phía tây) cho nên bước chân ra khỏi làng vào rừng là con người dễ trở thành \"cái tự nhiên\", trở thành \"người rừng\" đầy mê hoặc. Bởi vậy khi Tnú bước chân vào làng là phải \"rửa chân\", tức phải gột rửa \"bụi bặm\" của \"người rừng\" để trở về tinh khiết của \"người làng\"- một thực thể đã được văn hoá làng thanh lọc. Văn hoá làng Tây Nguyên được nhà văn thể hiện rất đặc sắc qua hình ảnh máng nước đầu làng. Khi đến suối nước nhỏ đầu làng, Tnú \"bỏ mũ, cởi mấy khuy áo trên ngực, rồi khom lưng xuống, ngửa hai bàn tay vả nước lên mặt, lên đầu. Nước mát lạnh đến tê người. Máu trong đầu anh phản ứng, giần giật ở hai bên má\". Hành động của Tnú rất nhẹ nhàng, cẩn thận và có cái gì đó thành kính. Thành kính bởi bến nước là không gian thiêng liêng bậc nhất trong làng (cùng với không gian nhà rông). Hàng năm cứ đến mùa \"ăn năm uống tháng\" dân làng đều tổ chức lễ cúng bến nước rất trang trọng để tạ ơn thần nước. Bên nước không chỉ đem lại nguồn nước sinh hoạt cho làng, nó còn là nơi gặp gỡ tâm tình của dân làng sau mỗi buổi đi rẫy về (điểm này giống với bến nước của làng Bắc bộ). Bởi vậy bến nước là nỗi nhớ, là niềm thương da diết của những người đi xa làng. Ta hiểu vì sao sau khi vả nước lên đầu, Tnú \"không lau khô đầu tóc\", Tnú để cho tình làng mơn man da thịt anh. Bến nước cũng là thước đo cho tình cảm thuỷ chung với làng. Gặp Tnú, cụ Mết hỏi: \"Mày có nhớ cái máng nước ở chỗ nào không?...Nhớ à, được! Tưởng quên rồi thì tau đuổi ra rừng, không cho ở làng nữa đâu\". Ở Tây Nguyên, hình phạt khủng khiếp nhất là bị tách ra khỏi cộng đồng, tức bị đuổi ra rừng. Khi ấy con người chỉ biết trở về với bản nguyên rừng, tức phải chọn cái chết. Nếu Tnú mà quên cái máng nước của làng (mà quên bến nước của làng cũng tức là không thuỷ chung với làng) thì sẽ nhận hình phạt nặng nhất, cũng có nghĩa là con người ấy đáng khinh bỉ nhất. Tuy vậy, vẫn có một khía cạnh thú vị khác, đó là việc cụ Mết \"thân hành dẫn anh ra tới máng nước đầu làng\". Điều này cho thấy được vai trò to lớn của người già làng ở Tây Nguyên trong việc tổ chức đời sống tinh thần và giữ gìn văn hoá làng. Nếu bé Heng nhắc anh \"rửa chân\" thì cụ Mết lại đưa anh ra máng nước, tức dắt anh trở về với cội nguồn làng, với cộng đồng đã nuôi anh khôn lớn cả thể xác lẫn tâm hồn. Hành động của cụ Mết cho chúng ta thấy được lòng nhân ái và sự hiền minh của một tộc người nhỏ bé sống heo hút trên sườn núi Ngok Linh. Dù Tnú đã rửa sạch ở con suối nhỏ rồi nhưng khi được cụ Mết dẫn ra máng nước đầu làng, anh vẫn rửa lại \"Anh cởi áo ra để cho vòi nước lạnh ngắt của làng mình giội lên đầu, lên lưng, lên ngực như những ngày xưa...\". Khác với câu chữ cuồn cuộn khí thế trong trận quyết chiến với bọn thằng Dục, giọng văn ở đây nhẹ nhàng và sâu lắng như chính tình cảm của cộng đồng làng. Ở chỗ máng nước, Tnú đã được đắm mình trong mảnh hồn làng thân thương nhất, không phải chỉ một lần mà hai lần mới thoả nỗi nhớ mong.
Có một chi tiết rất đáng chú ý mà chắc chắn Nguyễn Trung Thành gửi gắm rất nhiều ý tưởng của mình, đó là tiếng chày giã gạo của dân làng. Cái âm thanh mà Tnú \"nhớ nhất ở làng, nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm\". Cũng như tiếng mái chèo đuổi cá ở những làng đánh cá ven sông miền xuôi, tiếng chày giã gạo của làng miền núi đã trở thành âm thanh của ký ức mà những lúc đi xa, người ta nhớ đến nao lòng. Tnú cũng vậy, cái âm thanh được tạo nên bởi bàn tay của mẹ, của Mai, của Dít, của những người phụ nữ Strá đã đi vào tâm thức của anh. Đó cũng là một mảnh hồn làng mà anh luôn theo bên mình để nhắc nhở anh, để thôi thúc anh, để đưa anh trở về nguồn cội. Cho nên khi Tnú nghe lại âm thanh ấy thì \"ngực anh đập liên hồi, chân cứ vấp mãi mấy cái rế cây ở chỗ ngã quẹo vào làng\". Anh đã xúc động thật sự, yêu thương thật sự. Điều này cho thấy đời sống tâm hồn phong phú của Tnú, bên cạnh phẩm chất anh hùng của anh. Có thể nói sức sống của văn hoá làng đã tạo nên sức mạnh của những con người như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít...Đó là sức sống Tây Nguyên. Dưới góc nhìn văn hoá, ta thấy Rừng xà nu có nội dung rất quan trọng: văn hoá làng và những tình cảm thâm trầm, cao đẹp. Và đó là cơ sở của nội dung thứ hai: tinh thần bất khuất của người Tây Nguyên. Tinh thần ấy lớn mạnh được là nhờ nó bám rễ sâu chặt vào \"đất làng\". Vẫn biết rằng trong thời lượng ít ỏi, người thầy khó mà chuyển tải được hết cái hay cái đẹp của một tác phẩm. Tuy nhiên hoàn toàn chúng ta có thể gợi ý cho học sinh những giá trị khác ngoài cái giá trị đã quá quen thuộc đến nỗi trở nên nhàm chán. Ở Rừng xà nu, chính những mảng màu văn hoá sẽ kích thích \"thị giác\" của các em, đem đến những điều mới lạ và rất có thể sẽ làm cho giờ dạy hấp dẫn hơn. 5. Tiếp cận dưới góc nhìn sử thi: Nền văn học Việt Nam 1945 – 1975 là một nền văn học sử thi. Cảm hứng anh hùng ca (sử thi) xuất hiện trong hầu hết các sáng tác văn xuôi thuộc giai đoạn này. Nhưng có lẽ, tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất và sinh động nhất tính chất sử thi của nền văn xuôi cách mạng là truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyên Ngọc. Trong bối cảnh năm 1965, Mỹ đổ quân vào Việt Nam, phần lớn các nhà văn đều hướng ngòi bút phản ánh sự kiện trọng đại này. Họ muốn tác phẩm của mình là một “hịch tướng sĩ” để cổ vũ chiến đấu. Lúc bấy giờ, ở Trung Trung Bộ, Nguyên Ngọc cũng hun đúc nên bản anh hùng ca cách mạng “Rừng xà nu”. Bối cảnh câu chuyện lùi về trước đó một chút, là thời điểm mang tính bước ngoặc trong việc lựa chọn giữa hai con đường “chết vinh hay sống nhục”. Dân làng Xôman ủng hộ cách mạng. Địch tàn sát dã man, treo cổ anh Xút, chặt đầu bà Nhan, dùng “trận mưa cây sắt” để giết Mai và đứa trẻ sơ sinh, đốt mười ngón tay Tnú… “Tức nước” ắt phải “vỡ bờ”, dưới sự lãnh đạo của “tù trưởng”, các dũng sĩ của dân tộc Strá cầm giáo mác lao vào chém giặc. “Tiếng chiêng nổi lên (…) Suốt đêm nghe cả rừng Xôman ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng”. Thông qua nỗi đau ghê gớm của Tnú và dân làng Xôman, tác giả
muốn khẳng định con đường tất yếu của họ là đến với cách mạng. Ngoài ra, cũng giống như chủ đề của nhiều sử thi khác, tác phẩm này có mục đích ôn lại truyền thống hào hùng, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp và lòng dũng cảm của những anh hùng đại diện cho lợi ích dân tộc và kêu gọi nhân dân sẵn sàng vùng lên đánh đuổi quân thù. Nhân vật chính của sử thi là những anh hùng có phẩm chất cao cả hiện thân cho lợi ích cộng đồng. Tnú là người có đầy đủ những phẩm chất đẹp đẽ của dân làng và cách mạng. Đức tính nổi bật nhất là lòng dũng cảm, tham gia cách mạng từ nhỏ, bị bắt, vượt ngục, lại đến với cách mạng. Nhờ sự mưu trí và gan dạ mà anh hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ngọn lửa bốc cháy trên mười đầu ngón tay Tnú là một bằng chứng thiết thực nhất về lòng trung kiên với cách mạng. Anh còn có tình yêu thương sâu sắc. Vì thương vợ con mà phải liều mình cứu vợ con, vì thương dân làng mà phải đi đánh giặc để dân làng được bình yên. Đi chiến đấu, “nỗi nhớ day dứt lòng anh” là “tiếng chày chuyên cần, rộn rã” của dân làng. Và cũng vì vậy, dân làng rất yêu mến anh, họ hết đỗi vui mừng khi anh về thăm làng. Có thể nói, Tnú là người anh hùng thuộc về quần chúng. Nói như Biêlinxki “Nhân vật của anh hùng ca phải là người đại diện xứng đáng của tinh thần dân tộc”. Văn học cách mạng rất chú trọng đến vai trò của tập thể quần chúng. Trong “Rừng xà nu”, nói đến sự thành công của cách mạng là phải kể đến vai trò của dân làng, mà đứng đầu là cụ Mết. Tất cả họ đều “muôn người như một”, chung một lý tưởng, chung một căn nhà ưng, cùng tự hào về truyền thống vẻ vang của buôn làng. Cụ Mết là người hiện thân cho truyền thống bất khuất đó. Qua các hoạt động và lời ăn tiếng nói của họ, ta thấy phảng phất hình ảnh của thời Đam San, Xinh Nhã. Khi cộng đồng đã quyết làm chuyện gì thì không ai đứng ngoài. Nguyên Ngọc đã rất tài tình khi thể hiện được bản sắc riêng độc đáo của đồng bào dân tộc miền núi. Ông không chỉ chú ý đến cái chung mà còn khắc họa được cả nét riêng sinh động của một cộng đồng hoặc cá nhân. Cụ Mết có những nét khác người. Thân hình quắc thước, râu dài tới ngực, mắt sáng xếch ngược, vết sẹo bên má láng bóng, bàn tay nặng trịch như cái kìm sắt. Giọng nói cũng “ồ ồ”, “vang vang”, và chỉ nói “được” những lúc cho là tốt nhất. Tnú có một số phận cũng chẳng giống ai trong buôn làng. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, vợ con chết, bị cụt mười đầu ngón tay. Tác giả còn miêu tả cả nhược điểm của anh: học chữ thua kém Mai, vì cố nhét chữ vào đầu không vô nên đã nổi nóng đập bể bảng nứa và “đòi đánh Mai”. Rồi “nó cầm một hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng”. Đưa ra chi tiết gân guốc này, tác giả muốn cho nhân vật có sức thuyết phục bạn đọc. Ngôn ngữ của “Rừng xà nu” cũng mang đậm tính sử thi. Đó là giọng điệu ngợi ca, thành kính trước vẻ đẹp của những anh hùng (Tnú, cụ Mết…). Tác giả dùng những lời trang trọng nhất để nói về họ. Với mục đích kêu gọi chiến đấu, ngôn ngữ của người kể chuyện mang âm hưởng sôi nổi hào hùng: “Thế nào bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây
dáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”. Lời kêu gọi của cụ Mết thể hiện rất rõ lối điệp từ ngữ quen thuộc của sử thi. Vì ngày xưa, sử thi tồn tại ở dạng nói, nên người kể phải thường xuyên lặp lại những chi tiết quan trọng để khắc sâu vào tâm trí người nghe. “Rừng xà nu” thể hiện rất rõ âm hưởng trùng điệp, hùng tráng của sử thi. Tác giả lặp lại ít nhất 20 lần hình tượng cây xà nu dưới nhiều góc độ khác nhau. Điều đó cho thấy tác giả đặt niềm tin vào sự lớn mạnh, đông đảo của cách mạng. Mỗi chiến sĩ là một cây xà nu trong khu rừng bạt ngàn đó. Cây xà nu tượng trưng cho sức sống bền bỉ quật khởi của dân làng Xôman. Cây cũng như con người, biết thể hiện khí thế tiến công ngay từ lúc còn nhỏ “Có những cây con mới nhú khỏi mặt đất đã nhọn hoắt như mũi lê”. Cây cũng biết bảo vệ con người: “Rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”. Nếu tác giả sử thi “Đăm Săn” tin rằng cây Smuk là cây thần thì các nhà sử thi cách mạng dùng yếu tố kỳ ảo chỉ là để thể hiện ý tưởng “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”. Có thể nói, “Rừng xà nu” là một thành tựu xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Cùng với tiểu thuyết “Đất nước đứng lên”, nó đã khái quát được hiện thực đau khổ nhưng vĩ đại của dân tộc. Nguyên Ngọc đã thành công trong việc chạm khắc tượng đài kỳ vĩ của các anh hùng: Núp (chống Pháp), Tnú (chống Mỹ)… “Có thể coi đây là những bản anh hùng ca mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, nói rộng ra là về hai cuộc chiến tranh nhân dân kỳ diệu của dân tộc ta”.
Search