dòng ngắn gọn những điều con có thể nói với bản thân để giúp con quản lý cảm xúc. Sẽ có ích nếu bạn làm mẫu những câu tự nhủ này. Trẻ có khả năng kiểm soát cảm xúc thấp sẽ có xu hướng khóc hoặc cáu giận khi bị bắt buộc phải làm việc khó hoặc việc chúng không thích. • Kể những chuyện mà nhân vật có những hành động mà bạn muốn con mình noi theo. • Nếu những nỗ lực này không hiệu quả, bạn nên tìm đến chuyên gia về hành vi nhận thức. Trụ lại trong cuộc chơi: Làm sao để khuyến khích tinh thần thể thao đúng đắn Mike là một đứa trẻ 7 tuổi năng động học lớp 2, con út trong gia đình có 3 người con. Từ khi mới chập chững biết đi, Mike đã thích các hoạt động thể chất, đặc biệt là thể thao, và cậu bé tỏ rõ tài năng ở độ tuổi của mình. Cậu rất háo hức với việc chơi trong đội “thật” và Ở
mong ngóng đến trận đấu. Ở nhà, khi có thời gian rảnh, Mike muốn bố mẹ hoặc anh chị chơi và luyện tập cùng mình. Tuy nhiên, khi cậu bé hoặc đội của cậu không thể hiện theo cách cậu muốn, cậu có thể bùng nổ, lớn tiếng than phiền, khóc lóc, và đôi khi còn ném dụng cụ. Khi điều này diễn ra, huấn luyện viên cho cậu bé ngồi riêng một góc hoặc bố mẹ bé chuyển cậu ra chỗ khác. Sau một lúc cậu bé bình tĩnh lại, nhưng cách này không loại bỏ hoàn toàn hành vi; nó vẫn diễn ra thường xuyên đến mức trở thành mối lo lớn cho bố mẹ cậu. Họ đã bàn đến việc ngừng tất cả các hoạt động thể thao nhưng lại ngần ngại thực hiện nó vì chơi thể thao rất quan trọng đối với Mike. Nếu thế, Mike phải học được cách dung hòa các lỗi sai và chấp nhận thua như là một phần của thể thao. Sau khi kể tình hình với một trong các huấn luyện viên và với những người bạn có 2 con trai nhỏ chơi thể thao, họ quyết định một kế hoạch. Đầu tiên, họ ngồi xuống nói chuyện với Mike và giải thích là nếu bé tiếp tục chơi thể thao, họ cần thực hiện một cách giúp Mike thay đổi hành vi. Dù cậu bé không muốn thừa nhận mình có vấn đề, cậu đồng ý kế hoạch của bố mẹ vì cậu bé không muốn từ bỏ thể thao. Kế hoạch gồm những phần như sau: • Khi cậu bé buồn vì kết quả thi đấu của bản thân, Mike có thể diễn tả sự tức giận qua những hành vi được thống nhất từ trước. Những hành vi này bao gồm việc nắm chặt bàn tay, khoanh tay hoặc siết tay, và nhẹ nhàng lặp đi lặp lại một cụm từ cậu bé chọn. Nếu sự tức giận liên quan đến cả đội hoặc đồng đội, cần khuyến khích các nhận xét mang tính tập thể như “Ổn mà”. • Mike và bố mẹ cùng viết ra kịch bản cho một vài tình huống vừa mới xảy ra, thay thế những chiến thuật mới với hành vi cũ của cậu bé. • Mike và bố mẹ chơi trò nhập vai để áp dụng một trong những chiến thuật mới của cậu. Bố mẹ hướng dẫn cậu bé làm điều này và khen ngợi cậu đã dùng chiến thuật. • Trước mỗi trận đấu hoặc buổi tập luyện, bố hoặc mẹ xem xét lại các quy tắc và chiến thuật cùng với Mike và xem cậu bé nói cậu sẽ
giải quyết một tình huống khó chịu thế nào nếu nó xuất hiện. Vào cuối trận đấu hoặc buổi luyện tập, Mike và bố mẹ cùng xem lại xem cậu đã làm thế nào. Nếu cậu không bộc phát lần nào, cậu sẽ được thưởng điểm mà phần thưởng là đi xem một trong những đội cậu yêu thích nhất thi đấu. • Mike đồng ý về việc cố gắng không cáu gắt, la hét, nói bậy, hoặc ném đồ nếu tức giận. Bất cứ hành vi nào như vậy sẽ khiến cậu bé phải lập tức rời trận đấu hoặc buổi tập luyện và không được tham gia lần tiếp theo. Mike không hoàn toàn thành công trong một vài tuần đầu, nhưng huấn luyện viên và bố mẹ cậu bé nhận thấy các vụ bộc phát của cậu giảm đáng kể, và tự tin là họ đang đi đúng hướng. BƯỚC 1: THIẾT LẬP MỤC TIÊU VỀ HÀNH VI Kỹ năng thực hành mục tiêu: Kiểm soát cảm xúc Mục đích hành vi cụ thể: Mike sẽ không cáu gắt nếu mắc lỗi hoặc thua trận. BƯỚC 2: THIẾT KẾ CAN THIỆP Những hỗ trợ xung quanh nào sẽ được đưa ra để giúp đạt được mục tiêu? • Kể các câu chuyện có kịch bản hoặc bối cảnh với kết thúc về các hành vi chấp nhận được. • Nêu rõ, viết ra các quy tắc và mong đợi hành vi của Mike. • Bố mẹ chỉ bảo trước khi bước vào tình huống. Kỹ năng cụ thể nào sẽ được dạy, ai sẽ dạy, và quy trình dạy như thế nào? Kỹ năng: Kiểm soát cảm xúc (thể hiện sự giận dữ theo cách chấp nhận được)
Ai sẽ dạy kỹ năng? Bố mẹ cậu bé Quy trình: • Mike, cùng với bố mẹ, sẽ đọc các kịch bản có kết quả thành công cho các tình huống có vấn đề điển hình. • Mike và bố mẹ sẽ chơi trò nhập vai tình huống và sử dụng chiến thuật mới. • Mike và bố mẹ sẽ xem xét các mong đợi/quy tắc hành vi trước mỗi trận đấu. • Mike và bố mẹ sẽ xem xét sự thể hiện của Mike sau mỗi trận đấu. • Mike sẽ thua trong buổi luyện tập hoặc trận đấu nếu có vấn đề hành vi. Động lực nào được dùng để khích lệ trẻ sử dụng/thực hành các kỹ năng? • Mike được tiếp tục chơi thể thao. CHÌA KHÓA THÀNH CÔNG Hãy tuân thủ nghiêm ngặt kế hoạch trò chơi. Sự thành công của chiến thuật này phụ thuộc vào việc nhất quán theo đuổi các bước sau: 1. Cho trẻ cách thể hiện sự giận dữ có thể chấp nhận được. 2. Cùng trẻ xác định những tình huống mà hành vi đó dễ xảy ra nhất. 3. Tập dượt tình huống và chỉ bảo cho trẻ các hành vi phù hợp. 4. Cho trẻ biết về mong đợi của bạn trước khi bước vào tình huống. 5. Tách trẻ ra khỏi tình huống nếu cần thiết.
Việc bỏ qua bất cứ bước nào sẽ khiến trẻ dễ bị mất kiểm soát lần nữa vì rất khó để trẻ “suy nghĩ thấu đáo” trong những hoàn cảnh trẻ bị tức giận.
Chương 14Tăng cường khả năng duy trì tập trung Duy trì sự tập trung là khả năng giữ tập trung vào một tình huống hoặc nhiệm vụ trước các yếu tố gây xao lãng, mệt mỏi hoặc buồn chán. Đối với người lớn chúng ta, đó là việc chú tâm vào các nhiệm vụ tại nơi làm việc hoặc việc nhà ở gia đình bằng cách loại các yếu tố gây xao lãng mỗi khi chúng xuất hiện và trở lại làm việc nhanh chóng nhất có thể khi không thể tránh khỏi các xao lãng. Nếu khả năng duy trì tập trung của bạn yếu, bạn sẽ thấy mình nhảy từ việc nọ sang việc kia mà thường chưa xong việc này đã làm việc khác. Nếu bạn nghĩ mình thiếu kỹ năng này, các nỗ lực của bạn trong việc giúp con xây dựng kỹ năng này sẽ có ích cho bạn. Kỹ năng duy trì tập trung được hình thành như thế nào Hãy hình dung một trẻ rất nhỏ trên bãi biển. Chẳng phải rất thú vị sao khi một hành động nhỏ như thả hòn đá cuội vào nước hoặc đắp kênh cũng có thể là nguồn vui bất tận? Những hoạt động trực quan dễ làm chúng ta buồn chán (hoặc người trông trẻ, anh chị của em bé, hoặc ông bà) lại có thể khiến con bạn say mê một lúc lâu. Thực ra khả năng duy trì tập trung của trẻ khi còn rất nhỏ phụ thuộc hoàn toàn vào việc chúng thích hoạt động đó thế nào. Trẻ nhỏ có thể tập trung vào nhiệm vụ trong một khoảng thời gian dài nếu hoạt động đó hấp dẫn các bé. Tuy nhiên, từ góc độ kỹ năng thực hành, duy trì tập trung là một thách thức khi hoạt động đó là việc trẻ cho là không thú vị hoặc khó khăn, như việc nhà, bài tập trên lớp hoặc bài tập về nhà, hoặc tham dự những sự kiện dài dòng của người lớn. Việc chúng ta không mong đợi trẻ nhỏ duy trì tập trung được lâu trong những tình huống như vậy là lý do vì sao nhiều nhà thờ chỉ cho trẻ con dự trong vòng 10 phút đầu sau đó cho chúng ra chơi bên ngoài khu vực hành lễ. Đây cũng là lý do vì sao các giáo viên giỏi không mong đợi trẻ em
ngồi hàng giờ bên bàn để làm bài tập, và phụ huynh khôn khéo giao những việc có thể hoàn thành nhanh hoặc chia ra làm nhiều phần nhỏ cho trẻ. Đến khi vào trung học, trẻ được mong đợi là sẽ tập trung lâu hơn tại trường và hoàn thành bài tập về nhà trong khoảng từ 1-3 giờ đồng hồ mỗi tối. Khi trường học chuyển đổi sang hình thức phân khối lịch học khoảng vài năm trước, giáo viên mất một thời gian để điều chỉnh phương pháp dạy để các bài giảng không còn là phương pháp dạy học chính. Đến trẻ vị thành niên cũng gặp khó khăn trong việc tập trung nghe giảng trong 90 phút. CON DUY TRÌ TẬP TRUNG TỐT ĐẾN ĐÂU? Hãy sử dụng thang điểm đánh giá dưới đây để đánh giá xem con thực hiện từng nhiệm vụ được liệt kê tốt như thế nào. Ở mỗi cấp độ, trẻ em được mong đợi sẽ thực hiện tất cả nhiệm vụ được liệt kê tương đối tốt cho đến rất tốt. Thang điểm đánh giá 0 – Không bao giờ hoặc hiếm khi 1 – Có nhưng không tốt (khoảng 25% thời gian) 2 – Khá tốt (khoảng 75% thời gian) 3 – Rất tốt (luôn luôn hoặc hầu như luôn luôn) Mầm non/Mẫu giáo - Có thể hoàn thành một việc tốn 5 phút (có thể cần giám sát) - Có thể ngồi thành vòng tròn trong lớp mầm non (15-20 phút) - Có thể ngồi nghe 1-2 sách tranh một lúc Tiểu học bé (Lớp 1 – 3)
Search
Read the Text Version
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
- 36
- 37
- 38
- 39
- 40
- 41
- 42
- 43
- 44
- 45
- 46
- 47
- 48
- 49
- 50
- 51
- 52
- 53
- 54
- 55
- 56
- 57
- 58
- 59
- 60
- 61
- 62
- 63
- 64
- 65
- 66
- 67
- 68
- 69
- 70
- 71
- 72
- 73
- 74
- 75
- 76
- 77
- 78
- 79
- 80
- 81
- 82
- 83
- 84
- 85
- 86
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- 92
- 93
- 94
- 95
- 96
- 97
- 98
- 99
- 100
- 101
- 102
- 103
- 104
- 105
- 106
- 107
- 108
- 109
- 110
- 111
- 112
- 113
- 114
- 115
- 116
- 117
- 118
- 119
- 120
- 121
- 122
- 123
- 124
- 125
- 126
- 127
- 128
- 129
- 130
- 131
- 132
- 133
- 134
- 135
- 136
- 137
- 138
- 139
- 140
- 141
- 142
- 143
- 144
- 145
- 146
- 147
- 148
- 149
- 150
- 151
- 152
- 153
- 154
- 155
- 156
- 157
- 158
- 159
- 160
- 161
- 162
- 163
- 164
- 165
- 166
- 167
- 168
- 169
- 170
- 171
- 172
- 173
- 174
- 175
- 176
- 177
- 178
- 179
- 180
- 181
- 182
- 183
- 184
- 185
- 186
- 187
- 188
- 189
- 190
- 191
- 192
- 193
- 194
- 195
- 196
- 197
- 198
- 199
- 200
- 201
- 202
- 203
- 204
- 205
- 206
- 207
- 208
- 209
- 210
- 211
- 212
- 213
- 214
- 215
- 216
- 217
- 218
- 219
- 220
- 221
- 222
- 223
- 224
- 225
- 226
- 227
- 228
- 229
- 230
- 231
- 232
- 233
- 234
- 235
- 236
- 237
- 238
- 239
- 240
- 241
- 242
- 243
- 244
- 245
- 246