Chuyên đề: Rừng Xà Nu Tác giả: Nguyễn Trung Thành NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LINH 12D6
MỤC LỤC I. Khái quát thời đại II. Những nét chung về tác giả 1. Tiểu sử 2. Sự nghiệp sáng tác 3. Phong cách sáng tác III. Tác phẩm “Rừng xà nu” 1. Xuất xứ 2. Hoàn cảnh sáng tác 3. Khái quát 4. Ý nghĩa nhan đề 5. Bố cục 6. Tóm tắt - khái quát tác phẩm IV. Kiến thức trọng tâm 1. Hình tượng cây xà nu 2. Hình tượng thế hệ quá khứ - cụ Mết 3. Thế hệ hiện tại - Tnú, Mai 4. Thế hệ tương lai - Dít, bé Heng 5. Biểu hiện của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn V. Tổng kết 1. Giá trị nội dung
2. Giá trị nghệ thuật VI. Một số lời bình về Nguyễn Trung Thành vả Rừng Xà Nu VII. Một số dạng đề phổ biến VIII. Một số bài, đoạn văn tham khảo
I. KHÁI QUÁT THỜI ĐẠI Việt Nam những năm 1960-1965 là một Việt Nam với đầy những thăng trầm, biến động. Sau khi Hiệp định Geneva được kí kết năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt. Trong khi miền Bắc đang đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, hăng say tăng gia sản xuất và sẵn sàng làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, thì ở miền Nam, nhân dân phải sống lầm than dưới ách kìm kẹp của Mỹ - Diệm. Sau khi phong trào Đồng khởi nổ ra những năm 1960, tinh thần chiến đấu của nhân dân miền Nam được đẩy lên cao trào. Hàng loạt các cuộc nổi dậy giành chính quyền đã diễn ra và khiến chính quyền Ngô Đình Diệm cùng đế quốc Mĩ lúng túng. Khí thế chiến đấu anh dũng, bất khuất, hào hùng bao trùm lên mọi ngóc ngách, cháy rực trong con tim mỗi người. Văn học thời kì này chủ yếu phản ánh bối cảnh ấy: cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước với sự ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng Cách mạng. Các tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này là Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu... và đặc biệt là những nhà văn miền Nam như Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Anh Đức, Phan Tứ... Văn học giai đoạn này Vận động theo hướng cách mạng hóa gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước (khắc hoạ rõ nét bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến của ta), hướng đến đại chúng (đối tượng chính trong các tác phẩm là nhân dân lao động, các chiến sĩ cách mạng), mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn (xây dựng hình tượng người lính đẹp hào hùng, đề cập tới vận mệnh đất nước song song với ca ngợi vẻ đẹp lý tưởng). Văn xuôi chặng đường này phản ánh sâu sắc cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân ta, đồng thời khắc hoạ hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất. Nhân vật trong các tác phẩm là đại diện cho tinh thần Việt Nam, lý tưởng Việt Nam, gắn mình với vận mệnh của đất nước và mang vẻ đẹp đậm chất sử thi. II. NHỮNG NÉT CHUNG VỀ TÁC GIẢ 1. Tiểu sử Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, bút danh khác Nguyên Ngọc, sinh ngày 5 tháng 9 năm 1932 tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 1950 khi đang học trung học chuyên khoa (nay là trung học phổ thông), ông gia
nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, chủ yếu hoạt động ở Tây Nguyên - chiến trường chính của Liên khu V lúc bấy giờ. Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông chuyển sang làm phóng viên báo Quân đội Nhân dân liên khu V, lấy bút danh là Nguyên Ngọc. Hoà bình lập lại, Nguyễn Trung Thành vẫn tiếp tục sáng tác và đạt được một số thành tựu. Ông có thời gian làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ. Trong thời kỳ Đổi mới và phong trào Cởi Mở, ông đã có những đổi mới quan trọng về nội dung tư tưởng của tờ báo và được coi là người có công phát hiện, nâng đỡ nhiều nhà văn tên tuổi sau này như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Thị Hoài... Ông cũng dành nhiều tình cảm trân trọng đối với các nhà văn khác như Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải. Nguyễn Trung Thành là một nhà văn gắn cả đời mình với sự nghiệp cách mạng. Ông là nhà văn quân đội, gắn bó mật thiết với Tây Nguyên, từng được phong hàm Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1950, ông nhập ngũ và sau khi tốt nghiệp trường lục quân Liên khu Năm, ông ở đơn vị chiến đấu một thời gian rồi chuyển về làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu Năm, hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc trong đội hình của sư đoàn 324, được điều về trại viết gương anh hùng của Tổng cục chính trị. Tuy nhiên, khoảng đầu thập niên 1990, báo Văn nghệ một số lãnh đạo đảng Cộng sản chính thức phê phán ông là \"chệch hướng\". Sau đó, Nguyên Ngọc đã từ chức Tổng biên tập và nghỉ hưu. Người kế nhiệm ông là nhà báo Hữu Thỉnh. Sau thời kỳ làm báo, ông tham gia tích cực trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và chấn hưng giáo dục Việt Nam. Ông đã dịch một số tác phẩm lý luận văn học như Độ không của lối viết (Rolland Barthes), Nghệ thuật tiểu thuyết (Milan Kundera), tác phẩm của Jean-Paul Sartre, Jacques Dournes... Được xem là một chuyên gia về Tây Nguyên, trong buổi hội thảo vào tháng 4 năm 2009 về vấn đề khai thác bauxite ở Việt Nam, ông cho biết ý kiến chưa đồng tình với chính sách của chính phủ.
Ông cũng từng tham gia phong trào quần chúng biểu tình phản đối việc gây hấn, xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông năm 2011 trong bối cảnh có sự ngăn cấm. Ngày 22 tháng 8 năm 2011, Đài Truyền hình Hà Nội có làm một chương trình về sự việc này, trong đó có đoạn phát thanh viên nói \"một số phần tử phản động tham gia biểu tình\", đồng thời khung hình đang quay cảnh Nguyên Ngọc và hai trí thức khác là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải. Sự việc này làm ông bất bình và đã gửi thư phản đối lên Bí thư Thành ủy Hà Nội. Gần đây, ông đã xin rút tên khỏi danh sách đề cử Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011, một giải thưởng cao quý của Việt Nam, một động thái được nhiều người cho rằng nhằm phản đối quy trình bầu chọn bất hợp lý của hội đồng giải thưởng. Bút ký “Các bạn tôi ở trên ấy” viết về Tây Nguyên của ông được giải thưởng văn xuôi năm 2013 của Hội Nhà văn Hà Nội. 2. Sự nghiệp văn học. Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) gắn sự nghiệp sáng tác của mình với đề tài chiến tranh. Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc và viết tiểu thuyết Đất nước đứng lên, kể về cuộc kháng chiến chống Pháp của người Ba Na, tiêu biểu là anh hùng Núp và dân làng Kông-Hoa, dựa trên câu chuyện có thật của anh hùng Núp. Tác phẩm khi xuất bản được nhiều người yêu thích và hâm mộ. Sau này cuốn truyện được dựng thành phim. Năm 1962 ông trở lại miền Nam, lấy bí danh Nguyễn Trung Thành, hoạt động ở khu V, là Chủ tịch chi hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng của quân khu V. Thời gian này ông sáng tác truyện Rừng xà nu. Sau chiến tranh, Nguyễn Trung Thành làm Tổng biên tập của nhiều tờ báo khác nhau và đã có những tư tưởng đổi mới cho chúng.
Các tác phẩm chính của ông gồm: ● Đất nước đứng lên (tiểu thuyết, 1955) ● Mạch nước ngầm (truyện vừa, 1959) ● Rẻo cao (tập truyện ngắn, 1962) ● Rừng xà nu (truyện ngắn, 1965) ● Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (tập truyện và ký, 1969) ● Đất Quảng (tiểu thuyết 2 tập, 1971 - 1974) ● Tháng Ninh Nông (tập truyện và ký, 1999) ● Tản mạn nhớ và quên (tập ký, 2004) ● Nghĩ dọc đường (2005) ● Lắng nghe cuộc sống (2006) ● Bằng đôi chân trần (2008) ● Các bạn tôi ở trên ấy (tập bút ký, 2013) ● Đường chúng ta đi ● Có một đường mòn trên biển Đông ● Cát cháy 3. Quan điểm sáng tác Cây bút văn xuôi tài danh Nguyên Ngọc còn ý thức rất rõ và từng lý giải một cách cặn kẽ về mối quan hệ giữa ý thức về cuộc sống và cuộc sống đã được ý thức/ thế giới cuộc sống và thế giới nghệ thuật, đồng thời nhấn mạnh đặc trưng ma thuật của thể loại chủ lực của nền văn học là tiểu thuyết, coi nhà tiểu thuyết giống như người làm ảo thuật: “Thế giới, tức cuộc sống, cũng giống như trái đất vậy, vốn cong và nối liền, gồ ghề, lởm chởm, quanh co, phức tạp, là không gian ba chiều (thậm chí dường như ta còn có thể cảm nhận ra những chiều nào đó khác nữa, sâu xa, tinh tế, bí ẩn, được cuộn lại ở đâu đó) nhưng cũng giống như trái đất được vẽ lại trên tấm bản đồ, nó được chiếu trên trang giấy phẳng chỉ có hai chiều của nhà văn bằng những dòng chữ tuyến tính và lại thường xuyên đứt đoạn. Vì vậy, nhà tiểu thuyết là một kiểu nhà ảo thuật, ông ta biểu diễn trên một mặt phẳng hai chiều đơn giản, trắng trơn và nhạt nhẽo cái
thế giới ba hay hàng chục chiều vô cùng phức tạp kia, làm cho nó hiển hiện lên, còn sống động hơn (vì tích tụ, cô đọng hơn) chính cuộc sống thật nữa. Nguyễn Trung Thành cả đời gắn mình với chủ nghĩa anh hùng tuyệt đối. Đời thực và đời văn của ông đã hòa thành một. Những hình tượng anh hùng trong các tác phẩm của ông là con người đại diện cho phẩm chất và ý chí của cả cộng đồng. Những con người ấy chỉ nên được khai thác qua phương diện anh hùng cách mạng đẹp rực rỡ của họ, không được hèn nhát hay quay lưng dù chỉ là tạm thời hay giả vờ để bảo toàn sinh lực. Nguyễn Trung Thành tôn sùng chủ nghĩa anh hùng sử thi, có lẽ chính vì vậy mà ông không chấp nhận được bất cứ hành động, đối tượng nào làm sai lệch đi chủ nghĩa hoàn hảo ấy. 3.1. Trong thời kì kháng chiến Năm 1950, ông nhập ngũ rồi chuyển về làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu Năm, hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được điều về trại viết gương anh hùng của Tổng cục chính trị. Chính thời gian này ông viết tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên (1955), và lập tức đạt ngay giải nhất về tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-1955). Đây là tác phẩm đánh dấu quan trọng trên bước đường hiện đại hóa của tiểu thuyết Việt Nam trong việc phản ánh và ngợi ca cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc. Cuốn sách là sự mở đầu vang dội, vừa ra đời đã có tiếng vang trong đời sống văn học và cũng từ đây hình thành lối viết của Nguyên Ngọc theo kiểu Nguyên Ngọc. Lối viết này quán xuyến toàn bộ cuộc đời cầm bút của ông. Đó là viết về những con người có thật trong cuộc sống và chiến đấu anh hùng của nhân dân. Trên một hành trình hơn sáu mươi năm đánh vật với từng con chữ, đó là chặng đường dài chi chít dấu chân người lính hơn là nhà văn, tất nhiên, trong đó có sự song hành cùng với những cột mốc văn chương cắm sâu trong dòng chảy của dòng sông cuộc đời. Thời gian làm lính, làm công tác cách mạng nhiều hơn là thời gian chăm chuốt cho sự sinh sôi của từng con chữ. Sự nghiệp văn chương thuộc nhiều thể loại của ông quả là không nhiều, nhưng cũng không quá ít ỏi, chỉ xếp vào hàng “thường thường bậc trung” về mặt số lượng: Đất nước đứng lên (tiểu thuyết, 1955), Mạch nước ngầm (truyện vừa, 1960), Rẻo cao (truyện ngắn, 1961), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (truyện và ký, 1969), Rừng xà nu (truyện và ký, 1969), Đất Quảng (tiểu thuyết, tập 1,1971, tập 2, v...v. Chính nhà văn cũng đã từng thừa nhận là những gì mà ông và cả thế hệ nhà văn như ông làm được còn quá ít, nhưng đã kịp khắc họa chân dung một kiểu nhà văn trong lịch sử chưa từng có và trong tương lai cũng không hề
lặp lại: nhà văn – chiến sĩ. Đó cũng là bước chuyển quan trọng trong lịch sử văn học, từ nhà văn – nho sĩ trở thành nhà văn – chiến sĩ. Với quan niệm nhà văn là một nhà ảo thuật, công cụ ma thuật duy nhất của ông không có gì khác hơn là các từ. Cho nên ngôn ngữ trong văn học vừa thoạt trông cũng giống như ngôn ngữ bình thường ta vẫn nói vẫn nghe hàng ngày, lại vừa không phải là ngôn ngữ ấy, mà là một thứ mã riêng của nhà văn, thậm chí mỗi nhà văn đều phải tạo ra một thứ mã riêng của mình, để có thể thực hiện cái trò ảo thuật kỳ lạ và kỳ diệu: sáng tạo ra một thế giới nữa bên cạnh, thêm vào cái thế giới đã có này” . Thế giới nghệ thuật của Nguyên Ngọc được làm nên bởi mịt mù khói lửa chiến tranh, khi hiển hiện trước mắt, khi lắng lại trĩu nặng suy tư, dằn vặt, cào xé, nghiệm sinh trên cả quãng đường dài, đúc kết thành những tư tưởng – nghệ thuật và cả nảy sinh thành hành động/ hoạt động của một nhân cách, mang ý nghĩa văn hóa nhân văn. Là nhà văn sinh ra và trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, Nguyên Ngọc xuất hiện và khẳng định tròn vai với nhiều tư cách: người lính – người cán bộ cách mạng, nhà báo – nhà văn, nhà văn hóa - nhà dịch thuật, trong nhiều mối quan hệ tích hợp và cộng sinh với nhau, trong đó nổi bật, hoàn chỉnh và đậm màu là chân dung nhà văn và nhà hoạt động văn hóa. 2. Nhà văn Nguyên Ngọc được khẳng định đầu tiên và nổi trội là nhà tiểu thuyết, tác giả của Đất nước đứng lên và Đất Quảng. Cơ duyên dẫn dắt ông đến với văn chương, để có tiểu thuyết đầu tay đạt giải nhất, đối với ông là một may mắn: “Được sống ở Tây Nguyên thời chiến tranh là may mắn lớn nhất đời tôi. Không có cuộc gặp gỡ với mảnh đất ấy, chắc tôi không bao giờ trở thành nhà văn” . Phải đến năm năm, là khoảng thời gian ông “đã sống trong các làng của đồng bào Êđê, được cùng đồng bào đi làm rẫy làm nương, đi săn, đi bắt cá, cùng ăn cùng ở, cùng bàn bạc công tác, cùng đánh du kích, cùng dự các ngày vui và được nghe đồng bào kể các sự tích về rừng núi sông suối, về truyền thống bất khuất lâu đời của dân tộc” . Những trải nghiệm trầm tích, lắng đọng trong tâm hồn ông lâu ngày chờ khi kết tủa để thăng hoa. Đến “năm 1953, Nguyên Ngọc được gặp anh hùng Núp ở Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua Liên khu Năm. Cuộc gặp gỡ đó ghi dấu ấn khá mạnh vào tình cảm, và khơi nguồn cho cảm hứng sáng tác của Nguyên Ngọc. Tất cả vốn sống của nhà văn trước đây còn tản mạn, sau khi gặp Núp, dường như được quy về một điểm. Nhân vật chính đã được xác định. Mọi kỷ niệm, mọi ấn tượng trong anh sẽ trở về xoay quanh hình tượng trung tâm và tìm được vị trí thích hợp cho nó. Ánh sáng không loãng tan ra mà tụ lại quanh một con
người. Nhưng do vậy mà toàn cảnh bức tranh càng sáng rõ” . Truyện xoay quanh đoạn đời của một nhân vật có thật là anh hùng Đinh Núp – người mà Nguyên Ngọc được phân công ghi chép giúp thành tích để báo cáo tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua Liên khu Năm. Là truyện viết về người thật, nhưng tác phẩm đã vượt hẳn và chuyển sang một chất lượng mới khác với loại truyện kiểu này cùng thời và cả sau này. Nếu Nguyễn Tuân tài hoa là nhà duy mỹ, người suốt đời đi tìm cái đẹp, thì Nguyên Ngọc tài danh xuất thân là người lính nên suốt đời soi ngòi bút săn tìm những sự tích / tính cách anh hùng. Thật ra trong suốt hai cuộc kháng chiến, nền văn học chiến tranh của chúng ta đều tập trung vào đối tượng ấy, và đã có không ít người gặt hái được những thành công. Nhưng người anh hùng trong văn chương Nguyên Ngọc vẫn có những nét riêng, tuy vẫn được xây dựng bằng thủ pháp huyền thoại hóa nhưng vẫn xen lẫn yếu tố phi huyền thoại hóa, “dù được xây dựng theo cách nhìn sử thi, vẫn có sức sống riêng bởi cách thể hiện sinh động của tác giả” . Đó là những con người thép, thẳng băng nhọn hoắt, như mũi chông ngọn giáo, như mầm xà nu đâm thẳng lên trời, nhưng lại có vẻ gì đó hồn nhiên, hoang dại. Trái tim họ chất chứa căm thù ngùn ngụt, nhưng tâm hồn trong suốt như ngọc và hết sức hồn nhiên có tính chất bản năng như thuở ấu thơ xa xăm của nhân loại. Hằn nổi lên giữa từng câu chữ, trong từng trang sách là ý chí bất khuất của nhân dân miền Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập của tổ quốc, tiêu diệt những kẻ đã gây nên tội ác man rợ cho nhân dân. Vì vậy, nếu nói Nguyên Ngọc đến với Tây Nguyên như cái duyên, vừa là ngẫu nhiên, lại vừa là tất yếu. Con người và tính cách, nhân cách và bút lực như Nguyên Ngọc nhất thiết phải tìm đến những vùng đất dữ, có tính chất sử thi, để gặp những người như Đinh Núp, để nhận ra “ở đồng chí Núp tôi thấy tiêu biểu cho tất cả những điều tôi được biết trước nay về Tây Nguyên, tiêu biểu cho Tây Nguyên bất khuất và hết sức anh dũng” . Nhìn lướt qua hệ thống nhân vật mà nhà văn yêu quý, hầu hết đều là người già, trẻ em và nhất là phụ nữ - những con người đối lập với dữ dội của chiến tranh, yếu đuối nhưng rất kiên cường, thách thức mọi sự dã man, tàn bạo và sức mạnh sắt thép của kẻ thù. Nguyên Ngọc còn là cây bút truyện ngắn xuất sắc, tác giả của những truyện ngắn gây ấn tượng lâu bền trong lòng người đọc như Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, Đứa con, Em gái tôi, Chiện,…Hầu hết truyện ngắn của ông đều là những phác thảo đơn sơ về những con người có thật trong đời sống, được thể hiện bằng một nghệ thuật điêu luyện, tài hoa. Khác với Rẻo cao và hầu hết những truyện trong tập truyện ngắn cùng tên, Rừng xà nu có cốt truyện hoàn chỉnh, nhằm tái hiện chân thực cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân Tây Nguyên trong những ngày đánh Mỹ, phát huy truyền thống anh hùng của cha ông thời đánh Pháp, thế hệ tiếp nối trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, mà cái ác của kẻ thù càng man rợ và dữ dội gấp nhiều lần, những con người kiên trinh như Tnú, cụ Mết, Dít, bé Heng và đằng sau là dân làng Xô Man, hiện thân của những cánh rừng xà nu bạt ngàn “nối tiếp tới chân trời”. Trước khi có Rừng xà nu, Nguyên Ngọc đã từng có truyện ngắn đầu tay cũng viết về vùng đất mà ông gắn
bó máu thịt là Kỷ niệm Tây Nguyên (1957), nhưng phải đến truyện này, tác giả mới chứng tỏ được tài năng xuất sắc từ việc chọn lựa hiện thực phản ánh, tư tưởng chủ đề, đến kỹ thuật dựng truyện và ngôn từ nghệ thuật. Truyện ngắn của Nguyên Ngọc thường sử dụng kết cấu liên tưởng, đi gần với lý thuyết liên văn bản “thời thượng” của các nhà hậu hiện đại sau này, nhưng ở đây, nhà văn chỉ sử dụng thủ pháp nghệ thuật truyền thống, có sự đan xen giữa các sự kiện, con người và cảm quan nghệ thuật của nhà văn (Rẻo cao, Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, Pồn, Chiện) hoặc với Rừng xà nu là kết cấu đầu cuối tương ứng, mở và đóng tác phẩm cùng một chi tiết, một hình tượng rừng cây “xà nu ấy trông ra xa đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tới chân trời” . Bên cạnh đó, tác giả còn ý thức rất rõ sức mạnh của các chi tiết và ngôn ngữ hình tượng, tinh tế trong phát hiện và chọn lựa những phương tiện tối ưu để tạo nên không khí truyện sinh động, tạo nên những sinh thể nghệ thuật làm lay động tâm hồn người đọc nhiều thế hệ. Là người viết văn xuôi, Nguyên Ngọc luôn cày cấy trên cánh đồng màu mỡ, phì nhiêu của thực tế cuộc sống và chiến tranh cách mạng. Văn chương của ông vừa đậm chất văn xuôi tự sự vừa thấm đẫm chất thơ trữ tình. Ở ông, có sự kết hợp nhuần nhị giữa hiện thực và lãng mạn, cuộc sống và lý tưởng, số phận con người và lịch sử. III. TÁC PHẨM RỪNG XÀ NU 1. Xuất xứ Rừng xà nu (1965) ra mắt lần đầu tiên trên Tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung bộ số 2- 1965, sau đó được in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. 2. Hoàn cảnh sáng tác. Tác phẩm nghệ thuật cũng sản phẩm của tâm hồn. Khi người viết biết rung động thực sự, họ sẽ tạo ra những tác phẩm nghệ thuật đích thực. Dựa trên nguyên lý muôn thuở ấy, ở thời kì bắt đầu công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật (từ sau 1975 trở đi), nhiều ý kiến, nhiều mưu toan với văn học đã cho rằng văn học cách mạng chỉ là thứ văn
chương minh hoạ. Tất nhiên thời thế đã khác, chỉ có những kẻ cố tình bôi nhọ, cố tình nhắm mắt trước những thành tựu to lớn của văn học cách mạng mới có thể phát biểu như vậy. Cần phải hiểu một cách sâu sắc nguyên lí cơ bản nêu trên: nghệ thuật là sản phẩm của tâm hồn, những rung động trong trái tim người nghệ sĩ. Lý tưởng cách mạng, hiện thực cách mạng, quá trình kháng chiến của dân tộc chẳng phải đã khiến cho trái tim những con người yêu nước rung động hay sao? Hàng vạn người hi sinh xương máu, hàng triệu người đã ngã xuống vì dân tộc lẽ nào lại không làm cho lòng người rung động? Vậy nên, những tác phẩm văn học viết về lớp người như vậy chắc chắn chính là nghệ thuật chân chính. “Rừng xà nu” là một minh chứng sinh động cho những rung cảm lớn lao trong thời kì hào hùng của dân tộc. Truyện ngắn ra đời từ “một đơn đặt hàng của Quân khu V” nhằm phản ánh khí thế chống Mĩ của đồng bào ta khi Mỹ trực tiếp đổ bộ và tiến hành xâm lược Việt Nam. - Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ- ne –vơ được kí kết, đất nước chia làm hai miền. Kẻ thù phá hoại hiệp định, khủng bố, thảm sát, lê máy chém đi khắp miền Nam. Cách mạng rơi vào thời kỳ đen tối. Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Nguyễn Trung Thành và các nhà văn miền Nam lúc đó muốn viết “ hịch thời đánh Mĩ” . Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sôi sục đánh Mĩ. Lúc này Nguyễn Trung Thành đang đi thực tế ở Quảng Nam, chính từ “đơn đặt hàng” này mà Rừng xà nu ra đời. Tác phẩm gợi tả hình ảnh những cây xà nu to lớn, hoang dại, ngào ngạt hương thơm và lao thẳng lên trời. Đó chính là cánh rừng xà nu mà nhà văn đã nghỉ chân một đêm để chuyện trò với Nguyễn Thi. Nguyễn Thi đến với chiến trường Nam bộ con Nguyễn Trung Thành đến với quân khu V - chiến trường Tây Nguyên. Sự kết hợp giữa những rung động mãnh liệt trong trái tim người nghệ sĩ với không khí hào hùng của cuộc kháng chiến đã làm nên một Rừng xà nu đầy chất thơ. Mặc dù Rừng xà nu viết về sự kiện nổi dậy của buôn làng Tây Nguyên trong thời kì đồng khởi trước năm 1960 nhưng chủ đề tư tưởng của tác phẩm vẫn có quan hệ mật thiết với tình hình thời sự của cuộc kháng chiến lúc tác phẩm ra đời. 3. Khái quát Đây là tác phẩm khám phá về đề tài Tây Nguyên, là sự bổ sung, đóng góp cho nền văn học Việt Nam khi viết về đề tài miền núi. Tác phẩm là minh chứng cho chân lý của một thời đại. Có người cho rằng “khi đạn đại bác bắn gầm thì chim hoạ mi tắt tiếng”.
Song dân tộc Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ lại sáng ngời một chân lý hoàn toàn khác: tiếng hát át tiếng bom. Nguyễn Trung Thành cùng với Rừng Xà Nu đã đóng góp một tiếng nói của chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như các tác phẩm khác: Những đứa con trong gia đỉnh, Người mẹ cầm súng, Mảnh trăng cuối rừng... Tác phẩm phản ánh cuộc nổi dậy của người dân Tây Nguyên từ tự phát đến tự giác. Tác phẩm gồm hai câu chuyện đan cài vào nhau: câu chuyện về cuộc đời người anh hùng TNú và câu chuyện về quá trình nổi dậy của dân làng Xô Man. Tuy nhiên câu chuyện về cuộc đời người anh hùng TNú đóng vai trò chủ đạo. Thành công của tác phẩm không nằm ở chỗ xây dựng được một điển hình bất hủ mà là xây dựng thành công kiểu con người thế hệ cùng một hệ thống các nhân vật nối tiếp nhau cùng gánh vác sứ mệnh của lịch sử. Trong tác phẩm, Nguyễn Trung Thành đã xây dựng ba thế hệ con người nối tiếp nhau: thế hệ già - cụ Mết, cụ Tâng, cụ Leng; thế hệ hiện tại - TNú, Mai, anh Xút; và thế hệ tương lai - Dít, bé Heng. Các nhân vật tạo thành một hệ thống đồ sộ, là minh chứng hào hùng nhất cho cuộc trường kì kháng chiến của ta, với ngọn lửa yêu nước được truyền tiếp từ đời này sang đời khác, từ bàn tay anh đến bàn tay tôi. 4. Ý nghĩa nhan đề Đặt tên tác phẩm là Rừng xà nu, trước hết xét một cách trực tiếp, Nguyễn Trung Thành đã phản ánh một hiện tượng thiên nhiên mang đặc trưng Tây Nguyên. Xà nu là loại cây chỉ có ở Tây Nguyên gần giống với họ Thông ở miền Bắc, gỗ và nhựa rất quý rất thơm. Vì thế khi đặt nhan đề là Rừng xà nu, tác giả đã đề cập đến một phẩm chất quan trọng của thiên nhiên nơi đây: sức sống bạt ngàn, mãnh liệt và cuộc sống đầy cao khiết của xà nu. Đặt nhan đề là Rừng xà nu, nhà văn còn phản ánh một vấn đề mang tính xã hội. Rừng xà nu là biểu tượng cho số phận, phẩm chất của con người Tây Nguyên. Mỗi thế hệ xà nu tương ứng với một thế hệ con người: cụ Mết giống như cây xà nu cổ thụ, T Nú Giống cây xà nu đã trưởng thành; còn Dít và bé Heng là những cây xà nu mới nhú lên khỏi mặt đất hình nhọn mũi tên. Nhan đề tác phẩm còn thể hiện tính sử thi với một không gian hùng vĩ để làm nền cho hình tượng các nhân vật toả sáng. 5. Bố cục
- Phần 1 (từ đầu đến “những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”): Hình ảnh rừng xà nu - Phần 2 (tiếp đó đến “giội lên khắp người như ngày trước”): Câu chuyện Tnú sau ba năm đi lực lượng về thăm làng - Phần 3 (còn lại): Câu chuyện về cuộc đời bi tráng của Tnú và câu chuyện chiến đấu của dân làng Xô Man được cụ Mết kể lại 6. Tóm tắt Sau ba năm đi \"lực lượng\", Tnú về thăm làng. Bé Heng gặp anh ở con nước lớn đẫn anh về. Con đường cũ, hai cái dốc, rừng lách chằng chịt hố chông, hầm chông, giàn thò sắc lạnh. Mặt trời chưa tắt thì anh về đến làng. Cụ Mết già làng và bà con dân làng reo lên mừng rỡ. Cụ Mết đưa anh về nhà ăn cơm. Từ nhà ưng vang lên một hồi, ba tiếng mõ dài, cả lũ làng cầm đuốc kéo tới nhà cụ Mết gặp Tnú. Có ông bà già. Nhiều trai tráng và lũ con gái. Đông nhất là lũ trẻ con. Có cả cô Dít, em gái Mai, nay là bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội. Ai cũng muốn ngồi gần anh Tnú. Dít thay mặt lũ làng xem giấy có chữ kí chỉ huy cho phép Tnú về thăm làng một đêm. Quanh bếp lửa rộn lên: 'Tốt lắm rồi!\" \"Một đêm thôi, mai lại đi rồi, ít quá, tiếc quá\". Rồi cụ Mết kể lại cuộc đời Tnú cho lũ làng nghe. Tiếng nói rất trầm. \"Anh Tnú đó, nó đi Giải phóng quân đánh giặc... Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta\". Anh Xút bị giặc treo cổ, bà Nhan bị giặc chặt đầu, nó và em Mai đi vào rừng nuôi anh Quyết cán bộ. Anh dạy nó học chữ. Nó học chữ thì hay quên nhưng đi rừng làm liên lạc thì đầu nó sáng lạ lùng. Nó vượt thác, xé rừng mà, lọt tất cả vòng vây của giặc. Một lần Tnú vượt thác Đắk Nông thì bị giặc bắt, bị tra tấn, bị giặc đày đi Kon Tum. Ba năm sau, Tnú vượt ngục trốn về, lưng đầy thương tích. Tnú đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết gửi cho dân làng Xô Man trước khi anh tử thương. Tnú đi bộ lên núi Ngọc Linh đem vẻ một gùi đá mài. Đêm đêm làng Xô Man thức mài vũ khí. Thằng Dục chỉ huy đồn Đắc Hà đưa lũ ác ôn về vây ráp làng. Tiếng kêu khóc vang dậy. Cụ Mết và trai tráng lánh vào rừng, bí mật bám theo giặc. Bọn giặc đã giết chết mẹ con Mai. Tay không, nhảy ra cứu vợ con, Tnú bị giặc bắt. Chúng lấy nhựa xà nu đốt cháy mười ngón tay anh. Cụ Mết và 10 thanh niên từ rừng xông ra, dùng mác, và rựa chcm chết tất cả 10 tên ác ôn. Thằng Dục ác ôn và xác lũ lính ngổn ngang quanh đống lửa xà nu trên nhà ưng. Từ đó, làng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng. Sau đó, Tnú ra đi tìm cách mạng...\" Cụ Mết ngừng kể, rồi hỏi Tnú đã giết được mấy thằng Diệm, mấy thằng Mĩ rồi? Anh kể chuyện đánh đồn, xông xuống hầm ngầm dùng tay bóp chết thằng chỉ huy... thằng Dục, \"đúng chớ... chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục!\". Mưa rơi nặng
hạt. Không ai nhận thấy đêm đã khuya. Sáng hôm sau cụ Mết và Dít tiễn Tnú lên đường. Ba người đứng nhìn những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời... IV. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM 1. Hình tượng cây xà nu - Đây là hình ảnh trung tâm xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Nguyễn Trung Thành bắt gặp cây xà nu trên đường hành quân và lập tức “yêu say mê cây rừng xà nu từ ngày ấy. Ấy là một cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứa nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận.” 1.1. Gợi màu sắc, không gian núi rừng Tây Nguyên, gắn với cuộc sống sinh hoạt và những sự kiện trọng đại của dân làng Xô Man. Truyện xoay quanh buôn làng Xô Man ở Tây nguyên. Ở đó có loài cây họ thông, gần giống cây Pơ mu, xa mu của miền Bắc, đó là cây xà nu. Xà nu là cây ham ánh sáng mặt trời, sinh sôi nảy nở rất nhanh. Bằng sự nhạy cảm về nghệ thuật, Nguyễn Trung Thành đã nắm bắt được đặc tính này và đem gắn kết với Tây Nguyên trong bom đạn chiến tranh. Đọc \"Rừng xà nu\", ta có cảm giác đang đi giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn với hương thơm ngào ngạt như đọng nắng quê hương. Ta đang đi trên con suối ẩn hiện dưới bóng xà nu. Ta thấy đâu đây những mái nhà nép mình dưới tán cây xà nu. Xà nu là loài cây gắn bó máu thịt với người dân Tây Nguyên. Con người ta sinh ra, lớn lên, dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, việc nhà việc cửa cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay đều gắn kết với loại cây này. Vị trí của xà nu trong cuộc sống người dân Tây nguyên phần nào giống với cây tre của đồng bằng Bắc bộ, cây dừa của đồng bằng sông Cửu Long. Rừng xà nu đã ưỡn tấm ngực lớn của mình để che chở cho buôn làng Xô Man. Để hình tượng cây xà nu trở nên thuyết phục hơn, Nguyên Ngọc đã khéo léo để cho mỗi bước đi của các nhân vật đều thấp thoáng bóng cây xà nu. Trong tác phẩm này, đã hơn hai mươi lần cây xà nu hiện ra với nhiều diện mạo khác nhau: bốn lần \"rừng xà nu\", năm lần \"đồi xà nu\", cùng với nó là ngọn xà nu, cây xà nu, dầu xà nu, nhựa xà nu.... Mỗi lần hình ảnh cây xà nu xuất hiện là một lần tính cách của người dân Tây nguyên được bộc lộ. Nắm bắt được các đặc tính của xà nu phần nào đó ta cũng hiểu được tinh thần yêu nước bất khuất của ông cha ta, từ đó ta tự giáo huấn lòng
mình. Rất có lý khi có ý kiến cho rằng: \"Mỗi tác phẩm văn học chân chính là một lời đề nghị về cách sống\". 1.2. Hình tượng cây xà nu mang vẻ đẹp tương ứng, song hành với các thế hệ cách mạng tiếp nối của dân làng Xô Man. Đứng trong chiến tranh khốc liệt nhưng xà nu vẫn bảo toàn, phát triển. Đó là nhờ vào tính liên kết, tinh thần đoàn kết của các thế hệ xà nu, các lớp người Tây Nguyên. Trong cánh rừng xà nu \"nối tiếp nhau tới chân trời\" ấy, Nguyễn Trung Thành đã nhận ra có ba lứa cây xà nu bện chặt vào nhau để vượt qua bom đạn. Tương ứng với ba lứa cây đó là ba thế hệ người Tây Nguyên. Nhà văn đã tập trung nhiều bút lực của mình để mô tả lứa cây trưởng thành. Mặc dù mang trên mình đầy thương tích nhưng với sức vóc lớn mạnh đã làm mờ đi vết thương. Những cây xà nu ấy không khác gì những con chim đã đủ lông mao lông vũ, ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho buôn làng Xô Man. Tương ứng với lứa cây trưởng thành đó chính là thế hệ thanh niên như Tnú và Mai. Bên cạnh lứa xà nu trưởng thành là những cây xà nu đại thụ là chỗ dựa tinh thần của cả cánh rừng xà nu. Những cây xà nu ấy tương ứng với cụ Mết − vị già bản của buôn làng Xô Man. Thông qua lời nói \"Chúng nó cầm súng thì mình phải cầm giáo mác\" của cụ Mết, Nguyễn Trung Thành đã truyền tải ánh sáng nghị quyết mười lăm của Đảng. Bên cạnh hai lứa xà nu trên còn có những cây xà nu non, vừa nhú khỏi mặt đất đã nhọn hoắt, kiên cường lao lên bầu trời, tiếp nhận ánh sáng. Đó chính là những thế hệ thiếu niên Xô Man như bé Heng, bé Dít. Không phải ngẫu nhiên khi nhà văn viết \"Ba người đứng đó....\" 1.3. Những nỗi đau cây xà nu phải chịu cũng mà con người nơi đây phải trải qua: “có những cây bị chặt ngang mình ... ở chỗ vết thương nhựa ứa ra rồi dần bầm lại rồi đặc quyện thành từng cục máu lớn ...”: Ban đầu, nhà văn tập trung mô tả những hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà xà nu phải gánh chịu. Điều này chính là dụng ý nghệ thuật của tác giả. Đặt xà nu dưới làn mưa bom bão đạn của kẻ thù chính là làm nổi bật lên sức sống mãnh liệt, bất diệt của
xà nu. Đầu tiên, hiện lên trong mắt ta là cảnh rừng xà nu dưới tầm đại bác của giặc. \"Làng nằm trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng bắn đã thành lệ, ngày hai lần: hoặc sáng sớm, hoặc chiều tối... Cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Có những cây nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh gay gắt dưới ánh nắng hè, đen đặc rồi bầm quyện lại thành từng cục máu lớn\". Ở đoạn văn này, Nguyễn Trung Thành chủ yếu sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa. Nhà văn đã mô tả những thiệt hại mà rừng xà nu phải gánh chịu trong mưa bom bão đạn của quân thù. Đây cũng chính là những hi sinh, mất mát mà đồng bào Tây Nguyên nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng phải gánh chịu trong những năm chiến tranh khốc liệt. Viết về chiến tranh, Nguyên Ngọc đã không hề né tránh viết về cái chết. Đó là anh Xút bị chúng treo cổ lên cây vả đầu làng. Đó là bà Nhan bị chúng chặt đầu treo ở mũi súng. Đó là vợ con Tnú bị chúng dùng gậy sắt tra tấn đến chết. Tất cả là minh chứng cho tội ác chiến tranh của quân xâm lược, lũ bán nước. Nếu thiếu đi hiện thực khốc liệt này thì \"Rừng xà nu\" chỉ còn là một sự tích đẹp về chiến tranh theo lời nói nhà văn Đỗ Kim Hồi. 1.4. Là kiểu ẩn dụ độc đáo về sức sống bất diệt, tinh thần bất khuất, sức mạnh vùng dậy của dân làng Xô Man trong phong trào đấu tranh vũ trang. Mặc dù đứng trong làn mưa bom bão đạn là vậy nhưng rừng xà nu vẫn xanh tốt, như thách thức bom đạn kẻ thù: \"đạn đại bác không giết nổi chúng\". \"Bên cạnh những cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn như mũi tên vươn thẳng lên bầu trời tiếp lấy ánh sáng\". Đây chính là dụng ý nghệ thuật của nhà văn làm nổi bật lên sức sống mãnh liệt của xà nu. Nếu có ngã gục thì đó chính là điều kiện sống, tiền đề để thế hệ xà nu tiếp theo mọc lên. Người Tây Nguyên cũng vậy. Trong chiến tranh, họ hi sinh rất nhiều, họ phải sống rất khổ cực, khó khăn nhưng trong lòng những người dân nơi đây chỉ có hai chữ \"trung thành\" với cách mạng mà thôi. Cụ Mết cũng đã khẳng định chắc chắn: \"Đảng còn thì núi nước này còn\". Càng gần bom đạn thì xà nu lại càng coi thường bom đạn. Bom đạn hiện ra như một hoàn cảnh thách thức bản lĩnh cứng cỏi, anh hùng của người Việt Nam trong chiến tranh. Đó là những con người
\"Đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép Xa nhau không hề rơi nước mắt Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt\" Bom đạn có thể phá hủy mọi cơ sở vật chất dù có kiên cố đến đâu nhưng vẫn không bẻ gãy được sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Những con người vẫn sống, vẫn chiến đấu, vẫn yêu nhau, vẫn đợi chờ và tin tưởng một ngày toàn thắng. Điều này đã thể hiện rõ ở mối tình của Mai và Tnú − những con người đã góp phần viết nên huyền thoại Việt Nam ở thế kỷ hai mươi. Không phải ngẫu nhiên khi nhà văn Nga Ni- cu-lin đã thốt lên rằng: “Người Việt Nam trong chiến tranh họ đẹp hơn ra thì phải?\". Chúng ta may mắn được sinh ra trong thời bình nên không thể chứng kiến được thời kỳ \"tiếng hát át tiếng bom\". Nhưng có ý kiến cho rằng: \"Những gì chưa đọng lại trong đời thì đọng lại trong văn chương\". Hãy trở về với thơ ca thời kỳ lửa cháy để bắt gặp một rừng xà nu xanh tốt, bạt ngàn chạy tít tới tận chân trời. ta còn bắt gặp \"Tiếng bom ở Seng Phan\" của Phạm Tiến Duật \"Tôi đứng giữa Seng Phan Cao hơn tiếng bom là tiếng suối tiếng đàn Tiếng mìn công binh đánh đá Tiếng điếu cày rít lên thong thả Tiếng oai nghiêm xe rú máy trên đường Thế đấy! Giữa chiến trường Tiếng bom nghe rất nhỏ\" Đứng giữa cánh rừng xà nu mãnh liệt sức sống như vậy thì bom đạn của kẻ thù cũng nhỏ như thế mà thôi.
1.5. Kết cấu đầu cuối tương ứng: ở đầu và kết thúc câu chuyện đều là hình ảnh rừng xà nu bạt ngàn, tạo ra không gian sử thi cho tác phẩm. Để khẳng định sức sống bất diệt của xà nu cũng như đồng bào Tây Nguyên trong chiến tranh, nhà văn Nguyễn Trung Thành đã khéo léo xây dựng hình ảnh cây xà nu thông qua kết cấu của truyện. Ai đã từng đọc truyện ngắn \"Rừng Xà nu\" đều nhận thấy có hai câu văn tưởng chừng như trùng lặp nhau. Đó là câu văn phần đầu tác phẩm: \"Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp nhau tới chân trời\" Mặc dù hàng ngày, cánh rừng xà nu ấy phải gánh chịu hai trận pháo kích của quân thù nhưng vẫn xanh tốt đến lạ kỳ. Để đến cuối tác phẩm, nhà văn tự hào viết: \"Ba người đứng đó nhìn ra xa, đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp tới tận chân trời\". Mới đọc qua, chúng ta có cảm giác đây là hai câu văn giống nhau nhưng nếu để ý ta sẽ thấy sự thay đổi về số lượng, cũng như chất lượng của những cây xà nu. Đây là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Thành Trung. Muốn hiểu được sức sống bền bỉ, dẻo dai của xà nu cũng như tinh thần yêu nước của đồng bào Tây Nguyên qua kết cấu này thì ta phải đặt chúng dưới hai góc độ không gian và thời gian. Nếu để đồi xà nu thành rừng xà nu chạy tít tới tận chân trời thì cần có một khoảng cách về thời gian. Thời gian ấy được đo bằng 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ. Hai mươi mốt năm đó là hai mươi mốt thế hệ xà nu nhã gục, nhưng cùng với đó là hai mươi mốt thế hệ xà nu vươn lên đón lấy ánh sáng mặt trời. Nhìn rộng ra, đó là hai mươi mốt thế hệ đồng bào Tây Nguyên ra trận. Đó là cuộc chạy tiếp sức của hai mươi mốt thế hệ mang trong mình ngọn lửa sức sống Việt Nam. Cũng như cây xà nu ấy, người Tây Nguyên cũng truyền ngọn lửa sức sống từ đời này sang đời khác, từ lồng ngực của người già sang người trẻ.
\"Lớp cha trước, lớp con sau Cũng thành đồng chí chung câu quân hành\" Lớp lớp người Tây Nguyên ra trận ào ào như gió thổi mà ở tác phẩm này ta thấy ngọn lửa truyền từ tay anh Quyết − một Đảng viên tới tay Tnú và Mai. Rồi cuộc đời Tnú lại là tấm gương sáng cho thế hệ sau như Dít, Heng noi theo. Đó là những con người viết lên bản hùng ca của Tây Nguyên bất khuất. \"Tôi muốn viết bài thơ trên báng súng Con lớn lên để viết tiếp thay cha Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống Người hôm nay viết tiếp người hôm qua\" \"Rừng xà nu\" đã phản ánh một cách trung thực tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên khi có một ý kiến cho rằng: \"Rừng xà nu\" là sự thu nhỏ, cô đặc của tiểu thuyết \"Đất nước đứng lên\". Tuy nhiên, để hiểu sâu kết cấu này, ta nhận thấy \"đồi xà nu\" ở câu văn thứ nhất so với \"rừng xà nu\" của câu văn thứ hai thiếu đi sự liên kết. Nhà văn đã mượn hình ảnh này để phản ánh tinh thần đấu tranh từ tự phát cá nhân sang tự giác cách mạng. Khoảng thời gian và không gian ấy chính là đồng bào Tây Nguyên đã giác ngộ nghị quyết mười lăm của Đảng\". 1.6. Tổng quan, nghệ thuật: - Tóm lại, hình tượng cây xà nu là một sáng tạo vô cùng độc đáo và xuất sắc của Nguyễn Trung Thành. Rừng xà nu như một nhân chứng lịch sử, băng qua thời kì lao khổ nhất của cách mạng, chứng kiến sự anh hùng, kiên cường, bất khuất của đồng bào miền cao nguyên. Đặt trong sự đối trọng với con người, nó là kết tinh tinh thần, phẩm chất, ý chí, số phận của con người Tây Nguyên - là những gì đau thương mà hào hùng, đẹp đẽ nhất của đồng bào trong thời kì kháng chiến. - Nghệ thuật:
+ Chi tiết chọn lọc, từ ngữ mang sắc thái biểu cảm cao, giàu sức gợi. Hàng loạt động từ, trạng từ gây cảm giác mạnh được huy động cho mục đích miêu tả: ào ào, ứa, tràn trề, ngào ngạt, long lanh, gay gắt, bầm, ngã gục, lao thẳng, phóng, vượt, ưỡn v.v... + Kết cấu đầu cuối tương ứng. + Miêu tả từ khái quát đến chi tiết, phối hợp nhiều giác quan trong việc miêu tả những cây xà nu với vóc dáng tràn đầy sức lực. + Hình tượng cây xà nu vừa hiện thực lại mang đậm tính biểu tượng. Miêu tả cây xà nu trong sự so sánh đối chiếu thường xuyên với con người. Các hình thức ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng đều được vận dụng nhằm thể hiện sống động, hùng vĩ, khoáng đạt vẻ đẹp thiên nhiên đồng thời gợi ra nhiều suy tưởng sâu xa về con người. 2. Hình tượng thế hệ quá khứ - cụ Mết Truyện ngắn “Rừng xà nu” cũng tương tự như một cuốn sử thi. Tuy nhiên, ở đó không tập trung làm bật lên hình tượng tù trưởng như Đăm Săn, Xinh Nhã mà là hình tượng tập thể các thế hệ làng Xô Man anh hùng. Thế hệ đầu tiên, người còn lại gần như là duy nhất – cụ Mết. Do vậy khi khắc họa hình tượng nhóm thế hệ đời đầu, Nguyễn Trung Thành tập trung vào khắc họa nhân vật cụ Mết. Cụ Mết là nhân vật tiêu biểu cho lớp già làng dân làng Xô Man, tựa cây xà nu đại thụ. Cụ Mết như chứng nhân lịch sử, là pho tàng kinh nghiệm sống, là bộ biên niên sử của một thời “đất nước đứng lên”. Hơn ai hết, các thế hệ sau coi cụ Mết như cây cột vững chắc để nương tựa tinh thần và niềm tin vào cách mạng. Cụ Mết dạy con cháu lẽ phải, điều đúng. Lời cụ Mết như lời sấm truyền chân chính thay phát ngôn về tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Trung Thành. 2.1. Ngoại hình - Già nua, khỏe khoắn, quắc thước:
Ngay khi vừa xuất hiện, ấn tượng về một vị già làng mạnh mẽ đã thể hiện trong chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”. Tác giả Nguyễn Trung Thành như đã vẽ những nét vẽ ngoại hình về một cụ già “quắc thước … mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng … ngực căng như một cây xà nu lớn” . Đây là dáng vóc của một người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên, với vẻ đẹp kì vĩ, lớn lao. Những câu văn đã khắc họa hình ảnh của một già làng sắc xảo, kiên nghị, vững chãi, qua đó nói lên được vẻ tiềm tàng sức mạnh thể chất, tràn trề uy lực tinh thần, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ với cộng đồng. - Giọng nói: Đặc biệt, cụ Mết có “giọng nói ồ ồ dội vang trong lồng ngực” tựa âm hưởng núi rừng đại ngàn, kết tinh mọi trầm tích văn hóa. 2.2. Những nét cá tính - Cụ là người quắc thước và nghiêm nghị: Qua chính những cách nói như ra lệnh, ngôn ngữ giản dị mà dứt khoát thể hiện sự quyết đoán của những người đứng đầu, hay cả những việc cụ không bao giờ khen, khi vừa ý nhất cũng chỉ nói “Được” là tính cách của những người luôn yêu cầu cao ở người khác cũng như ở chính mình. Có thể thấy đặc biệt ấn tượng ở cụ Mết mà người đọc có thể nhận thấy đó chính là giọng nói, đó là “tiếng nói ồ ồ đội vàng trong lồng ngực”, tiếng nói ấy hoặc “vang” khi hô hào dân làng Xô Man nổi dậy đánh giặc hoặc “trầm và nặng” như tiếng vọng của núi rừng. Và đó chính như lời phán truyền của quá khứ khi kể chuyện về cuộc đời Tnú, về lịch sử oanh liệt của làng, tiếng nói ấy tha thiết trang nghiêm khi nhắc nhở dân làng và con cháu: “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy!…” - Một già làng giàu kinh nghiệm, tỉnh táo, sáng suốt, có tầm nhìn xa trông rộng:
Qua sự miêu tả của tác giả ta có thể thấy cụ Mết là người đàn ông từng trải, sắc sảo, kiên cường, có uy lực mạnh mẽ đối với cộng đồng. Những lời nói, lời chỉ huy của cụ hết sức mạnh mẽ, quyết đoán khi thì “vang” để kêu gọi đồng bào đứng lên khi lại “trầm và nặng” để kể về quá khứ lịch sử, để khắc sâu vào tâm khảm thế hệ trẻ về truyền thống dân tộc, khơi dây lòng căm thù giặc. Lời khen đối với cụ là điều vô cùng hiếm hoi, ai làm tốt lắm, cụ cũng chỉ khen một chữ “được”. Yêu cầu cao đối với người khác như vậy, chứng tỏ bản thân cụ cũng rất khe khắt với chính mình. Nếu như Tnú có đôi lúc vì tình thân mà có những hành động cảm tính thì cụ Mết lại là người hết sức tỉnh táo, sáng suốt trong việc nhận định tình hình. Cụ có thể khống chế cảm xúc của bản thân trong những lúc gay go, quyết liệt nhất để đưa ra những hành động chính xác, đứng đắn lãnh đạo nhân dân nổi dậy đấu tranh. Trước trận đòn roi mà Mai phải chịu đựng, cụ đã có quyết định hết sức sáng suốt “Tao cũng chỉ có hai bàn tay không. Tạo quay vào rừng … tìm bọn thanh niên …tìm giáo mác”. Ý chí sáng suốt đó của người đứng đầu đã giúp dân làng chiến thắng lại kẻ thù tàn bạo. Trong quá trình đấu tranh sẽ xảy ra biết bao đau thương mất mát. Kể lại với con cháu, cụ Mết không chỉ nhắc lại những đau thương, những chiến thắng ta đạt được, mà còn khái quát quy luật trong chiến đấu, trong cách mạng: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Sự khái quát đó là vô cùng chính xác và đúng đắn với lịch sử cách mạng nước nhà. Khi quân thù xâm lược, ta không thể nhún nhường, nhượng bộ mà phải sử dụng bạo lực cách mạng để giành lại tự do, độc lập cho muôn dân. - Cụ Mết hiện lên là người có tình yêu sâu sắc, sự gắn bó máu thịt với quê hương, với đồng bào thương mến: Khi nhân vật Tnú đi xa về, cụ đã dẫn anh ra máng nước đầu làng dội rửa, bằng việc ấy, cụ như muốn nhắc nhở người con xa quê. Và cho dù có đi tới phương trời nào cũng phải ghi nhớ và trân trọng nguồn cội thiêng liêng của quê hương. Nói chuyện với Tnú thì dường như ở cụ luôn tự hào khẳng định bằng cách nói tuyệt đối, cũng có thể có phần hơi cực đoan, thái quá, cách nói quen thuộc của lòng yêu: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta” và câu “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Dường như đối với cụ Mết, quê hương hiện lên thật đẹp đẽ và lớn lao, thiêng liêng và thân thuộc. Đó chính là hình ảnh dòng nước trong nguồn, hạt gạo trên nương cho tới những cánh rừng xà nu bạt ngàn, mạnh mẽ và cường tráng biết bao nhiêu.
Trong những năm kháng chiến chống Mĩ hào hùng, ác liệt, cụ Mết chính là cây xà nu lớn, là chỗ dựa tinh thần cho bản làng, để đưa đường chỉ lối cho nhân dân. Cụ là người đem Đảng đến với mọi người, cụ trung thành tuyệt đối với cách mạng. Cụ Mết luôn luôn tâm niệm và dặn dò con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ gắn sinh mệnh của nhân làng với sinh mệnh của Đảng, từ đó nêu cao trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người phải hết mình cống hiến cho đảng, tiêu diệt giặc Mĩ. Trong năm tháng kháng chiến gian khổ với Mĩ, cụ cũng là người có tầm nhìn xa trông rộng, cụ luôn động viên, dặn dò mọi người dự trữ lương thực, bởi cuộc chiến với giặc Mĩ là cuộc chiến trường kì. Như vậy, người đọc cũng có thể thấy tấm lòng trung thành với Đảng và cách mạng của cụ Mết cũng xuất phát từ tình yêu sâu sắc với rừng núi quê hương. Và chính bên trong con người có vẻ ngoài quắc thước, nghiêm nghị ấy lại là một trái tim trĩu nặng tình thương yêu đối với dân làng. Nhất là khi Tnú trở về thăm làng sau ba năm đi lực lượng, cụ Mết đã đón anh bằng tấm lòng yêu thương nồng hậu của một người cha, và cụ Mết đã quyết định anh ở nhà cụ trong đêm về làng, động viên khích lệ anh rằng “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”. Chính chi tiết này ta như có thể thấy được cụ Mết dường như đã đem đến cho Tnú- một người con bất hạnh của dân làng Xô Man thấy được một cảm giác ấm áp của gia đình khi trở về làng. Và khi ngồi ăn cơm với Tnú, nhìn hai bàn tay cụt đốt của anh, “ông cụ đặt chén cơm xuống giận dữ”, đó chính là một trong những biểu hiện sâu sắc nhất của nỗi đau đớn xót thương cho Tnú. Và dường như những nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo không thể nguôi ngoai. Khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú, mặc dù câu chuyện đã xảy ra tới ba năm nhưng dường như ở cụ cũng không kìm nổi sự tiếc thương vô hạn và đau đớn và xúc động, cụ Mết thật “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt” như muốn che giấu lòng mình vậy. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộ trái tim nhân hậu và tình yêu sâu sắc của cụ với dân làng. Và khi nhận được gói muối quý giá từ những người đi xa về, cụ Mết đã luôn luôn chia đều cho các bếp trong làng, để dành cho những người đau ốm. Đó chính là vị mặn của những hạt muối nhỏ bé, cũng là vị mặn đậm đà của tình yêu thương trong trái tim người già làng. 2.3. Tổng quan - Tóm lại: Cụ Mết là một hình tượng đẹp đẽ, là người đứng đầu, người dẫn dắt chỉ lối cho thế hệ mai sau. Với ngòi bút miêu tả đặc sắc, chân thật tác giả đã tạc lại cho bạn đọc một
chân dung thật sống động về người già làng của người Tây Nguyên. Qua nhân vật này, Nguyễn Trung Thành thể hiện tấm lòng ca ngợi chân thành với những con người Tây Nguyên kiên cường, bất khuất trong cuộc kháng chiến trường kì với đế quốc Mĩ. - Nghệ thuật: + Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, mang đậm tính sử thi, đại diện cho phẩm chất, ý chí, số phận cộng đồng. + Chi tiết nhỏ mà đắt giá: tiếng nói rất trầm, cái nắm vai chặt “như một cái kìm sắt”, mắt sáng, vết sẹo ở má, tiếng nói dội vang trong lồng ngực,... + Cử chỉ, lời nói đậm chất Tây Nguyên, đặc tả hình tượng con người thế hệ. + Ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng hào hùng, bi tráng. 3. Hình tượng thế hệ hiện tại: Tnú và Mai 3.1. Hình tượng Tnú a. Sơ lược Tnú là nhân vật chính xuyên suốt truyện ngắn Rừng xà nu, mồ côi, được sống và lớn lên trong vòng tay bảo bọc, nâng đỡ của dân làng Xô Man, một ngôi làng có truyền thống đánh giặc. - Tnú được thừa hưởng từ cái nôi truyền thống nhiều phẩm chất tốt đẹp và trở thành một con người mang vẻ đẹp kết tinh của cộng đồng, mà theo lời cụ Mết nói: “Đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Có cuộc đời nhiều đau thương, khổ ải: phải tận mắt chứng kiến cái chết thương tâm của người vợ trẻ và đứa con chưa đầy tháng dưới tay giặc, bị giặc bắt, tra
tấn, dùng nhựa xà nu đốt cháy mười đầu ngón tay của anh, khiến anh mất đi đôi bàn tay khỏe mạnh, đủ đầy. => Thử thách để giúp Tnú trưởng thành trong sự nghiệp cách mạng, cũng như củng cố và làm sáng rõ hơn lý tưởng chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tnú là hiện thân của thế hệ hiện tại - những con người tràn trề sức trẻ, nồng nàn lòng yêu nước, gan góc, ngoan cường, không ngại gian khó, không sợ hiểm nguy - sẵn sàng hi sinh thân mình cho Tổ quốc. Anh chính là cây xà nu vạm vỡ, khỏe khoắn nhất của miền Tây Nguyên, dù cho mưa bom bão đạn chém ngang người vẫn cứ sừng sững che chở cho đồng bào, “đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…” Tnú là một anh hùng mang đậm vẻ đẹp sử thi, đại diện tiêu biểu nhất cho nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Trung Thành; điều này được thể hiện ở mối dây liên kết mật thiết giữa anh và cộng đồng. b. Vẻ đẹp * Vẻ đẹp từ tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng, sự căm thù giặc sâu sắc và ý thức tổ chức kỷ luật cao. + Tham gia lực lượng vũ trang, nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng khi được phép, Tnú mới trở về thăm buôn làng, và chỉ ở lại đúng một ngày đêm. + Tính kỉ luật cao trong mối quan hệ với cách mạng biểu hiện thành lòng trung thành tuyệt đối: bao nhiêu lần bị giặc bắt, tra khảo, Tnú vẫn không hé răng nửa lời phản bội cách mạng. Khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt cả gan ruột nhưng Tnú không kêu van nửa lời, trong đầu chỉ tâm niệm một lời dặn của anh Quyết “người cộng sản không thèm kêu van”.
+ Khi giặc hỏi cồn sản ở đâu, Tnú đã đặt tay lên bụng, dõng dạc nói: “cộng sản ở đây này”. Đặt hai chữ cộng sản vào bụng để ghi lòng tạc dạ, Tnú đã cho thấy tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng. + Khi đối diện với quân giặc và lũ cướp nước, phẩm chất của Tnú lại được thể hiện hiên ngang và bất khuất hơn. Lần thứ nhất khi bị giặc bắt, giam cầm, tra khảo suốt ba năm, Tnú vẫn không khai và vẫn giữ vững được trọn phẩm chất cách mạng. Rồi sau đó anh vượt ngục trở về nhà. Vừa về làng anh lại tham gia vào đội du kích tự nguyện đi bộ ba ngày lên núi gùi đá mài, gươm giáo, chiến đấu bảo vệ xóm làng. Trong tâm trí anh luôn cháy bỏng ngọn lửa cách mạng, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. * Vẻ đẹp ở tính cách trung thực, gan góc, dũng cảm, mưu trí + Giặc giết bà Nhan, anh Xút nhưng Tnú (lúc bấy giờ còn nhỏ) không hề sợ hãi. Tnú vẫn xung phong cùng Mai vào rừng nuôi giấu cán bộ. + Học chữ thua Mai, Tnú đập vỡ bảng, lấy đá đập vào đầu đến chảy máu. + Đi liên lạc, Tnú không đi đường mòn mà “xé rừng mà đi”, không lội chỗ nước êm mà “lựa chỗ thác mạnh vượt băng băng như con cá kình.” Bởi theo Tnú, có những chỗ nguy hiểm mới là nơi giặc không ngờ đến. Đó là biểu hiện của lòng gan dạ, sự mưu trí, không màng gian khó hiểm nguy, hết lòng với cách mạng. + Bị giặc phục kích, bị tra tấn dã man nhưng Tnú quyết không hé răng nửa lời, không chịu khai ra chỗ nuôi giấu cán bộ. Khi bọn giặc kéo về làng, hỏi Tnú cộng sản ở đâu thì Tnú đặt tay lên bụng, dõng dạc nói “cộng sản ở đây này”. Một đứa bé dám đối mặt với giặc để nói lên lòng yêu nước, bất chấp việc có thể bị giết - điều đó chỉ có thể có ở những con người của cách mạng, là cây xà nu đang lớn giữa đại ngàn, sẵn sàng đương đầu với gió bão trước mặt. + Khi bị bắt, Tnú nhanh trí nuốt ngay lá thư vào bụng. * Một trái tim yêu thương và sục sôi căm giận
+ Tnú là người sống rất nghĩa tình. + Nghĩa tình với quê hương, bản làng, với đồng bào thương mến: Anh lớn lên trong sự đùm bọc, che chở của dân làng Xô Man. Cụ Mết đã nói về anh đầy tự hào:“ “Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ nhưng bụng nó sạch trong như nước suối làng ta.” + Nghĩa tình với Mai, cô bạn thuở nhỏ và sau này là vợ mình. - Khi Mai mới sinh con, Tnú đã xé đồ của mình làm đôi để cho làm tấm địu con, đó là tấm lòng hy sinh, lòng yêu thương của một người cha đối với đứa con bé bỏng.Tnú đã tay không xông ra cứu vợ con. Động lực ghê gớm ấy chỉ có thể được khơi nguồn từ trái tim cháy bỏng ngọn lửa yêu thương và ngọn lửa căm thù. Tnú đã không bỏ mặc vợ con, dẫu chực chờ anh phía trước mặt chỉ có hiểm nguy chen chúc với hiểm nguy. + Lòng căm thù của Tnú cũng đậm chất Tây Nguyên. Tnú mang trong mình ba mối thù sâu đậm: Thù của bản thân, thù của gia đình, thù của buôn làng. * Số phận của Tnú: Số phận của Tnú cũng tiêu biểu cho số phận của đồng bào Tây Nguyên. Tnú cũng đã có những ngày tháng hạnh phúc, được ở bên Mai từ thuở nhỏ cho đến lúc trở thành vợ chồng, có với nhau một đứa con. Tác giả tập trung miêu tả về số phận đau thương của nhân vật để dẫn đến cao trào của tác phẩm. Chính mắt Tnú chứng kiến kẻ thù tra tấn dã man vợ con mình. Chính T nú đã hành động theo trái tim hòng cứu vợ con nhưng không những không cứu được họ mà bản thân anh cũng bị giặc bắt và tra tấn khủng khiếp: đốt mười đầu ngón tay, nơi thần kinh nhạy cảm nhất. Hình ảnh đôi bàn tay của Tnú là một chi tiết nghệ thuật độc đáo và đặc sắc. Khi trở về thăm làng, cụ Mết hỏi “Mười ngón tay mày đã mọc ra rồi chưa Tnú?”, và câu chuyện kể cũng được bắt đầu từ đây. Bàn tay lành lặn là bàn tay trung hậu, nghĩa tình; bàn tay bị đốt là bàn tay bất khuất, kiên cường; bàn tay cụt ngón lại là bàn tay chứng kiến tội ác kẻ thù, là lòng căm hận Tnú mang theo suốt đời. Cuộc đời Tnú là khúc ca bi tráng về những con người bất khuất trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng dân tộc. Dù đau thương, mất mát nhưng Tnú vẫn cứ đứng lên, vẫn trở thành chiến sĩ giải phóng anh hùng - hình ảnh con người đẹp nhất thời kì chống Mĩ, nhưng vẫn là đứa con nặng nghĩa, nặng tình với buôn làng. Đồng bào Tây Nguyên đã có biết bao con người đẹp như Tnú trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
+ Hình tượng Tnú điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên làm sáng tỏ chân lí của thời kì đánh Mĩ “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo.” + Bi kịch của Tnú khi chưa cầm vũ khi là bi kịch của người dân S trá khi chưa giác ngộ chân lí (bà Nhan, anh Xút). Tnú là người có thừa sức mạnh cá nhân nhưng anh vẫn thất bại thảm hại khi chưa cầm vũ khí. Với đôi bàn tay không trước kẻ thù hung bạo, anh đã không thể bảo vệ vợ con hay chính bản thân mình. + Tnú chỉ được cứu khi dân làng Xô Man cầm vũ khí đứng lên. Cuộc đời bi tráng của Tnú là minh chứng cho chân li: phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng. + Con đường đấu tranh của Tnú từ tự phát đến tự giác cũng là con đường đấu tranh đến với cách mạng của dân làng Xô Man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung. ● Hình tượng đôi bàn tay - Vị trí xuất hiện: Đôi bàn tay Tnú xuất hiện xuyên suốt trong tác phẩm từ lúc Tnú còn bé cho đến khi trưởng thành. Tập trung nhất là hình ảnh đôi bàn tay bị lửa đốt cụt 10 ngón mà cụ Mết đã nhắc đến trong lần Tnú về thăm buôn làng. - Đôi bàn tay lúc còn lành lặn: + Mở đầu là hình ảnh hai bàn tay lúc Tnú còn nhỏ. Ngày ngày, Tnú cùng cô bé Mai lên rẫy trồng tỉa, mang gạo nuôi cán bộ Quyết hoạt động bí mật trong rừng sâu. Công việc hết sức nguy hiểm nhưng Tnú không hề sợ hãi. Khi anh Quyết hỏi: Các em không sợ giặc bắt à ? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó; Tnú đã trả lời ngay: Cụ Mết nói: Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn. Sự hiểu biết về Đảng, về cách mạng của Tnú tuy hồn nhiên, mộc mạc nhưng không kém phần đúng đắn và sâu sắc.
+ Bàn tay Tnú vụng về, ngượng nghịu cầm viên phấn làm bằng đá trắng lấy từ núi Ngọc Linh về để tập viết chữ lên tấm bảng đen đan bằng nứa hun khói xà nu. Tnú đã cầm đá đập vào đầu chảy máu vì giận mình học bài mãi không thuộc, hay quên cái chữ. Hành động ấy thể hiện quyết tâm của Tnú, bởi Tnú nghĩ: Không học chữ sao làm được cán bộ giỏi. + Bàn tay Tnú khéo léo giấu cái thư bí mật của anh Quyết mang về huyện theo đường giao liên để nộp cho cấp trên. Khi bị giặc bắt, Tnú đã kịp nuốt luôn cái thư. Giặc giải Tnú về làng, bắt Tnú khai ra người nào là cộng sản? Cộng sản ở đâu? Tnú đã dũng cảm đặt tay lên bụng mình rồi nói: Ở đây này! Bị giặc bỏ tù, ba năm sau, Thú vượt ngục trở về làng, đôi tay anh cần mẫn lấy đá trên đỉnh núi Ngọc Linh về để dân làng mài giáo mác giết giặc. + Lớn lên, đôi bàn tay Tnú thể hiện tình yêu thủy chung với vợ con và quyết tâm chiến đấu chống quân thù. Trong cái đêm lũ giặc hèn hạ dùng mẹ con Mai để nhử bắt Tnú nhằm triệt phá phong trào cách mạng của dân làng Xô Man, hai bàn tay của anh bất lực níu chặt lấy gốc cây, bứt đứt hàng chục trái và khi từ chỗ nấp cắn răng nhìn cảnh vợ con bị giặc tra tấn : Cây sắt thứ hai đập vào trước ngực Mai, chị lật đứa bé ra sau lưng. Nó lại đánh sau lưng, chị lật thằng bé ra trước ngực. Trận mưa cây sắt mỗi lúc một dồn dập. Không nghe thấy tiếng thét của Mai nữa. Chỉ nghe đứa bé khóc ré lên một tiếng rồi im bặt. Chỉ còn tiếng cây sắt nện xuống hừ hừ. + Mặc dù cụ Mết ra sức ngăn cản nhưng trước cảnh vợ con bị giặc đánh đập tàn bạo, Tnú không thể chịu nổi: …hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn. Tình yêu thương vợ con tha thiết và căm thù giặc sồi sục khiến Tnú thà chết xông ra để cứu vợ con: “Một tiếng hét dữ dội. Tnú đã nhảy xổ vào giữa bọn lính. Anh không biết đã làm gì. Chỉ thấy thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng Dục thảo chạy vào nhà ưng.” Tiếng lên đạn lách cách quanh anh. Hình ảnh hai mẹ con Mai chui vào ngực anh, hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai và hai mẹ con chết trong vòng tay ấy như đẩy nỗi
đau đớn lên đến tột cùng. Tnú có sức mạnh, có lòng gan dạ và quả cảm, nhưng anh không cứu được vợ con. Cuối cùng, anh bị giặc bắt vì chỉ cố đôi bàn tay không giữa lũ giặc hung tàn lăm lăm súng đạn. Câu chuyện bi thương của Tnú đã thành một bài học xương máu mà cụ Mết mong Tnú và con cháu sau này luôn luôn ghi nhớ: “Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” Đó là chân lí giản dị mà vô cùng đúng đắn của thời đại đấu tranh giải phóng dân tộc. - Đôi bàn tay bị giặc đốt: + Hình ảnh đôi bàn tay Tnú bị giặc quấn giẻ tẩm nhựa xà nu rồi đốt cháy trong cái đêm anh bị bắt vừa có ý nghĩa tố cáo tội ác dã man của kẻ thù, vừa thể hiện lòng dũng cảm, khí phách kiên cường của Tnú. Đây là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, giàu tính tạo hình, được nhà văn Nguyễn Trung Thành chủ ý tô đậm và nhấn mạnh. Bọn giặc đốt mười ngón tay Tnú nhằm khủng bố và tiêu diệt ý chí phản kháng của dân làng Xô Man. Thằng ác ôn Dục đã giơ cao ngọn đuốc, cười sằng sặc và dọa: “ Đứa nào muốn cầm rựa, cầm giáo thì coi bàn tay thằng Tnú đây!” Kẻ thù tìm mọi cách để tiêu diệt lòng yêu nước của dân làng Xô Man. Chúng tra tấn Tnú ngay trước sân nhà rông, trong không khí căm thù sôi sục của dân làng. + Tác giả miêu tả rất kĩ hình ảnh mười ngón tay Tnú bị giặc đốt cháy bằng những câu văn gây xúc động mạnh mẽ: > Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc. > Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng. > Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…”. Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi !
Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không! + Hình ảnh đôi bàn tay cháy rừng rực của Tnú thể hiện phẩm chất dũng cảm phi thường của người anh hùng thời đại. Tuy da thịt bị thiêu đốt đau đớn tột cùng nhưng anh không hề khóc lóc, kêu van. Thái độ căm thù giặc mãnh liệt hiện rõ trong đôi mắt mở trừng trừng, trên đôi môi bị chính anh cắn nát, trong vị máu mặn chát ở đầu lưỡi. Nỗi đau nén lại trong lồng ngực để rồi òa vỡ ra thành một tiếng thét dữ dội. Tnú đã thét lên tiếng thét căm hờn, khinh bỉ vào mặt lũ tay sai tàn ác. Tiếng thét ấy làm cho dân làng Xô Man bừng tỉnh, thôi thúc dân làng vùng dậy cầm giáo cầm mác giết chết cả tiểu đội lính ngụy. + Nỗi đau đớn tột cùng và lòng căm thù sôi sục của Tnú đã truyền sang dân làng Xô Man. Trong khoảnh khắc, cụ Mết đã lãnh đạo dân làng dùng giáo mác giết sạch bọn thằng Dục có trang bị vũ khí đầy đủ. Mười ngọn đuốc cháy rừng rực trên hai bàn tay Tnú không làm cho lòng người Xô Man nao núng, khiếp sợ như kẻ thù mong muốn; ngược lại, hình ảnh đó càng nung nấu căm thù và tiếp thêm sức mạnh cho mọi người dũng cảm vùng lên giết giặc. Sự man rợ của kẻ thù là một trong những nguyên nhân thúc đẩy hành động quật khởi của dân làng Xô Man trong cái đêm đáng nhớ ấy. - Bàn tay không còn lành lặn: + Sau đêm đó, Tnú rời làng tham gia lực lượng vũ trang. Đôi bàn tay với các ngón bị cụt như một chứng tích tội ác của quân thù. Thời gian dần dần làm lành vết thương trên mười ngón tay Tnú nhưng nỗi đau mất vợ mất con vẫn còn nguyên đó, anh không thể nguôi quên. + Đôi bàn tay cụt mỗi ngón chỉ còn hai đốt của Tnú tiếp tục cầm súng chiến đấu với kẻ thù.Trong một trận đánh,Tnú đã dùng đôi bàn tay không còn nguyên vẹn của mình bóp chết tên chỉ huy giặc khi nó cố thủ trong hầm. Đó là sức mạnh đến từ sự căm hờn cao độ, sự giác ngộ cách mạng, sự trưởng thành trong cả suy nghĩ lẫn hành động của Tnú. + Đôi bàn tay Tnú là dấu ấn khắc ghi quá khứ đau thương, mất mát cũng như sự trưởng thành của anh. Giống cánh rừng xà nu với sức sống bất diệt, đôi bàn tay bị giặc đốt cháy của Tnú vẫn giúp anh đạt danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ, diệt ngụy và anh đã trở thành niềm tự hào to lớn của dân làng Xô Man bất khuất, kiên cường.
=> Hình ảnh đôi bàn tay Tnú được nhắc đi nhắc lại trong tác phẩm như một biểu tượng đầy ý nghĩa về cuộc đời đau thương, mất mát, hờn căm; là chứng tích tội ác của kẻ thù, thể hiện tính chất khốc liệt của cuộc chiến tranh giải phóng và vẻ đẹp của chủ nghĩa yêu nước, anh hùng cách mạng. Hình ảnh đôi bàn tay Tnú tượng trưng cho sức sống mãnh liệt không bạo lực nào có thể tiêu diệt được của con người Tây Nguyên. Hai bàn tay Tnú đã trở thành một chi tiết nghệ thuật đặc biệt có giá trị thẩm mĩ và ý nghĩa khái quát lớn lao, sâu sắc. ● Bài học rút ra từ cuộc đời Tnú: + Là con người cách mạng phải có lòng dũng cảm nhiều hơn hẳn bình thường, phải có sự thông minh, nhanh trí và tinh thần trách nhiệm cao. + Ngay khi có đầy đủ những phẩm chất ấy, người cách mạng vẫn chưa thể bảo vệ được những người thân yêu của mình. Do đó muốn chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, phải có sức mạnh và vũ khí. Đó là điều kiện để làm nên chiến thắng. Quá trình trưởng thành của Tnú cũng là quá trình phát triển cách mạng từ tự phát đến tự giác của bà con Tây Nguyên. + Muốn lãnh đạo cách mạng thì con đường cách mạng luôn phải được kế tục. Các thế hệ sau phải tiếp bước thế hệ đi trước. 3.2. Hình tượng Mai a. Giới thiệu Dù không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm mà chỉ được nhắc đến qua lời kể của mọi người nhưng nhân vật Mai trong tác phẩm “Rừng xà nu” đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Mai cũng giống như chị Chiến trong “Những đứa con trong gia đình”, cũng giống như chị Út Tịch, như Phương Định, Nho, Thao… là một người con gái anh hùng trong công cuộc kháng chiến đấu tranh gian khổ của dân tộc. b. Vẻ đẹp ● Quả cảm, kiên cường, một lòng trung thành với cách mạng + Mai cùng với Tnú từ nhỏ đã được nuôi lớn trong vòng tay của dân làng Xô man, được giáo dục lí tưởng cách mạng và lòng yêu Tổ quốc. Mai đã chứng minh được việc mình là một đứa trẻ quả cảm, kiên cường qua những ngày nuôi giấu cán bộ trong rừng. Mai cùng Tnú làm việc đó không phải là ngày một ngày hai mà là mấy năm ròng rã, nhưng họ
không để mất một phong thư, không một lần để lộ sơ hở của những chiến sĩ cộng sản. Mai gan góc, lì lợm, được nuôi dưỡng bằng lí tưởng cách mạng nên từ nhỏ đã hiểu và đi theo cách mạng. + Mai còn là cô gái cá tính, thông minh, lanh lợi và giàu tình yêu thương. Mai dạy Tnú học chữ, khuyên bảo Tnú để học lấy con chữ. Mai yêu thương cộng sản, yêu thương gia đình. Khi bị giặc bắt và tra tấn, Mai lấy thân mình ra che chắn cho con, Mai hành động với những bản năng tốt đẹp nhất của một người mẹ, không muốn con mình bị thương. Nhưng cuối cùng cô đã không bảo vệ được con mình, lũ giặc tàn ác đã hại cả đứa nhỏ, cả Mai. Mai căm hờn chúng, cô chết nhưng không khai một chữ về Tnú, về cộng sản. Ánh mắt của Mai nhìn kẻ thù lúc đó cũng nảy lửa và sục sôi căm hờn và đầy kiên định, ánh mắt đó cho thấy cô sẽ không bao giờ khuất phục trước kẻ thù. Ở trong Mai vừa có tình yêu thương vô bờ bến của một người mẹ, người vợ lại vừa có trách nhiệm của một người chiến sĩ quyết tâm bảo vệ cộng sản đến cùng. + Mai là một tấm gương tiêu biểu cho sự dũng cảm của thế hệ thanh niên dân làng Xô man, rồi đây Dít, những đứa trẻ trong bản sẽ là những người tiếp nối bước chân của Mai, sẽ trở thành những thế hệ anh hùng, tiếp bước những người đi trước, bảo vệ dân làng, bảo vệ cộng sản và bảo vệ cho cách mạng. Khi nhìn Dít, Tnú thấy như chính Mai đang ở trong Dít, là tinh thần quả cảm thông minh lanh trí, sự lì lợm không chịu khuất phục lùi bước. => Mai cũng giống như Tnú, cũng giống như cụ Mết, như Dít đều giống như những cây xà nu dẻo dai, đầy sức sống giữa núi rừng Tây Nguyên đại ngàn. Không thể dùng bom đạn chiến tranh, dùng cực hình để buộc họ phải gục ngã, họ cũng giống như những cây xà nu nếu cây này ngã xuống thì sẽ có cây khác mọc lên tươi tốt xanh um và dẻo dai. Tiếp nối thế hệ của Mai sẽ là thế hệ của Dít, của bé Heng. 4. Hình tượng thế hệ tương lai: Dít và bé Heng 4.1. Dít ● Giới thiệu: - Dít là một bí thư chi bộ cũng kiên cường, dũng cảm không kém gì Tnú và Mai, kế tiếp họ đi theo con đường cách mạng, là đại diện cho thế hệ cách mạng tương lai. Dít cùng Mai là tiêu biểu cho những tấm gương
phụ nữ anh hùng trong thời chiến, làm nên vẻ đẹp kiên cường, bất khuất của phụ nữ Việt Nam. ● Vẻ đẹp: + Điềm tĩnh, tự tin, ngoan cường: Cũng giống như Tnú, Dít đã trưởng thành mau chóng trong những đau thương của cuộc chiến đấu chống Mỹ ngụy. Dít cũng từng bí mật tiếp tế cho cụ Mết, Tnú và thanh niên trong làng khi họ bị bọn giặc lùng bắt. Dít cũng bị bọn giặc tra tấn bằng cách bị bắt đứng ở giữa sân, lên đạn và bắn dọa khiến Dít khóc thét nhưng viên đạn thứ 10 thì Dít nín bặt, \"nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng\". Trong ánh nhìn đó có sự điềm tĩnh, bình thản đối chọi của một bản lĩnh trưởng thành sớm trong đau thương chiến tranh mà không tội ác nào có thể tiêu diệt được. Chứng kiến cái chết bi thảm của chị Mai, đến cụ Mết cũng không cầm được nước mắt, chỉ riêng nó bình thản đến lạ lùng. Có lẽ bởi nó ý thức được trách nhiệm đè lên vai mình - nó sẽ thay chị nó bước theo con đường cách mạng, viết tiếp trang sử hào hùng của buôn làng Xô Man. + Cô bí thư chi bộ nghiêm nghị, cương trực, có tiếng nói: Sau này Dít trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội - cô ít đùa, lạnh lùng và nghiêm trang, đó là phẩm chất cần có của một cán bộ cách mạng. Dít chiếm được tình cảm lớn cũng như sự tín nhiệm của bà con, được ngồi ở vị trí lớn trong nhà rông. + Dít cũng là người sống rất tình cảm. Sau khi Tnú trình giấy có chữ kí của cấp trên, cô lập tức nở nụ cười, thay đổi cách xưng hô cho thân mật hơn, thái độ và tình cảm cũng được bộc lộ… Dít được bọn trẻ yêu mến, đứa nào cũng tranh ngồi gần, được buôn làng yêu thương và tôn trọng. 4.2. Bé Heng Như một sự nối tiếp thế hệ, thì thằng bé Heng cũng chính là sự nối tiếc của Tnú trong tác phẩm này. Ngày Tnú đi liên lạc, bé Heng còn nhỏ xíu, vậy mà sau mấy năm về thăm làng, bé Heng đã lớn lên có dáng vẻ của một anh giải phóng tí hon: vai mang một khẩu trường mác, đội một cái mũ giải phóng, mặc một chiếc áo bà ba dài phết đít, khoác chéo khẩu súng ngang lưng. Chú bé thuộc thế hệ non trẻ nhất của làng Xô Man, là hình ảnh trẻ em quen thuộc trong bất cứ một tác phẩm sử thi nào, như một cây xà nu mới lớn nhưng hứa hẹn sự dũng cảm, anh hùng như thế hệ đi trước. Kết thúc tác phẩm là hình ảnh cụ Mết, Tnú, Dít, Heng cùng đứng ở ngọn đồi xà nu phóng tầm mắt nhìn thấy đại ngàn xà nu hùng vĩ như một vĩ thanh, mở ra cho người đọc hi vọng về
một cuộc sống mới đầy hứa hẹn cho cộng đồng, cho những thế hệ sau của Nguyễn Trung Thành. 5. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn 5.1. Khuynh hướng sử thi - Đề tài: chiến tranh. Đây là cuộc chiến đấu khốc liệt của đồng bào Tây Nguyên cũng như dân tộc Việt Nam với đế quốc Mĩ. Từ đề tài này, tác phẩm thể hiện một chủ đề mang tính sử thi qua lời phát biểu của cụ Mết: “Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo” - chỉ có bạo lực cách mạng, đấu tranh vũ trang mới có thể đánh đuổi được kẻ thù, giải phóng dân tộc. Số phận và con đường giải phóng của dân làng Xô Man không chỉ là vấn đề sinh tử của một làng mà còn là của cả dân tộc Việt Nam. - Không gian, thời gian: + Không gian trong truyện ngắn “Rừng xà nu” được xây dựng hết sức độc đáo. Trước hết, tác giả đã xây dựng thành công không gian rộng lớn của thiên truyện thông qua kết cấu vòng tròn ở phần mở đầu, kết thúc tác phẩm: Hình ảnh cánh rừng xà nu bị tàn phá, hủy hoại ở phần đầu và hình ảnh cánh rừng xà nu vươn lên mạnh mẽ đã để lại dư ba trong lòng người đọc. + Câu chuyện không bị bó hẹp trong không gian của làng Xô Man nữa mà mở rộng ra trên khắp cả nước. Những thế hệ mới sẽ còn tiếp nối và đem lại niềm tự hào cho cả dân tộc. Tiếp đó, tác giả đã xây dựng hai không gian nghệ thuật đặc sắc trong truyện ngắn “Rừng xà nu”. + Thứ nhất đó là không gian hùng vĩ, rộng lớn của cánh rừng xà nu: Khung cảnh rừng xà nu bị tàn phá dưới bom đạn của kẻ thù tượng trưng cho những đau thương, mất mát mà dân làng Xô Man phải gánh chịu; Sức sống của cây xà nu vươn lên để sinh tồn cũng biểu tượng cho khát khao tự do, vươn theo lý tưởng cách mạng của con người Tây Nguyên nói chung. Hay sự phát triển, kế tục nhanh chóng của cây xà nu “Cây mẹ ngã, cây con mọc lên” cũng như thế hệ dân làng Xô Man bất chấp sự tàn bạo của kẻ thù vẫn vùng lên chiến đấu.
+ Thứ hai đó là không gian sinh hoạt đậm nét đẹp văn hóa của vùng đất Tây Nguyên gắn với cây xà nu. Đó là không gian thân mật, gần gũi trong đời sống hàng ngày đã trải qua bao đời của nhân dân làng Xô Man: Ngọn lửa xà nu cháy trong mỗi bếp, trong đống lửa nhà ưng; Khói xà nu xông đen tấm bảng nứa để anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ; Mặt của lũ trẻ con lem luốc khói xà nu, … Bên cạnh đó, những sự kiện trọng đại của làng Xô Man, cây xà nu cũng tham dự vào: Tnú bị đốt hai bàn tay bằng giẻ tẩm dầu xà nu; Đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết, soi sáng khắp khu rừng,… Cách xây dựng không gian đặc sắc đã góp phần hình thành đặc điểm “Khuynh hướng sử thi” trong thiên truyện. + Thời gian trong truyện ngắn “Rừng xà nu” có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại. Sự thay đổi thời gian linh hoạt đã góp phần tái hiện được nhiều sự kiện trọng đại của dân làng Xô Man, đã gợi ra một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc ta. Đồng thời, cách khắc họa thời gian như vậy cũng gây được hứng thú, sức hấp dẫn cho độc giả. - Nhân vật đẹp: + Cụ Mết là một già làng. Cụ đại diện cho vẻ đẹp truyền thống, những giá trị cổ điển của làng Xô Man. Cụ Mết giữ gìn và truyền dạy cho dân làng lý tưởng, đạo đức cách mạng. Cụ đã sớm ngộ ra chân lý cách mạng và truyền đạt điều đó lại cho các lớp thế hệ: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết là người giữ lửa và truyền lửa cho những lớp thế hệ sau, đại diện cho sức mạnh của quá khứ dân tộc. + Tnú hội tụ tất cả những phẩm chất của cộng đồng Tây Nguyên. Thuở nhỏ, Tnú là người gan dạ, mưu trí, dũng cảm. Giặc giết bà Nhan, anh Xút và Tnú đã thấy họ xung phong vào rừng nuôi giấu cán bộ. Khi Tnú đi liên lạc, Tnú không đi đường mòn mà “xé rừng mà đi”, chọn những chỗ nguy hiểm vì nghĩ rằng giặc không ngờ tới, … Bên cạnh đó, anh còn là người có tinh thần trách nhiệm cao, trung thành với cách mạng tuyệt đối: Khi đi liên lạc bị bọn giặc phục kích, Tnú không tiết lộ bí mật cách mạng; Khi bị đốt mười đầu ngón tay, Tnú luôn tâm niệm lời dạy của người đi trước nên không kêu van nửa lời, … + Chính những điều đó đã làm nên vẻ đẹp mang tính cộng đồng của nhân vật Tnú. Vẻ đẹp ấy còn được khắc họa khi Tnú được dân làng cứu thoát. Lúc ấy, anh dù với hai bàn tay bị tàn tật nhưng vẫn gia nhập quân giải phóng, cầm vũ khí đứng lên giết giặc để trả thù cho quê hương, gia đình. Tnú điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của con người Tây Nguyên, đại diện cho sức mạnh thời đại của dân tộc. Và
là người đã kết tục vẻ vang truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm bất khuất, kiên cường của đất nước ta. - Giọng điệu: + Khuynh hướng sử thi trong “Rừng xà nu” còn được biểu hiện ở giọng điệu. Giọng điệu trong thiên truyện trang trọng, hùng hồn, tráng lệ, ngợi ca. Tác giả đã sử dụng giọng điệu ấy khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng điệu tác giả hòa lẫn với giọng cụ Mết: Không khí sử thi ùa về trong một đêm mưa, cụ Mết đã cất tiếng nói trầm, hùng, vang của mình khi kể về tấm gương Tnú với niềm tự hào tột bậc. + Giọng điệu ấy cũng được khắc họa trong việc miêu tả thiên nhiên. Thiên nhiên căng tràn sức sống, mạnh mẽ, bền chí, cứng rắn: “Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…”, “Có những cây bị chặt đứt… cục máu lớn”. - Cách kể chuyện: chuyện được kể bên bếp lửa qua lời kể của một già làng, đông đảo dân làng từ già đến trẻ đều quây quần lắng nghe, không khí rất trang nghiêm. - Xây dựng thành công hình tượng nghệ thuật độc đáo: cây xà nu. Hình tượng cây xà nu không chỉ thể hiện tư tưởng chủ đề, đem lại chất sử thi mà còn tạo nên giá trị lãng mạn bay bổng cho thiên truyện. 5.2. Cảm hứng lãng mạn - Cái tôi đầy cảm xúc: + Nguyễn Trung Thành đã tốn không ít bút mực để khắc họa tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Nguyên. Vẻ đẹp kiên cường, sức sống mãnh liệt, không chịu khuất phục của cây xà nu cũng chính là vẻ đẹp, phẩm chất cao đẹp của người Xô Man. Qua đó, ta cảm nhận được tình yêu thiên nhiên mãnh liệt của Nguyễn Trung Thành. Chỉ có sự cảm nhận chân thành, cái tình đối với mảnh đất Tây Nguyên thật sâu nặng, tác giả mới có những trang văn ấn tượng đến vậy. + Đối với thiên nhiên Nguyễn Trung Thành nặng tình bao nhiêu, thì đối với con người Tây Nguyên tác giả cũng nặng tình bấy nhiêu. Nhà văn đã đặt “cái tôi trữ tình” của mình vào từng nhân vật. Qua cách khắc họa mỗi nhân vật, ta nhận thấy tình cảm, lòng yêu thương của nhà văn đối với họ. Có lúc ông tự hào khi miêu tả phẩm chất, vẻ đẹp của Tnú, có lúc ông căm phẫn bọn giặc đã gieo rắc bao đau khổ cho dân làng, … Một thiên truyện trở nên đặc sắc và thành công như “Rừng xà nu” cũng chính nhờ tài năng và phẩm chất của Nguyễn Trung Thành góp phần tạo nên.
- Hình ảnh đẹp, lý tưởng hóa: + Cây xà nu xuất hiện trong đoạn mở đầu và kết thúc của thiên truyện tạo nên một kết cấu độc đáo. Truyện mở đầu là hình ảnh rừng xà nu nằm trong tầm đại bác của đồn giặc, đang ưỡn tấm ngực che chở cho dân làng. Kết truyện là hình ảnh rừng xà nu “đến hút… chân trời”. + Kết cấu tạo nên sự hô ứng đồng thời tạo nên điệp khúc trầm hùng đầy chất thơ và sử thi cho câu chuyện: Cây xà nu trở thành linh hồn sống, làm nên không gian của vùng Tây Nguyên. Cây xà nu là hình ảnh thiên nhiên xuất hiện xuyên suốt trong thiên truyện. Nó không chỉ gắn bó mật thiết với đời sống của dân làng Xô Man, mà còn mang vẻ đẹp biểu tượng cho phẩm chất cao đẹp của nhân dân làng Xô Man. + Vẻ đẹp ấy được thể hiện thông qua các hình ảnh đẹp, hấp dẫn: Xà nu mang vẻ đẹp của một loài cây ham ánh sáng, khí trời: “Nó phóng lên rất nhanh… thơm mỡ màng”; Xà nu mang vẻ đẹp của sức sống mãnh liệt, nghị lực vươn lên, không gì khiến nó quật ngã được: “Cạnh một cây xà nu… lên bầu trời”; “Nhưng cũng có những cây… thân thể cường tráng”. + Cây xà nu không chỉ tạo nên không gian của vùng Tây Nguyên mà nó còn tượng trưng cho sự kiên cường, ý chí mạnh mẽ, khát khao vươn lên và sống tự do của người Tây Nguyên. Hình ảnh thơ đẹp, đầy tính hấp dẫn đã góp phần thể hiện rõ điều đó. V. TỔNG KẾT 1. Giá trị nội dung - Câu chuyện thứ nhất là câu chuyện về sự giác ngộ lí tưởng cách mạng và cuộc nổi dậy từ tự phát đến tự giác của dân làng Xô Man, với triết lí cách mạng được cụ Mết - trưởng bản, đúc kết \"Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo\". - Câu chuyện thứ hai là câu chuyện về cuộc đời của Tnú - một người con của núi rừng Tây Nguyên, của bản làng Xô Man. Tnú lớn lên trong không khí cả làng làm cách mạng nên con người ấy nhanh chóng bén duyên. Cuộc đời của Tnú là cuộc đời của biết bao nhiêu con người, cũng
là hình ảnh biểu trưng cho cả đất nước Việt Nam đau thương mà quật cường đứng dậy trong cuộc đọ sức cam go với đế quốc Mĩ. 2. Giá trị nghệ thuật - Tô đậm không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên (bức tranh thiên nhiên; ngôn ngữ, tâm lí, hành động nhân vật…) - Xây dựng thành công hai tuyến nhân vật đối lập gay gắt: kẻ thù (thằng Dục) và lực lượng cách mạng, đại diện là các thế hệ nối tiếp nhau vừa có những nét cá tính sống động riêng biệt vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu cho cộng đồng (cụ Mết, T nú và Mai, Dít và bé Heng) - Khắc họa thành công hình tượng cây xà nu vừa hiện thực vừa mang đậm ý nghĩa biểu tượng, đem lại chất sử thi và lãng mạn, bay bổng cho thiên truyện. - Nghệ thuật trần thuật sinh động (đan cài câu chuyện về cuộc đời T nú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man; xen kẽ thời gian kể chuyện và thời gian của các sự kiện; phối hợp các điểm nhìn,...) tạo nên giọng điệu, âm hưởng phù hợp với không gian Tây Nguyên. - Những câu văn miêu tả, từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, mang đậm tính biểu tượng; nghệ thuật so sánh, nhân hóa, ẩn dụ; giọng văn miêu tả linh hoạt, sinh động. VI. MỘT SỐ LỜI BÌNH VỀ NGUYỄN TRUNG THÀNH VÀ RỪNG XÀ NU 1. “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời, Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc trường tồn ở đây, bởi “nhà xa ra, đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy tới chân trời.” (Nguyễn Trung Thành, “Về truyện ngắn Rừng xà nu”, Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức biên soạn) 2. “Ông là cội nguồn. Là Tây Nguyên của thời “Đất nước đứng lên” trường tồn đến hôm nay. Ông là lịch sử bao trùm, nhưng không che lấp sự nối tiếp đi tới mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt hơn, sành sỏi và tự giác hơn của các thế hệ sau.” (sưu tầm, về cụ Mết trong tác phẩm)
3. “Dưới góc nhìn văn hóa, ta thấy Rừng xà nu có nội dung rất quan trọng: văn hóa làng và những tình cảm thâm trầm, cao đẹp. Và đó là cơ sở của nội dung thứ hai: tinh thần bất khuất của con người Tây Nguyên. Tinh thần ấy lớn mạnh được là nhờ nó bám rễ sâu chặt vào “đất làng”. (Đặng Văn Vũ) 4. “Nhà dân tộc học Từ Chi cho rằng: “Dân Việt nhạt biển, xa rừng”. Người Việt nhạt biển thì rõ rồi, thế nhưng với rừng, ta thường coi rừng như là tài nguyên để khai thác, trong khi dân Tây Nguyên ngược lại, rừng lại gắn chặt với đời sống và văn hóa của họ.” (Trích bài viết “Nguyên Ngọc: về Tây Nguyên”, nhà văn Nguyên Ngọc) 5. “Nếu nói Nguyễn Tuân suốt đời đi tìm cái đẹp, thì cũng có thể nói, Nguyên Ngọc suốt đời săn tìm những tính cách anh hùng, những sự tích anh hùng.” (Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh) VII. MỘT SỐ DẠNG ĐỀ PHỔ BIẾN 1. Phân tích hình tượng Cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn. Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên. Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người con trung dũng, kiên cường. Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trung Thành - bút danh Nguyên Ngọc nổi tiếng cùng “Đất nước đứng lên”; thì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là những năm 1965 khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung Thành cho ra mắt người đọc truyện ngắn “Rừng xà nu”. Tác phẩm này đã là một bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vĩ đại. Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm chính là hình tượng cây xà nu. Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà nu rọi sáng sân nhà
Ưng trong những đêm lễ hội...”. Tất cả mọi hoạt động dù lớn dù nhỏ của người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây xà nu. Sự sống của dân làng Xô Man đều gắn liền với những cánh rừng xà nu. Khi Nguyễn Trung Thành viết : “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn”, nhà văn đã phản ảnh không khí căng thẳng của thời đại, gợi lên sự đối mặt quyết liệt giữa sự sống và cái chết. Nổi bật trên nền bối cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành đã đi sâu miêu tả những đặc điểm nổi bật của câu xà nu. Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và khí trời “trong rừng ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy... ít có loài cây nào ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa là ham sống, khao khát muốn được vươn lên giữa bầu trời cao rộng. Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Tư thế vươn lên mạnh mẽ ấy của cây xà nu như để thách thức với bom đạn của chiến tranh “đố chúng nó giết được cây xà nu đất ta”. Sức sống mãnh liệt đã giúp những cánh rừng xà nu vươn lên trong một màu xanh, hiện lên hiên ngang, kiêu dũng như một tráng sĩ “cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng Xô man”. Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, Nguyễn Trung Thành đã dựng lên thật thành công và rõ nét, ấn tượng về hình tượng cây xà nu. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trung Thành còn đặt hình tượng cây xà nu vào trong quan hệ đối chiếu sóng đôi với con người mảnh đất Tây Nguyên. Nếu cây xà nu là một loại cây ham ánh sáng và khí trời, thì người dân Tây Nguyên yêu tự do, tin vào Đảng, đi theo bước chân cách mạng như muôn cây vẫn hướng vào ánh sáng mặt trời. Nếu cây xà nu bị tàn phá, huỷ diệt bởi đạn bom, khói lửa thì những người dân Tây Nguyên phải chịu bao đau thương mất mát do chính kẻ thù gây ra. Bao nhiêu người bị giặc giết chết như những cây xà nu bị chặt đứt ngang nửa thân mình, bao nhiêu người còn sống mà phải mang trong mình bao nỗi thương đau. Bằng cách miêu tả hình ảnh cây và người trong quan hệ sóng đôi như thế, Nguyễn Trung Thành đã khắc sâu tội ác dã man của kẻ thù để qua đó tác giả giúp ta hình dung rõ hơn những thảm cảnh dân ta phải chịu do bọn giặc gây ra. Cũng giống như những cánh rừng quê hương, như những con người Việt Nam vẫn ý thức được rằng:
“Gươm nào chia được dòng Bến Hải Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn Căm hờn lại giục căm hờn Máu kêu trả máu đầu van trả đầu” Các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đã thay nhau tiếp nối đứng lên. ánh sáng của niềm tin “Đảng còn thì núi nước này còn” đã soi đường chỉ lối cho những bước chân đến với cách mạng. Thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau tiếp nối đứng lên; anh Sút bà Nhan bị giặc giết, đi thay họ tiếp tế nuôi quân đã có Tnú và Mai. Cứ như thế, các thế hệ người Tây Nguyên đã thay nhau giữ vững ngọn lửa truyền thống, thay nhau giữ vững ý chí đánh giặc kiên cường, để giữ làng, giữ nước của dân làng Xô man nói riêng và của người Tây Nguyên nói chung. Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng sững, đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xô man. Gắn bó với cánh rừng anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp thêm sức mạnh để đứng lên chiến đấu. Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân tình, thuỷ chung, trung dũng như thế. Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng họ để họ có cuộc sống bình yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những người dân vô tội lầm than. Cây xà nu là hình tượng mang đậm chất lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất, số phận của người dân Tây Nguyên. Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm mang đậm chất sử thi, tính hào hùng, nó làm rõ chủ đề tư tưởng của truyện ngắn “Rừng xà nu”. Để xây dựng một hình tượng xà nu như thế, Nguyễn Trung Thành đã sử dụng những câu văn miêu tả, những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, cùng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, giọng văn miêu tả trong tác phẩm rất linh hoạt. Có đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp hình tượng cây xà nu. Hình tượng này đã góp phần tạo nên một “Rừng xà nu” trọn vẹn, mang đậm giá trị văn học. Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc. 2. Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu đều là những truyện ngắn hay đã khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Yêu biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên! Hình ảnh những con người Việt Nam ấy đã đi vào thơ ca như một niềm thơ lớn và trở thành phầm hồn của mỗi người con đất Việt. Yêu biết mấy hình ảnh những người dân quê tôi: cần cù trong lao động, anh hùng trong chiến đấu. Văn thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ đã dựng lại cả một thời kì máu lửa, đi sâu tìm tòi, khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của con người. Tôi nhớ mãi một Tnú, cụ Mết trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành; chị Chiến, anh bộ đội tên Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi ; và cô Nguyệt - người con gái trẻ tuổi, dũng cảm trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu. Họ là hiện thân của vẻ đẹp con người Việt Nam, của sức sống dân tộc. Năm tháng trôi đi và lịch sử đã bước sang trang mới nhưng những con người ấy vẫn sáng ngời lên, nhắc nhở ta về một quảng đường đầy gian khổ, đau thương, lại rất đỗi anh hùng mà đất nước mình đã đi qua. Để rồi mỗi lần đọc lại, tôi không khỏi ngỡ ngàng vì người dân mình đẹp quá, dũng cảm quá ; và lòng tôi tưởng như được sống lại những ngày còn chiến tranh, bom đạn ấy. Đọc Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, hiện lên một tập thể anh hùng nhiều thế hệ đang ngày đêm chiến đấu với kẻ thù để giữ từng tất đất, ngôi nhà cho quê hương đất nước. Viết về đề tài chiến tranh, cả ba nhà văn không đi sâu vào miêu tả những đau thương, mất mát của mình hay tội ác tày trời của giặc Mĩ mà đi vào khám phá, ca ngợi vẻ đẹp con người Việt Nam trong chiến tranh. Tôi còn nhớ một câu nói của nhà văn nổi tiếng : Con người, tất cả ở con người. Có thể huỷ diệt được cuộc sống của con người nhưng không thể chiến thắng được nó. Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu viết về con người phải chăng cũng có một lòng tin như thế ? Hình ảnh cụ Mết, anh Tnú, Việt, chị Chiến, Nguyệt và còn biết bao người nữa hiện ra trong cảnh sống chết từng giây, mưa bom bão đạn mà vẫn hiên ngang, sáng lên một vẻ đẹp phẩm chất lạ thường. Họ là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, sức sống dân tộc. Những con người yêu nước thiết tha, chiến đấu dũng cảm quên mình vì Tổ quốc ấy lại rất đỗi giản dị, sáng trong, gắn bó với từng làng bản, thôn xóm. Bên cạnh phẩm chất anh hùng Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng còn sáng ngời lên một tình yêu chung thuỷ, sắt son đầy màu sắc lãng mạn. Các tác phẩm thời kì này đều đi vào khắc hoạ phẩm chất đẹp đẽ của con người Việt Nam với giọng điệu ca ngợi, hào hùng vang vọng không khí của sử thi hoành tráng. Ba tác phẩm đã dựng nên một tác phẩm anh hùng, nhiều thế hệ giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, trong đó mỗi nhân vật
đều có một vẻ đẹp riêng, một tâm hồn riêng, một cái “tôi” riêng hoà chung với cái ta rộng lớn. Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một truyện ngắn xúc động, hào hùng về cuộc đấu tranh anh dũng của dan làng Xôman nhà văn đã đi sâu khám phá những con người Tây Nguyên, những con người cả đời gắn bó với cây xà nu như gắn bó với Đảng với cách mạng. Con người hiện lên trong trang văn của Nguyễn Trung Thành là hình ảnh của một tập thể anh hùng nhiều thế hệ. Trang sử hào hùng của Tây Nguyên không chỉ một người viết mà là sự nối tiếp, kế tục từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ đã cùng nhau dựng xây làng bản, dựng xây lịch sử của một đất nước đứng lên. Nguyễn Trung Thành tìm đến miền đất núi rừng đầy đau thương. Nhà văn dã lắng nghe họ sống để ghi lại cái nhịp sống hào hùng, ghi lại vẽ đẹp tâm hồn, bản chất anh hùng của những người giản dị, mộc mạc mà thiêng liêng, cao quý. Nguyễn Trung Thành như đã trở thành người con của Tây Nguyên, của dân làng Xôman. Khi viết Rừng xà nu tựa hồ ông ngợi ca, tự hào về làng mình, về quê hương của mình. Nói đến phong trào đấu tranh của dân làng Xôman, ta không quên hình ảnh anh Quyết, anh là cán bộ của Đảng, là người đã nhen nhóm phong trào cách mạng cho cộng đồng dân làng Xôman. Tnú còn nhớ như in lời của anh; “sau này, nếu Mĩ-Diệm giết anh, Tnú phải làm cán bộ thay anh” anh đã chính là người đã truyền sức mạnh, niềm tin cho Tnú, cho Mai, …Anh là một người chiến sĩ dũng cảm, anh hùng. Nếu như anh Quyết là hiện thân của lớp trẻ, của Đảng thì hình ảnh cụ Mết lại sáng lên trong truyện ngắn như một trụ cột của dân làng Xôman. Chẳng những vậy mà sau này, Nguyễn Trung Thành đã ghi lại hồi kí, đại ý : Ông là cội nguồn, là Tây Nguyên của thời đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay. Ông như lịch sử bao trùm nhưng không che lấp đi sự nối tiếp mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt hơn, sành sỏi và tự giác hơn. Mỗi lời nói của cụ Mết như lời nói của sông núi, là lời nói của dân tộc. Ông cụ là cội nguồn của dân làng Xôman, là người đã lãnh đạo dân làng Xôman đánh giặc: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ hiện thân cho truyền thống, cho nét đẹp từ ngàn xưa của dân làng. Cụ rất ít khen tốt giỏi mà chỉ nói “được”, cụ truyền lại sức mạnh, răn dạy con cháu : “Nhớ lấy ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại với con cháu”. Hình ảnh của cụ Mết là hình ảnh của một già làng suốt đời đã gắn bó với Tây Nguyên, chiến đấu bảo vệ buôn làng. Cụ tự hào về cây xà nu, đố bọn nó giết hết Rừng xà nu đất này. Đẹp thay hình ảnh của một ông cụ “râu bây giờ đã dài tới ngực đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược” hiển hiện giữa núi rừng Tây Nguyên. Và hình ảnh của cùng lớp thanh niên trong làng cầm giáo mà cứu Tnú cho thấy cụ là hiện thân của sức sống dân tộc, tâm hồn dân tộc. Nguyễn Trung Thành ngợi ca cụ Mết như ca ngợi cội nguồn, ngợi ca Tây Nguyên bởi vẻ đẹp tâm hồn cụ là vẻ đẹp của ngày xưa, trường tồn và mãnh liệt cho đến hôm nay.
Viết về Rừng xà nu viết về những con người anh hùng quả cảm, nhà văn đã khắc hoạ hình tượng nhân vật trung tâm: Tnú. Tnú là một thanh niên trẻ, anh dũng, gan dạ với cuộc đầy bi kịch, đau thương nhưng anh đã vượt lên trên tất cả để sống, đẻ chiến đấu và vẻ đẹp của Tnú là vẻ đẹp của một con người chiến thắng, của một chiến sĩ anh hùng. Phẩm chất anh hùng của Tnú được bộc lộ từ khi còn là một cậu bé cùng Mai đưa thư, tiếp tế cho cán bộ. Tnú yêu cách mạng, yêu Đảng. Một lần bị giặc bắt, anh Quyết không khai mặc dù bị tra tấn dã man. Lòng căm thù giặc đã trở thành dòng máu chảy trong lòng anh từ lúc làng Xôman còn chưa biết vùng dậy đánh giặc. Tnú lớn lên trong sự yêu thương của dân làng, trong mối hận của trả thù và ao ước được làm cán bộ. Anh trở thành anh thanh niên xung phong của dân làng Xôman. Cuộc đời của Tnú là cuộc đời đầy đắng cay bất hạnh. Một lần quân giặc đã bắt mẹ con Mai (vợ của Tnú )để buột anh phải ra hàng. Không kìm được lòng khi nhìn thấy Mai cùng đứa con bị đánh. Anh lao ra nhưng không cứu được hai mẹ con Mai. Rồi Mai chết, đứa con cũng chết. Tnú chắc cũng sắp chết, Tnú sẽ nghĩ “Ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xôman đánh giặc”? Và chỉ tiếc mình không được sống đến ngày cùng dân làng nổi dậy. Chao ôi! Đến lúc cái chết cận kề mà anh cũng chẳng nghĩ gì cho riêng mình. Tnú chỉ đau đáu một nỗi niềm với cách mạng, với Đảng. Và khi mười đầu ngón tay của anh cháy như mười ngọn đuốc anh cũng không kêu van, anh thấy lửa cháy trong bụng, thấy máu đã mặn chát nơi đầu lưỡi “răng anh đã cắn nát môi anh rồi”. Tnú hi sinh tất cả, quên mình vì đồng loại, bàn tay của anh là bàn tay của người anh hùng, bàn tay ấy kể với ta về số phận một con người đau thương mà không hề chùn bước. Tnú chẳng gục ngã cũng như cây xà nu kia : “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mới mọc lên”. Anh đem theo hình ảnh của Mai, của những tháng ngày đã qua, của hồi ức buồn để bước tiếp trên con đường cách mạng. Tnú là một con người anh hùng, quả cảm, giàu yêu thương rồi bé Heng, Dít -tất cả đều mang cái hồn của dân làng Xôman. Nguyễn Trung Thành đã ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước với bản chất anh hùng, quả cảm của cả một cộng đồng vừa anh dũng lại vừa nhân ái trong công cuộc bảo vệ quê hương. Tôi còn nhớ những câu thơ : Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững Lưng đeo gươm hay mềm mại bút hoa. Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng Sống hiên ngang và nhân ái chan hoà. Và nếu như Nguyễn Trung Thành khám phá vẻ đẹp ở những con người ở miền rừng núi Tây Nguyên thì Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình lại phát hiện vẻ đẹp con người ở vùng nông thôn Nam bộ. Nếu như phẩm chất anh hùng trong Rừng xà nu bộc lộ qua hình ảnh tập thể của dân làng Xôman thì bản chất anh hùng trong
truyện ngắn Nguyễn Thi lại chỉ bộc lộ trong bối cảnh một gia đình. Nhân vật chính trong truyện là Việt và Chiến. Cả hai chị em điều phải sống trong cảnh thiếu thốn tình thương khi ba và má đã bị giặc sát hại. Việt và Chiến tranh nhau đi bộ đội, nỗi đau sự thiếu hụt tình cảm gia đình đã hun đúc cho cả hai chị em lòng căm thù giặc sâu sắc. Việt là một anh bộ đội gan dạ, dũng cảm, tuy bị thương nhưng vẫn cố tìm và quyết đi theo cùng đồng đội. Trên mặt trận chiến đấu, Việt là một anh lính Cụ Hồ anh hùng quả cảm lập chiến công mà vẫn khiêm tốn không muốn báo cho chị biết. Chị Chiến cũng là một người gan dạ, dũng cảm, chị mong mỏi, khát khao được đánh giặc để trả thù cho ba má. Nguyễn Thi đã ca ngợi phẩm chất anh hùng của “những đứa con trong gia đình” tuy nhỏ tuổi mà nặng lòng với cách mạng sẵn sàng hi sinh thân mình vì sự nghiệp cứu nước. Bản chất anh hùng của con người Việt Nam có ở mọi thế hệ, mọi dân tộc tựa như đã trở thành dòng máu chảy ngầm ở mỗi người con đất Việt. Chiến và Việt là hình ảnh của lớp trẻ hăng hái, dũng cảm trên bước đường chiến đấu gian khổ, khốc liệt của quê hương. Họ tiêu biểu cho sức trẻ có thể làm đổi thay sức lịch sử là ghi thêm trang mới. Nguyễn Thi đã phát hiện vẻ đẹp anh dũng của con người Việt Nam nhưng chưa đủ, nhà văn còn tìm thấy ẩn sâu bên trong những con người gan góc, quả cảm ấy là một tình yêu thương lớn lao, tình yêu thương gia đình. Việt tuy đã là anh bộ đội song vẫn ngây thơ, trẻ con như cậu bé thuở nào. Đoạn hai chi em Việt khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm gửi để đi bộ đội thật cảm động, nó để lại trong lòng ta biết bao rung động, tình cảm ngọt ngào: “Nào, đưa ba má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má”. Câu văn như nghẹn ngào mà lại chứa chan biết bao nhiêu sự quyết tâm của hai chị em Chiến và Việt. Việt cảm nhận được gánh nặng đang đè lên vai mình. Lần đầu tiên Việt cảm nhận rõ lòng mình như thế. Và Việt thấy thương chị. Con người Việt Nam trong chiến tranh đâu chỉ biết chiến đấu mà còn biết yêu thương. Họ đã vượt lên trên nỗi đau của cá nhân để chiến đấu vì nỗi đau đồng loại. Hình ảnh của Chiến và Việt hiện lên trong trang viết Nguyễn Thi thật xúc động, neo lại trong tâm hồn ta vừa ngạc nhiên vừa như ngỡ ngàng vì vẻ đẹp của con người Việt Nam một thuở. Không đi sâu vào đề tài chiến tranh, không miêu tả nhiều về cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu đã tìm những hạt ngọc còn ẩn sâu trong cuộc sống. Nhà văn đã viết về đề tài tình yêu trên nền của chiến tranh bom đạn. Đọc Mảnh trăng cuối rừng, ta bồi hồi tự hỏi : Và nơi đâu? Trên trái đất này Người vẫn ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay Sống chết từng ngày, mưa bom bão đạn Lòng nóng bỏng căm thù vẫn mát tươi tình bạn
Có nơi nào đẹp như nơi này chăng? Và có người dân nơi đâu vừa anh hùng trong chiến đấu, vừa nóng bỏng căm thù lại vẫn mát tươi một tình bạn, một tình yêu, tình đồng đội và tất cả gom lại thành tình yêu quê hương đất nước? Hiện lên trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu là hình ảnh của Nguyệt. Vẻ đẹp ngoại hình và phẩm chất của Nguyệt được khắc hoạ miêu tả thông qua cái nhìn của Lãm. Nguyệt sống giữa bom đạn mà niềm tin vào cuộc sống – “cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn giội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá nổi ư?”. Nguyệt có một niềm tin của cuộc sống. Hình ảnh Nguyệt hiện lên với “đôi gót chân hồng hồng, sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ”. Ở đầu tác phẩm đã gây cho người đọc biết bao yêu mến. Nguyệt có vẻ đẹp dịu dàng, “mát mẻ như sương núi” toả ra từ nét mặt, dáng người mảnh dẻ. Nguyệt còn là một cô gái dũng cảm, giúp Lãm vượt qua quãng đường khó. Lời nói cứng cỏi “anh bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó” cùng hình ảnh “Nguyệt nhìn vết thương, cười. Khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh và xinh đẹp” đã làm Lãm “dấy lên một tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục” và còn in đọng mãi trong lòng độc giả hình ảnh một cô gái trẻ tuổi, gan góc, thông minh được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ với giọng điệu ngợi ca, trân trọng. Nhà văn đã tìm thấy ở Nguyệt - hiện thân của sức trẻ - một sức sống, sức chống chọi phi thường. Nguyệt hiện lên trong trang viết, giữa khung cảnh chiến tranh như một mảnh trăng non đầu tháng, sáng trong, dịu hiền và luôn ẩn giấu một vẻ đẹp khiến ta phải tìm kiếm. Thế nhưng, Nguyễn Minh Châu không chỉ miêu tả phẩm chất anh hùng của Nguyệt mà còn khắc hoạ được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu, sức sống mãnh liệt và niềm tin bất diệt của cô vào cuộc sống. Nguyệt yêu Lãm khi chưa hề biết mặt, chưa hề thư từ mà chỉ qua lời của chị Tính. Cô Nguyệt chờ Lãm, mặc cho đôi khi Lãm đã quên lời hẹn ước nhưng Nguyệt vẫn tin tưởng vào tình yêu tưởng chừng như mong manh mà dẻo dai ấy. Hơn một lần Lãm phải ngạc nhiên vì “cái sợi chỉ xanh óng ánh”. Phải thầm thán phục khi biết Nguyệt phải một lòng chờ mình. Không khí truyện đầy lãng mạn, thơ mộng và vẽ đẹp của Nguyệt dần dần khám phá, soi tỏ. Trong chiến tranh, người ta không chỉ biết chiến đấu mà còn sáng lên một tình yêu chung thuỷ, son sắt. Nếu Nguyệt chỉ thông minh, gan dạ, dũng cảm thì chị cũng biết như bao cô gái thanh nên xung phong khác. Nguyễn Minh Châu đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn, tưởng như mỏng manh giữa chiến tranh bom đạn của người con gái ấy. Nguyệt sáng lên trong trang viết của ông hoà cùng với ánh trăng, và văn của Nguyễn Minh Châu cũng sáng lên trong lòng chúng ta bởi sức sống, niềm tin mãnh liệt của con người. Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyệt khiến ta tin yêu con người. Kì vọng vào tương lai. Nguyễn Minh Châu đã tìm thấy hạt ngọc nơi cuối rừng, hạt ngọc của thời rực lửa và cất lên khúc ca ngợi ca về con người. Về vẻ đẹp con người Việt Nam hoà chung với khúc ca bất diệt, đầy tự hào của văn học thời kì chống Mĩ cứu nước
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu là những tượng đài rộng lẫy về vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đầy gian khổ, thử thách mà rất đỗi anh hùng của dân tộc. Các nhà văn viết về tác phẩm anh hùng, sức sống mãnh liệt và những vẻ đẹp của con người trong thời chiến với giọng điệu ngợi ca, hào hùng nhưng ở mỗi tác phẩm ta đều bắt gặp một cách khám phá, sáng tạo riêng. Nếu như Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành đã dựng nên tập thể anh hùng với hình ảnh cây xà nu ham ánh sáng, có sức sống dẻo dai thì Nguyễn Minh Châu lại khắc hoạ hình ảnh mảnh trăng non cuối rừng để làm sáng lên vẻ đẹp của Nguyệt. Nếu như Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình đậm không khí sử thi, âm vang trầm hùng, bút pháp hùng tráng, đồ sộ thì Mảnh trăng cuối rừng lại đến với lòng ta bằng giọng điệu thiết tha, ngọt ngào, giàu màu sắc lãng mạn. Ba tác phẩm đi vào những khía cạnh khác nhau của đời sống kháng chiến, nhân vật hiện lên từ những khung cảnh, hoàn cảnh khác nhau và bút pháp khắc hoạ cũng mang tính độc đáo, cá biệt nhưng đều góp vào tiếng nói chung của dân tộc, tiếng nói khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước. Những năm tháng trôi đi và lịch sử không ngừng biến động nhưng Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình, Mảnh trăng cuối rừng mãi là những bông hoa không tuổi tựa mùa xuân không ngày tháng đã ghi lại quá khứ hào hùng, sôi động của đất nước mình một thuở. Vẻ đẹp con người Việt Nam đã làm nên cái hồn của cả dân tộc và góp phần làm cho tác phẩm còn sống mãi với thời gian. Văn học thời kì chống Mĩ cứu nước đã bắt được nhịp sống của dân tộc, đã ngợi ca sức sống và vẻ đẹp của con người Việt Nam. Giờ lật lại, chúng ta không khỏi tự hào, xúc động về những năm tháng đất nước nước mình đã đi qua, về vẻ đẹp muôn đời của người con đất Việt. Và ta mãi cất lên những bài ca không quên – bài ca viết về quê hương, viết về con người bởi tự hào biết mấy hai tiếng :Việt Nam. 3. Rừng xà nu dưới góc nhìn văn hóa Đã trở thành thói quen, người giáo viên dạy văn luôn đứng dưới góc nhìn xã hội học để tìm hiểu tác phẩm nên bỏ qua một khía cạnh vô cùng quan trọng: góc nhìn văn hoá. Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là một thực thể văn hoá. Tác phẩm không chỉ là tư tưởng, nó còn là văn hoá. Bởi vậy chỉ có thể hiểu đúng và đầy đủ tác phẩm khi biết đặt vào cái nôi văn hoá, nơi nó sinh thành. Từ bao nhiêu năm nay, khi dạy tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, người ta chỉ mặc nó vào cái áo may sẵn: \"cảm hứng sử thi, cách mạng\" và xem tác phẩm như là một biểu trưng tinh thần bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung. Điều này là đúng và cần thiết. Thế nhưng, nếu chỉ thế thôi thì chẳng khác gì đem \"chặt to kho mặn\" (như lời nhà văn nói về thực trạng dạy Rừng xà nu hiện nay) tác phẩm vốn chứa đựng rất nhiều những giá trị văn hoá độc đáo và kỳ lạ
của người Tây Nguyên. Không chỉ là văn hoá, Rừng xà nu còn thấm đẫm thâm tình thuỷ chung vốn là đặc trưng làm nên tính cách cũng như sức mạnh của con người Tây Nguyên. Rừng xà nu là một truyện ngắn hoàn hảo ở hình thức nghệ thuật với một kết cấu hết sức chặt chẽ. Đó là sự đan xen giữa không gian hiện thực và không gian hồi ức được bao bọc trong một cánh rừng xà nu. Trong cái không gian đan cài ấy nổi lên hai nhân vật: cụ Mết và Tnú. Từ hai nhân vật chính ấy nổi lên hai biểu tượng: truyền thống và hiện đại. Từ hai biểu tượng ấy nổi lên hai chủ đề: chiến tranh cách mạng và văn hoá truyền thống làm nên tình người cao đẹp và sự cố kết cộng đồng. Chủ đề chiến tranh cách mạng xin không đề cập trong bài viết này, bởi nó đã được khai thác một cách triệt để đến độ có cảm giác như là sự khai thác rừng ở Tây Nguyên hiện nay: trần trụi và tàn nhẫn. Ở Rừng xà nu, bên cạnh ngọn lửa xà nu hừng hực nóng còn có ngọn gió mát dịu từ con suổi và máng nước đầu làng, từ không khí nhà rông. Rất tiếc rằng \"ngọn gió mát\" ấy lâu nay không được tìm hiểu một cách thấu đáo nên đã làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp của truyện ngắn được cho là thành công nhất của nhà văn Nguyên Ngọc sau \"Đất nước đứng lên\". Ngọn gió mát ấy chính là cái tình người sâu nặng của cộng đồng Xô- man. Sự kiện Tnú trở về sau ba năm đi lực lượng đã làm cho không khí thâm trầm của làng bỗng nhiên rạo rực hẳn lên: \"Ở mỗi cửa nhà ló ra bốn, năm cái đầu ngơ ngác. Những cặp mắt tròn xoe, rồi những tiếng ré lên và những tiếng reo...cả làng đã vây chặt quanh Tnú\". Hơn ở đâu hết, không gian làng ở Tây Nguyên là một không gian luôn đầy ắp tình người. Tính cộng đồng và lẽ công bằng đã làm nên đặc điểm đó của người Tây Nguyên. Đối với họ, chuyện của một gia đình cũng là chuyện của làng, một nhà có khách là cả làng đến chia vui, không cần phải mời mọc. Thật hạnh phúc biết bao! Đêm Tnú trở về, cả làng tụ họp ở nhà cụ Mết để không phải chỉ nghe những lời giáo huấn của truyền thống mà quan trọng hơn là để thể hiện niềm ân tình đối với một thành viên của cộng đồng. Đó là tình cảm thiêng liêng mà người Tây Nguyên hằng tôn thờ như là sự tôn thờ Giàng tốt của họ. Vốn là người rất am hiểu đời sống Tây Nguyên, tác giả đã dành rất nhiều chi tiết để nói về tình cảm này mà trong khuôn khổ bài viết, không thể dẫn hết ra được. Nguyễn Trung Thành cũng đã dành một mảnh đất rất lớn ở phần đầu tác phẩm để đón bước chân Tnú trở về. Nếu chúng ta để ý một chút sẽ thấy rõ điều này: bé Heng đón Tnú ở chỗ \"con nước lớn\", rồi đến chỗ \"con suối nhỏ dẫn nước từ trong lòng đá ra\" bé Heng bảo Tnú \"rửa chân đi\". Tại sao phải rửa chân? Ở Xô-man, ranh giới giữa làng và rừng là một dòng nước. Bên kia là rừng, bên này là làng. Rừng là tự nhiên, làng là văn hoá (theo định nghĩa những gì không phải tự nhiên là văn hoá). Chỉ là dòng nước thôi nên ranh giới ấy là hết sức mong manh, rừng có thể chiếm lại làng bất cứ lúc nào. Người Tây Nguyên quan niệm rừng là nơi ngự trị của thần linh và cả ma quỉ (rừng
Search