Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore TÀI LIỆU Phổ thông Tân Châu

TÀI LIỆU Phổ thông Tân Châu

Published by c1tanphubtc.tayninh, 2023-06-27 21:20:06

Description: TÀI LIỆU Phổ thông Tân Châu

Search

Read the Text Version

dạy và giáo dục học sinh của mình mà còn có khả năng truyền cảm hứng, lan tỏa cảm xúc tích cực đến người học, từ đó cảm hóa được người học, làm cho quá trình hoạt động chuyên môn của mình đạt hiệu quả cao hơn. - Ba là, các phẩm chất đạo đức nghề giáo của người giáo viên thể hiện trong quan hệ với học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp và các mối quan hệ xã hội khác. Phong cách nhà giáo không chỉ được toát ra từ hình thức bề ngoài và hình thức của giao tiếp. Ngược lại, những hình thức bề ngoài và nghệ thuật giao tiếp đó phải được toát ra từ hệ thống các phẩm chất đạo đức của một người làm nghề giáo. Vì vậy, đã là nhà giáo nhất thiết phải luôn trao dồi đạo đức nghề nghiệp, phải thể hiện được lòng yêu nghề, yêu trẻ, đức tính nhân ái, bao dung, trung thực, cần mẫn trong mỗi việc làm, hành động. Chỉ trên nền tảng đó, mọi vấn đề về nghệ thuật giao tiếp, khả năng thuyết phục và cảm hóa, tạo dựng lòng tin nơi người học mới đạt được hiệu quả và có sức sống lâu bền. - Bốn là, tác phong và trang phục của người giáo viên trong trường học, công sở và các nơi công cộng khác. Làm nghề giáo đòi hỏi người giáo viên cần phải có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, trang phục phải phù hợp với tính chất công việc, thể hiện được sự chuyên nghiệp, tính thẩm mỹ, nền nếp lối sống của người thầy. Trong bối cảnh hiện nay, tác phong, trang phục của giáo viên ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành nhân cách của học sinh. Trang phục thể hiện tri thức và tư duy thẩm mỹ của người giáo viên, có khả năng tạo ấn tượng và niềm tin cho người học. Vì vậy, một giáo viên có trang phục gọn gàng, sạch sẽ, phù hợp với đặc điểm cơ thể và tính chất công việc sẽ tạo được ấn tượng tốt đẹp, sự nghiêm túc, chuyên nghiệp trong công việc, đồng thời qua đó giáo dục thẩm mỹ và nhân cách cho học sinh. 1.3.2.2. Các yếu tố tác động đến quá trình xây dựng, rèn luyện phong cách nhà giáo - Đặc thù của lao động sư phạm Lao động sư phạm là một loại hình lao động đặc thù, trong đó đối tượng của quá trình lao động là học sinh, công cụ của quá trình lao động sư phạm chính là nhân cách của người giáo viên; bằng chính nhân cách của mình, giáo viên tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của học sinh. Sản phẩm của lao động sư phạm là những nhân cách theo mô hình mà xã hội đòi hỏi ở giáo dục nhà trường. Như vậy, khác với những lao động trong các lĩnh vực khác, trong lao 51

động sư phạm, từ đối tượng đến công cụ và sản phẩm đều là con người, đặc biệt sản phẩm là động là nhân cách người học với sự tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, thái độ, phẩm chất đạo đức… Với tư cách là một nhân tố cốt lõi trong quá trình lao động sư phạm, phong cách của người giáo viên tất yếu phải chịu sự quy định của đặc trưng nghề nghiệp. Có thể nói, từ nền nếp, thói quen làm việc, sinh hoạt đến lời ăn, tiếng nói, ứng xử, trang phục… đều phải thể hiện được tính chuẩn mực, tính mô phạm, tính giáo dục. Xã hội ngày càng phát triển càng đòi hỏi ở người giáo viên phải đạt được các yêu cầu chuẩn mực cao, thể hiện sự chuyên nghiệp, năng lực chuyên môn uyên thâm, kỹ năng nghề nghiệp tinh thông. Đến lượt nó, những quy định đó lại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động và quy định đến phong cách của người giáo viên trên mọi phương diện. - Đặc điểm khí chất, tâm lý cá nhân Những kết quả nghiên cứu trong tâm lý học học cho thấy, khí chất và tính cách ảnh hưởng rất nhiều phong cách và nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Nghề giáo là một trong những nghề thường xuyên phải tương tác với nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, giáo viên cũng đồng thời thường xuyên phải đối mặt với nhiều tình huống xung đột khác nhau như: xung đột giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, giáo viên với phụ huynh, giáo viên với giáo viên, giáo viên với lãnh đạo… Chính trong những tình huống và mối quan hệ này mà chúng ta thấy rõ sự biểu hiện của các phong cách nhà giáo. Khí chất là tổng thể các đặc tính bẩm sinh bền vững thể hiện rõ diễn biến phức tạp của toàn bộ hoạt động tâm lý cá nhân. Đặc điểm của khí chất là ổn định, vững chắc và gắn liền với các kiểu thần kinh của cá nhân liên quan mật thiết với tính cách và năng lực. Theo các nhà tâm lý học, có 4 kiểu khí chất cơ bản là: khí chất linh hoạt, khí chất trầm tĩnh, khí chất nóng nảy, khí chất ưu tư. Mỗi loại khí chất lại có những đặc trưng riêng và thông qua đó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động nghề nghiệp, giao tiếp xã hội cũng như góp phần hình thành nên phong cách riêng của mỗi người trong đó có phong cách nhà giáo. Những nghiên cứu sư phạm cho thấy, những giáo viên có khí chất linh hoạt thường rất hăng hái, hoạt bát, xông xáo trong các hoạt động tập thể của nhà trường, họ thuộc nhóm những giáo viên thường rất hòa đồng, cởi mở đối với học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp. Khi thực hiện công việc giảng dạy và giáo dục học sinh, họ thường tạo được thiện cảm, lan tỏa năng lượng tích cực tới người 52

học. Trong khi đó, những giáo viên có khí chất nóng nảy lại thường hay phản ứng gay gắt với học sinh, thiếu kiên nhẫn với những lỗi sai phạm của học sinh, nhiều khi dễ dẫn đến nặng lời hoặc thậm chí đánh học sinh. Cùng với khí chất, tính cách cũng ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành phong cách của người giáo viên. Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp, đặc trưng, điển hình cho mỗi cá nhân, phản ánh hệ thống thái độ với hiện thực khách quan và thể hiện trong một hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng của cá nhân đó. Tính cách khác với khí chất ở chỗ, nếu khí chất là thuộc tính tâm lý bẩm sinh còn tính cách là hình thành từ kinh nghiệm sống và giáo dục. Trong cấu trúc hoàn chỉnh của tính cách, nét điển hình của thái độ, hành vi đạo đức giữ vai trò chủ đạo, nét điển hình của hệ thống tình cảm đóng vai trò quan trọng và những đặc trưng về ý chí, hành động ý chí của cá nhân đóng vai trò nòng cốt. Với đặc trưng trên đây, khí chất và tính cách của mỗi cá nhân góp phần quan trọng quy định đến phong cách, hình ảnh hay còn gọi là kiểu giáo viên khác nhau. Hình ảnh về một người thầy nào đó trong tâm trí của học sinh có rất nhiều yếu tố liên quan đến khí chất và tính cách của người giáo viên ấy. - Trình độ nhận thức và kinh nghiệm công tác Một trong những yếu tố quan trọng tác động đến phong cách của nhà giáo đó chính là trình độ nhận thức và kinh nghiệm trong hoạt động nghề giáo của mỗi giáo viên. Thực tiễn cho thấy, những giáo viên có tri thức chuyên môn sâu sắc, có kinh nghiệm công tác trong ngành giáo dục nhiều năm thường có phong cách chững chạc, nghiêm túc, có lối ứng xử với học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp tốt hơn so với các giáo viên mới ra trường. Có thể nói, những kinh nghiệm trong giao tiếp và giải quyết các tình huống sư phạm rất quan trọng trong việc xây dựng phong cách nhà giáo. Họ thường là những người biết cách giao tiếp mô phạm với các học sinh, phụ huynh, biết cách hòa giải các xung đột giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh… do vậy mà tạo được sự thiện cảm, tin tưởng và dấu ấn riêng cho mình trong quá trình hoạt động nghề nghiệp. Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, nghề giáo là một trong những nghề phải thường xuyên đối mặt với nhiều tình huống mâu thuẫn phức tạp. Vì thế những kinh nghiệm trong công tác đã làm cho kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng hòa giải xung đột… không ngừng được nâng cao mỗi ngày, từ đó góp phần xây dựng 53

cho mỗi giáo viên những phương pháp và cách thức giảng dạy và giáo dục học sinh riêng, phù hợp với từng đối tượng, bối cảnh cụ thể. Tổng hợp tất cả những yếu tố ấy làm nên phong cách riêng biệt từng giáo viên. 1.3.2.3. Vai trò của phong cách nhà giáo Nghề giáo là một nghề có ảnh hưởng lớn tới xã hội. Người giáo viên là một kiểu người chịu sự kiểm soát rất nhiều bởi các lực lượng xã hội khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, việc xây dựng và giữ gìn hình ảnh, phong cách của nghề giáo là nhiệm vụ rất quan trọng của mỗi nhà giáo. Phong cách nhà giáo được thể hiện ra trên nhiều phương diện và hành động khác nhau như: phương pháp làm việc, phương pháp giảng dạy và giáo dục học sinh, lối sống, cách thức giao tiếp, ứng xử với học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp, trang phục, thói quen sinh hoạt… Tất cả những yếu tố ấy ít nhiều đều có tác động đến sự hình thành nhân cách của người học một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thậm chí có những khía cạnh, đặc điểm ảnh hưởng một cách sâu sắc, lâu dài tới người học. Thực tiễn nghề giáo cho thấy, những giáo viên có khả năng sư phạm tốt, có năng lực giảng dạy và giáo dục học sinh phù hợp đã góp phần rất quan trọng đối với sự trưởng thành của các thế hệ học sinh. Họ là những người luôn được các thế hệ học trò yêu mến, tin tưởng. Thông qua phong cách giảng dạy, phong cách giáo dục học sinh, phong cách ăn mặc, ứng xử mà tạo nên sự ảnh hưởng, sức lan tỏa tích cực, rộng rãi trong học sinh, từ đó mà công tác giáo dục học sinh cũng trở nên dễ dàng, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Học sinh là người chưa hoàn toàn định hình về tâm lý, tính cách. Họ rất dễ chịu sự chi phối bởi người mà họ thần tượng và tin tưởng. Giáo viên là người trực tiếp làm việc với học sinh, gần gũi với học sinh hàng ngày, hàng tuần. Vì thế, lối tư duy, quan điểm, lối sống, nền nếp, năng lực giao tiếp… đều có thể tác động đến học sinh theo những cách thức khác nhau. Với vai trò quan trọng đó, mỗi nhà giáo phải hết sức chú tâm đến việc xây dựng cho mình một phong cách đặc trưng trong đó vừa đảm bảo được những yêu cầu, chuẩn mực, đòi hỏi của nghề giáo, lại vừa tạo nên được những nét riêng, ghi lại dấu ấn tốt đẹp trong tâm trí người học, biến phong cách của mình thành một thương hiệu cá nhân, một công cụ quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh. 1.3.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Phong cách nhà giáo được thể hiện trên những phương diện nào? 54

Câu 2. Phân tích các yếu tố tác động tới quá trình xây dựng phong cách nhà giáo. Ý nghĩa của vấn đề này trong rèn luyện phong cách nhà giáo của mỗi giáo viên phổ thông. Câu 3. Vai trò của phong cách nhà giáo đối với quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh ở phổ thông. 55

NỘI DUNG 2 THỰC TRẠNG VỀ PHONG CÁCH NHÀ GIÁO TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 2.1. Mục tiêu Học xong phần này, học viên cần đạt các mục tiêu sau: - Nêu được các trường hợp giáo viên vi phạm về phong cách nhà giáo trong những năm qua, đặc biệt là trong thời gian gần đây - Liệt kê được nguyên nhân dẫn đến những vụ việc vi phạm liên quan đến phong cách nhà giáo của một số thầy cô giáo ở các cấp trên cả nước - Liệt kê được một số các tấm gương nhà giáo điển hình trong xây dựng phong cách nhà giáo ở phổ thông 2.2. NHỮNG KẾT QUẢ TÍCH CỰC CỦA VIỆC XÂY DỰNG PHONG CÁCH NHÀ GIÁO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.2.1. Nhiệm vụ - Đọc mẫu thông tin dưới đây và thực hiện theo nhóm các nhiệm vụ sau: - Chỉ ra được những kết quả tích cực trong công tác xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo trong những năm gần đây - Thống kê những nhà giáo có nhiều sáng tạo và đóng góp cho sự nghiệp trồng người mà anh (chị) biết. - Phân tích được các nguyên nhân của các kết quả tích cực trong xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo 2.2.2. Thông tin cơ bản - Kết quả: Thứ nhất, đại bộ phận giáo viên trong các cơ sở giáo dục phổ thông có đạo đức nghề nghiệp, yêu nghề và tận tụy với công việc Thực tiễn của ngành giáo dục trong những năm qua cho thấy, trong số gần 1 triệu giáo viên phổ thông hiện nay, đại bộ phận giáo viên đều có phẩm chất đạo đức tốt, dù còn gặp nhiều khó khăn trong công tác cũng như trong đời sống nhưng họ đều là những người giáo viên yêu nghề, yêu trẻ, hết mình, tận tụy với công 56

việc. Theo những báo cáo về đánh giá chất lượng giáo viên trong những năm qua có thể thấy, giáo viên phổ thông phần lớn đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hoàn thành sứ mệnh cao cả mà Đảng, nhà nước và toàn xã hội giao phó cũng như kỳ vọng. viên trên cả nước. Có thể thấy, đi đến tỉnh nào, vùng nào trên đất nước Việt Nam hầu như chúng ta cũng có thể nghe kể về những tấm gương nhà giáo điển hình, xuất sắc trong công tác, có nhiều đóng góp lớn lao cho ngành giáo dục. Chỉ tính riêng trong năm 2019, năm Bộ Giáo dục và Đào tạo lần đầu tiên tổ chức vinh danh nhà giáo, đã có 183 nhà giáo tiêu biểu, trong đó 128 giáo viên đến từ các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông; 55 thầy cô đến từ các trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc. Đây là những tấm gương tiêu biểu năm 2019, được bình chọn từ 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Họ là những giáo viên đang công tác ở vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa không quản ngại khó khăn vất vả, gian nan “cõng chữ lên non”, động viên đồng bào cho con đến trường, chia sẻ cả những đồng lương còn khiêm tốn của mình để nuôi dạy các em học sinh. Trong số họ chúng ta có thể kể đến một số thầy cô giáo tiêu biểu như: Thầy Hồ Văn Lợi, trường Phổ thông dân tộc bán trú Ngam La, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, cô Hoàng Thị Lụy và cô Mùng Thị Tra, điểm trường mầm non Pờ Chừ Lủng, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang; thầy Phạm Minh Đức, thầy Đinh Văn Luyện, thầy Phạm Thanh Hải ở trường phổ thông dân tộc nội trú Tà Xi Láng, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; Cô giáo Hoàng Thị Mây, trường Mầm non xã Pải Lủng, Mèo Vạc, Hà Giang; thầy Đoàn Văn Tuyền, điểm trường Điek Ta Âu, xã Ngok Tem (H.Kon Plông) trên đỉnh núi Ngọk Brel… Những thầy cô trên đây đều phải công tác nơi vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, xa xôi, hẻo lánh, thiếu đường, thiếu điện, thiếu phương tiện liên lạc, thiếu nước, phòng học đơn sơ, thiếu diện tích, thiếu phương tiện dạy học, trình độ dân trí thấp, kinh tế kém phát triển, đường sá lầy lội. Có những điểm trường phải đi bộ theo triền núi nhiều ngày mới có thể đến được lớp học. Vì vậy, đối với họ chỉ có tình yêu nghề, yêu trẻ, nghị lực phi thường mới có thể chiến thắng được nghịch cảnh, tiếp tục nhiệm vụ trồng người nơi bản cao xa xôi, rừng thiêng nước độc ấy. Trong công việc hàng ngày của họ đã cho chúng ta thấy sự tâm huyết, đức tính hy sinh, lòng kiên nhẫn vì sự nghiệp ươm mầm, gieo chữ. Ngoài ra, ngành giáo dục Việt nam còn chứng kiến nhiều tấm gương nhà giáo với lòng nhiệt huyết, yêu nghề họ đã miệt mài đóng góp cho sự nghiệp giáo 57

dục theo cách riêng của mình như mở các lớp học miễn phí như: cô giáo Trâm Anh tổ chức các lớp học miễn phí nhằm giúp học sinh lấy lại kiến thức, cô giáo Nguyễn Thị Thanh mở lớp ôn luyện miễn phí đã hơn 25 năm cho học sinh ở Quảng Ngãi, cô giáo Nguyễn Thị Côi mở lớp học miễn phí dù đã nghỉ hưu và bước vào tuổi 75 ở Hà Nội, cô Jrai, cô Rmah H’Blao mở lớp học miễn phí cho học sinh vùng khó khăn, thầy giáo Hồ Xuân Thành (Nghệ An) mở lớp miễn phí cho sinh học dù tuổi thầy đã cao. Nhìn chung, trong những năm qua dù có nhiều khó khăn, những ngành giáo dục Việt Nam vẫn luôn luôn có đông đảo những thầy cô giáo hết lòng vì nghề, yêu thương học sinh hết mình, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm cao cả với nghề giáo. Họ sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn về cơ sở vật chất trường lớp, sẵn sàng đi đến những vùng núi, hải đảo xa xôi để gieo chữ trồng người. Những việc làm của họ nhiều khi đơn giản nhưng lại có sức lay động lòng người, tác động tích cực tới phụ huynh, học sinh, góp phần vào việc tạo dựng niềm tin của xã hội đối với nghề dạy học. Thứ hai, giáo viên trong các cơ sở giáo dục phổ thông cơ bản có tác phong làm việc khoa học, năng động, sáng tạo. Họ còn là những tấm gương không ngừng thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, thực hiện những ý tưởng sáng tạo để nâng cao chất lượng dạy và học. Họ là những nhà giáo tiêu biểu như: Cô giáo Trần Thị Thúy, một giáo viên ở trường làng, vượt qua 10.000 ứng viên, lọt vào danh sách 50 giáo viên toàn cầu nhưng từ chối làm việc tại Canada để về công tác tại trường THPT Đức Hợp (Hưng Yên) truyền đam mê tiếng anh cho học trò nghèo; Cô Nguyễn Thị Mây trường Mầm non xã Pải Lủng, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, khi nhận dạy lớp trẻ 5 tuổi, nhận ra hạn chế lớn nhất của các cháu trong xã là nói ngọng, phát âm chưa chuẩn. Cô Mây đã tự xây dựng giáo án riêng, chia các cháu ra thành từng nhóm học để phát huy hết điểm mạnh, tỉ mỉ hướng dẫn từng cháu viết chữ, phát âm sao cho chuẩn nhất. Cô giáo Nguyễn Thị Thúy Nga đã sáng tạo ra cách dạy địa lý bằng Tiếng Anh tại trường THPT chuyên Nguyễn Trãi (Hải Dương), cô đã soạn giảng một số tiết học địa lý bằng Tiếng Anh để biến ngoại ngữ thành ngôn ngữ chứ không phải môn học giúp cho nhiều học sinh có hứng thú hơn đối với cả hai môn học; Thầy giáo Nguyễn Trần Thái Vũ, giáo viên trường THPT Trường Chinh, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, người đã truyền 58

lửa đam mê và đồng hành cùng các em học sinh nghiên cứu, sáng tạo. Thầy Vũ đã trực tiếp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, có nhiều dự án đạt giải cao trong cuộc thi KHKT dành cho học sinh trung học các cấp, như: Dự án “Máy bơm nước thủy lực” đạt giải Ba cấp tỉnh năm học 2015-2016; dự án “Hệ thống bảo vệ và chăm sóc vườn nho thông minh” đạt giải Nhất cấp tỉnh năm học 2019- 2020; dự án “Nhà thông minh” đạt giả Nhì cấp tỉnh năm học 2019-2020. Đặc biệt, năm học 2018-2019, dự án “Máy thu gom nông sản tự động trên sân phơi” đạt giải Nhất cấp Quốc gia khu vực phía Nam. - Nguyên nhân: Một là, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về đạo đức, tác phong nhà giáo. Trong một số năm gần đây, trước yêu cầu của thực tiễn giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quỵ định cụ thể về chuẩn đạo đức nghề nghiệp của giáo viên phổ thông, cụ thể như: * Quy định về đạo đức nhà giáo ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo * Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 08 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo * Quy định quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Thông tư số 06/2019/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 04 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Những văn bản quy phạm pháp luật trên đây là những căn cứ pháp lý rất quan trọng để toàn ngành giáo dục nói chung, các trường phổ thông nói riêng có thể triển khai những nội dung liên quan đến việc xây dựng phong cách nhà giáo ở phổ thông trong bối cảnh hiện nay. Nhiều nội dung trong các văn bản trên đây đã bám sát với tình hình thực tế, phản ánh được yêu cầu, đòi hỏi và thực trạng của tình hình xây dựng phong cách nhà giáo. Trên cơ sở này, giáo viên phổ thông có được định hướng và căn cứ vững chắc để thực hiện quá trình xây dựng đạo 59

đức, lối sống và phong cách nhà giáo. Đó chính là lý do của những thành tựu cơ bản về vấn đề xây dựng phong cách nhà giáo ở phổ thông hiện nay. Hai là, chương trình bồi dưỡng thường xuyên dành cho giáo viên phổ thông đã phần nào phát huy được tác dụng tích cực Bồi dưỡng thường xuyên là một trong những biện pháp nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ cho giáo viên phổ thông. Thông qua các chương trình bồi dưỡng, với các module cụ thể về nhiều mặt mà giáo viên phổ thông có cơ hội cập nhật được nhiều kiến thức mới, nhiều kỹ năng nghiệp vụ bổ ích, nhiều phương pháp dạy học tích cực, hiện đại. Trên cơ sở của các module này, giáo viên dần thay đổi nhận thức, kỹ năng, từ đó mà thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi phương pháp giáo dục học sinh, làm cho quá trình dạy học và giáo dục có hiệu quả hơn, thuyết phục hơn. Đó cũng chính là cốt lõi dẫn đến sự thay đổi trong phong cách của nhà giáo. Có thể nói, sự thay đổi về phương pháp dạy học và giáo dục, sự thay đổi trong cách tiếp cận những vấn đề như: giải quyết các xung đột trong môi trường giáo dục, giữa học sinh với giáo viên, giữa giáo viên với phụ huynh, quan niệm về trường học hạnh phúc… đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi hình ảnh, phong cách của một người thầy truyền thống sang một phong cách mới, năng động, sáng tạo, hội nhập, hiện đại phù hợp với yêu cầu của bối cảnh xã hội mới. Ba là, ảnh hưởng tích cực từ các cơ sở giáo dục ngoài công lập trong việc xây dựng văn hóa nhà trường Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, cùng với sự thay đổi quan điểm và chính sách trong giáo dục, đặc biệt là chính sách xã hội hóa giáo dục đã dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của hệ thống giáo dục ngoài công lập. Bên cạnh việc tranh thủ được nguồn lực tài chính, sự ra đời của hệ thống giáo dục ngoài công lập đã mang đến cho giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng một không khí mới, cởi mở, hiện đại, dân chủ với nhiều giá trị mới mẻ. Có thể thấy, với một nguồn lực tài chính mạnh, quan điểm hiện đại về giáo dục, nhiều hệ thống giáo dục tư nhân và giáo dục quốc tế đã xây dựng văn hóa nhà trường rất bài bản từ việc lựa chọn triết lý giáo dục, tầm nhìn, sứ mệnh đến cơ sở vật chất, trang phục giáo viên, nền nếp làm việc, nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp và giao tiếp ứng xử... Tất cả đều theo một phong cách chuyên nghiệp, hiện đại. Chính trong sự phát triển này, hệ thống giáo dục ngoài công lập đã tác động, ảnh hưởng đến 60

hệ thống giáo dục công lập. Nhiều cách làm hay, nhiều quy định cụ thể liên quan đến phong cách chuyên nghiệp của nhà giáo, các quan niệm hiện đại, phát triển về giáo dục đã được các cơ sở giáo dục công lập và đội ngũ giáo viên phổ thông học tập, nhân rộng, tạo nên một diện mạo mới về trường học, văn hóa nhà trường và phong cách người giáo viên. 2.2.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Phân tích các nguyên nhân dẫn tới các thành tựu của việc xây dựng phong cách nhà giáo tại cơ sở giáo dục mà thầy (cô) đang công tác. Câu 2. Bài học kinh nghiệm cho bản thân và nhà trường từ các thành tựu này là gì? 2.3. MỘT SỐ HẠN CHẾ, TỒN TẠI CỦA VIỆC XÂY DỰNG PHONG CÁCH NHÀ GIÁO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.3.1. Nhiệm vụ - Đọc mẫu thông tin dưới đây và thực hiện theo nhóm các nhiệm vụ sau: - Chỉ ra được những tồn tại và hạn chế trong công tác xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo trong những năm gần đây - Thống kê những vục việc liên quan đến vi phạm đạo đức, phong cách nhà giáo trong thời gian gần đây - Phân tích được các nguyên nhân cơ bản của các tồn tại và hạn chế quá trình xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo 2.3.2. Thông tin cơ bản - Một số tồn tại và hạn chế: Thứ nhất, một bộ phận nhà giáo còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nhà giáo Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền giáo dục Việt Nam hiện nay cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có vấn đề về xây dựng đạo đức và phong cách nhà giáo. Với tinh thần nhìn thẳng sự thật, trong những năm gần đây hiện tượng các nhà giáo vi phạm chuẩn mực nghề nghiệp, vi phạm đạo đức đang có xu hướng ngày càng tăng về số vụ, phức tạp và nghiêm trọng về tính chất của các vụ việc. Những hiện tượng này đã và đang làm xói mòn lòng tin của xã hội vào nghề giáo, tác động tiêu cực đến tâm tư, tình cảm của nhân 61

dân và học sinh đối với hình tượng người thầy. Từ hệ thống báo chí điện tử và các phương tiện truyền thông, có thể nhanh chóng liệt kê và phân loại những vụ việc vi phạm đạo đức nhà giáo trong những năm gần đây theo những phương diện như sau: - Một là, các vụ việc giáo viên xâm hại tình dục, bạo lực và xúc phạm thân thể, tinh thần đối với học sinh Đây là loại vi phạm đạo đức có chiều hướng tăng trong xã hội Việt Nam hiện nay, trong đó có ngành giáo dục. Trong những năm qua đã liên tục xảy ra những vụ việc nghiêm trọng trên phương diện này như: Hiệu trưởng trường THPT dân tộc nội trú huyện Thanh Sơn có hành vi dâm ô với nhiều học sinh nam ngay tại trường; một thầy giáo khác ở trường tiểu học Zơ Nông, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam hiếp dâm 3 học sinh; thầy giáo tại Lào Cai quan hệ tình dục với học sinh nữ nhiều lần dẫn đến học sinh mang thai. Những vụ việc như trên có thể nói là rất khó chấp nhận trong môi trường giáo dục và thường phải nhận sự lên án kịch liệt từ cộng đồng, truyền thông. Đáng buồn là số vụ việc ở phương diện này có dấu hiệu ngày càng tăng về số vụ và nghiêm trọng về tính chất. Đó thực sự là một hồi chuông báo động cho các cấp quản lý giáo dục cũng như toàn thể giáo viên trong việc thực hiện các quy định liên quan đến đạo đức nhà giáo. Số vụ việc về bạo lực học đường cũng có xu hướng tăng trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều văn bản pháp luật quy định rất cụ thể. Có thể kể ra một số vụ việc như, giáo viên đánh, tát khi các trẻ ăn, khóc; giáo viên sỉ nhục học sinh bằng các hình thức như uống nước giẻ lau bảng, quỳ; yêu cầu học sinh khác tát bạn; sỉ nhục học sinh bằng các lời nói… Nhiều vụ việc ở phương diện này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần đối với học sinh, làm mất hình ảnh và uy tín của người thầy đối với phụ huynh, học sinh và toàn xã hội. Nó cũng cho thấy, một mặt, đội ngũ giáo viên đang đối mặt với nhiều áp lực quá mức dễ dẫn đến cáu giận và mất khả năng làm chủ; mặt khác kỹ năng của nhiều giáo viên là chưa thực sự tốt. - Hai là, các vụ việc giáo viên lợi dụng vị trí công tác, chức vụ, quyền hạn để thực hiện việc trục lợi 62

Đây là các vụ việc liên quan nhiều đến lợi ích kinh tế. Mục đích của các vụ việc này thường là để thực hiện hành vi tham ô, tham nhũng. Các hiện tượng cần kể đến thuộc vào phương diện này gồm các dạng như: nâng điểm cho người học, nâng điểm thi tốt nghiệp THPT nhằm mục đích trục lợị, dùng điểm để gạ tình, giáo viên tìm cách o ép học sinh nhằm buộc học sinh phải học thêm. Trong những năm qua đã diễn ra những vụ việc chấn động xã hội, gây mất uy tín của ngành giáo dục một cách nghiêm trọng như: …. - Ba là, các vụ việc giáo viên bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ Trong đội ngũ giáo viên còn xảy ra tình trạng bè phái, cục bộ đia phương, lợi ích nhóm, kèn cựa nhau trong công tác làm ảnh hưởng đến hình ảnh người thầy trong đồng nghiệp, học sinh, phụ huynh và xã hội. Trong thời gian qua, liên quan đến phương diện này có một số vụ việc như: Hiệu trưởng và Hiệu phó bị kỷ luật do mất đoàn kết tại trường THCS An Xuyên 2, trường Tiểu học Lê Văn Tám (Thái Nguyên) để sai phạm và mẫu thuẫn kéo dài; giáo viên của trường Mầm non xã Lộc An, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng vì mâu thuẫn với Ban giám hiệu dẫn đến uống thuốc sâu tự tử… Từ các diễn dàn của báo chí điện tử chính thống và các phương tiện truyền thông có thể thấy, tình trạng mất đoàn kết, mâu thuẫn nội bộ trong các Hội đồng sư phạm, đặc biệt là sự mâu thuẫn giữa tập thể giáo viên với Ban Giám hiệu hoặc mâu thuẫn giữa Hiệu trưởng với Phó Hiệu trưởng, tình trạng bằng mặt nhưng không bằng lòng… không phải là chuyện hiếm gặp, thậm chí nhiều ý kiến cho rằng đó là hiện tượng khá phổ biến. Nguyên nhân được xác định thường là do Ban Giám hiêu không công bằng trong phân công công việc, quản lý tài chính, bố trí công tác… - Bốn là, các vụ việc giáo viên sống có lối sống buông thả, tha hóa về đạo đức gây ảnh hưởng xấu trong học sinh, phụ huynh và dư luận xã hội Trong những năm gần đây, dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và mặt trái của công nghệ thông tin nên ngay cả một số giáo viên cũng bị sa ngã và chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, tha hóa về đạo đức gây ảnh hưởng tiêu cực đối với học sinh, gây phẫn nộ trong phụ huynh và dư luận xã hội. Liên quan đến vấn đề có một số vụ việc tiêu biểu như: vụ việc 2 viên chức của ngành giáo dục, trong đó có một cô giáo dạy tiểu học ở Hương Khê, Hà Tĩnh đã cùng các đối tượng khác tổ chức tiệc ma túy trong quán karaoke; vụ việc một cô giáo mầm non ở xã Phú Thạnh, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau ngoại tình với công 63

an viên; các vụ việc liên quan đến một số giáo viên lợi dụng lòng tin của đồng nghiệp, phụ huynh để mượn số tiền lớn rồi bỏ trốn như ở Bà Rịa, Vũng Tàu, ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh, ở Phú Lộc, Thừa Thiên Huế… Những vụ việc kể ra trên đây chỉ là số ít trong khá nhiều trường hợp tương tự xảy ra trên cả nước trong những năm qua mà người vi phạm chính lại là những giáo viên ở các cấp từ mầm non đến Đại học. Những hiện tượng trên dù không phải quá phổ biến nhưng nó đang báo hiệu cho thấy, một bộ phận giáo viên đã không chịu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, không giữ gìn lối sống mà chạy theo các trào lưu tiêu cực của xã hội, tha hóa biến chất trong đạo đức, lối sống dẫn đến việc vi phạm cả về đạo đức lẫn pháp luật. Tóm lại, bức tranh về nhà giáo nói chung, trong đó có khía cạnh về đạo đức, tác phong nhà giáo trong những năm gần đây đang tồn tại nhiều mảng tối. Đáng buồn là những mảng tối này đang có chiều hướng gia tăng đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải tìm ra những nguyên nhân chủ yếu và trên cơ sở đó xây dựng những giải pháp hữu hiệu để khắc phục các hạn chế, lấy lại niềm tin của xã hội đối với nghề giáo. Thứ hai, tính chuyên nghiệp của đội ngũ giáo viên phổ thông chưa được chú trọng Tính chuyên nghiệp là một trong nhưng yêu cầu quan trọng của xã hội hiện đại. Tính chuyên nghiệp là thước đo mức độ hoàn thành công việc của mỗi người. Hiểu một cách đơn giản, tính chuyên nghiệp yêu cầu những việc làm, hạnh kiểm, mục tiêu và phẩm chất làm nên một chuyên gia. Tính chuyên nghiệp được thể hiện qua tài năng, kiến thức chuyên môn, sự liêm chính, tôn trọng, có trách nhiệm. Ngoài ra nó còn được đánh giá trên phong cách làm việc cá nhân, khả năng kiểm soát được hình ảnh của bản thân. Với những đặc trưng cơ bản trên, tính chuyên nghiệp là một trong những tính chất quan trọng bậc nhất để làm nên phong cách của một người trong một lĩnh vực nghề nghiệp nào đó. Với nghề dạy học, thiết nghĩ tính chuyên nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng để xây dựng nền giáo dục trở nên chất lượng và hiệu quả. Trở nên chuyên nghiệp giúp cho người giáo viên đạt được các tiêu chuẩn cao cả trong công việc và cách hành xử. Đồng thời trở nên chuyên nghiệp giúp mỗi giáo viên tạo được ấn tượng, truyền cảm hứng cho người khác, tăng sự hài lòng về nghề nghiệp và bản thân. 64

Từ quan điểm trên đây để đánh giá thực trạng tính chuyên nghiệp của đội ngũ giáo viên phổ thông, có thể thấy, trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng từ phía các nhà quản lý giáo dục đến từng giáo viên trong việc cải thiện năng lực, hiệu quả, tác phong làm việc, tuy nhiên nhìn chung đội ngũ giáo viên phổ thông vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, trên nhiều phương diện chưa đạt đến trình độ chuyên nghiệp. Điểm hạn chế để trở thành một người chuyên nghiệp trong đội ngũ giáo viên phổ thông hiện nay đó chính là thiếu và yếu về kỹ năng để hoàn thành công việc một cách đúng quy chuẩn, gọn gàng, nhanh nhẹn, đúng hạn. Trên thực tế, đa phần đội ngũ giáo viên vẫn có thể làm được việc, nhưng sản phẩm đầu ra của họ chưa thực sự đáp ứng yêu cầu một cách tốt nhất, chưa đáp ứng được mong mỏi và kỳ vọng của người học và xã hội. Chẳng hạn bài giảng chưa đạt quy chuẩn về hình thức và nội dung, chưa cập nhật được những thông tin mới nhất trong lĩnh vực, vấn đề mà mình đảm nhận. Hệ thống các kỹ năng cụ thể như kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết xung đột… chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển của giáo dục, của người học. Người có tính chuyên nghiệp cũng không bao giờ đổ lỗi theo kiểu “tại, bởi, vì”, mà trước những khó khăn thì luôn luôn tìm giải pháp hữu hiệu hơn để giải quyết vấn đề và hoàn tất công việc. Nhìn ở góc độ này, có thể thấy, một bộ phận không nhỏ giáo viên phổ thông cũng chưa đạt được yêu cầu. Họ thường lảng tránh công việc khó, đổ lỗi cho học sinh, phụ huynh, xã hội, nhà quản lý khi có những tình huống khó khăn xẩy ra, trong khi một số khác lại cam chịu với những bất cập hiện có. Người có tính chuyên nghiệp trong công việc là luôn giữ bình tĩnh và tư cách nghề nghiệp trước những áp lực của nghề. Chẳng hạn, giáo viên có tính chuyên nghiệp sẽ chịu đựng được những phàn nàn hoặc những hành vi thái quá của học sinh và phụ huynh, vẫn bình tĩnh để giải quyết và giữ được phong cách của người thầy, không đôi co, cãi cụ, hơn thua với họ. Có nghĩa là một giáo viên có tính chuyên nghiệp cao có khả năng tự kiềm chế, kiểm soát được cảm xúc, không để sa đà vào những tiểu tiết hoặc hay những ngụy biện từ người khác. Với đòi hỏi này của tính chuyên nghiệp trong nghề giáo, thực tiễn trong nhiều năm qua cho thấy, còn có khá nhiều giáo viên chưa thực sự làm tốt các yêu cầu này. Qua một số vụ việc trong những năm gần đây cho thấy, giáo viên phổ thông thường hay sợ hãi quá mức khi xảy ra các xung đột với phụ huynh; nóng nảy, đôi co, ăn thua 65

với người học, với đồng nghiệp hoặc các lực lượng xã hội khác, từ đó dẫn đến những hệ quả đáng tiếc, làm trầm trọng vấn đề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, uy tín cá nhân và tập thể. Sự hạn chế của tính chuyên nghiệp trong đội ngũ giáo viên cũng thể hiện ra trong văn hóa ứng xử, đặc biệt là trong sự tôn trọng đồng nghiệp, học sinh và những người xung quanh. Mặc dù đã có nhiều cải thiện, nhưng cũng nhiều ngành nghề khác, trong các hội đồng sư phạm ở các trường phổ thông vẫn còn tồn tại những hiện tượng như: nói xấu đồng nghiệp, xúc phạm đồng nghiệp, sỉ vả học trò. Tất cả những hạn chế đó đều là của hiện của sự thiếu chuyên nghiệp trong tác phong, ứng xử của người giáo viên và đội ngũ quản lý giáo dục. Người chuyên nghiệp có độ “thông minh xúc cảm” cao, và không để cho những tác nhân bên ngoài kích động làm ảnh hưởng đến tư cách của họ. Ngoài ra, những hạn chế trong việc thiếu tính chuyên nghiệp của đội ngũ giáo viên phổ thông còn được thể hiện trong nhiều vấn đề cụ thể khác, chẳng hạn như: trang phục nơi công sở; gửi và phúc đáp email; văn hóa xin lỗi, nhận lỗi; thường trễ hạn, trễ họp, sai hẹn giờ; nhận xét đánh giá học sinh, đồng nghiệp nặng cảm tính,… - Nguyên nhân của các tồn tại và hạn chế: Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, khó khăn khi triển khai vào thực tiễn. Mặc dù, trong những năm qua, cùng với sự phát triển của xã hội, ngành Giáo dục đã có nhiều văn bản mới quy định về chuẩn chức danh nghề nghiệp nhà giáo, tiêu chuẩn về đạo đức, tác phong, phong cách nhà giáo… Tuy nhiên, trong hệ thống các văn bản này vẫn còn tồn tại một số hạn chế làm ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo. Chẳng hạn như: Thông tư 03/2021/TT-BGDĐT ngày 2 tháng 2 năm 2021 của Bộ GDĐT Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các trường THCS công lập, quy định 3 hạng giáo viên xếp thứ tự từ thấp đến cao là: III, II, I. Về “Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp”, đối với giáo viên hạng III (thấp nhất), Thông tư 03 nêu ra nhiều quy định như chấp hành nghiêm túc các quy định, trau dồi đạo đức, thương yêu học sinh, chuẩn mực trong ứng xử... 66

Trong quy định về “Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp” của giáo viên hạng II, Thông tư 03 nêu: “Ngoài các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên THCS hạng III, giáo viên THCS hạng II phải “luôn luôn gương mẫu thực hiện các quy định về đạo đức nhà giáo”. - Đối với giáo viên hạng I, Thông tư 03 nêu thêm tiêu chí: “Phải là tấm gương mẫu mực về đạo đức nhà giáo và vận động, hỗ trợ đồng nghiệp thực hiện tốt các quy định về đạo đức nhà giáo”. Như vậy, Thông tư 03 đã quy định sự cao thấp, “đẳng cấp” trong tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của giáo viên, theo hướng giáo viên ở thứ hạng cao sẽ có yêu cầu cao hơn về đạo đức nghề nghiệp. Tương tự, trong các Thông tư 01-02-03-04 năm 2021, Bộ GDĐT đặt ra “Tiêu chuẩn về đạo đức nhà giáo” với quy định nhà giáo mầm non và phổ thông hạng I có tiêu chuẩn đạo đức cao hơn nhà giáo hạng II, nhà giáo hạng II có đạo đức cao hơn nhà giáo hạng III. Với những văn bản như trên, một mặt vừa gây ra sự bất bình trong giáo viên vì những quy định này đã vô tình phân hạng đạo đức của giáo viên. Đây là một điều không nên và thực tế là không thể; mặt khác, Thông tư trên đây cũng thể hiện sự mâu thuẫn với Quyết định 16/2008/QĐ-BGDĐT “Quy định về đạo đức nhà giáo” do chính Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2018. Thông tư 03/2021/TT-BGDĐT cũng mâu thuẫn với Luật viên chức, cụ thể là trong Khoản 2, Điều 3 của Luật viên chức quy định “Đạo đức nghề nghiệp là các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định”, tức là chỉ có một bộ quy tắc, chuẩn mực chung về đạo đức nghề nghiệp, ai trong nghề đó cũng phải tuân thủ, không quy định rõ các tiêu chí cao thấp theo thứ hạng viên chức. Ngoài Thông tư trên đây, hiện nay, việc quy định về đánh giá giáo viên, trong đó có việc đánh giá về phong cách giáo viên phổ thông vẫn còn những hạn chế và bất cập, chưa phản ánh đúng với tình hình thực tế ở các bậc của giáo dục phổ thông, cụ thể như: Thông tư số: 20/2018/TT-BGDĐT ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Với những văn bản quy phạm pháp luật như trên, việc triển khai và xây dựng phong cách nhà giáo chắc chắn sẽ gặp khó khăn khi triển khai vào thực tiễn. Đó 67

cũng là lý do vì sao, việc triển khai xây dựng phong cách nhà giáo ở phổ thông vẫn còn rơi vào hình thức ở nhiều nơi, chưa tạo được những bước đột phá mạnh mẽ. Thứ hai, sự ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường vào môi trường giáo dục Nền kinh tế thị trường bên cạnh những tác động tích cực, cũng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có giáo dục. Mặt trái của kinh tế thị trường tác động đến nhiều đối tượng của hệ thống giáo dục như học sinh, phụ huynh, nhà giáo, đội ngũ quản lý giáo dục, môi trường văn hóa giáo dục… từ đó đã tác động đến lối sống, phong cách, đạo đức nhà giáo. Có thể thấy, dưới sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một số nhà giáo đã xa rời những nguyên tắc căn bản của nghề giáo, không tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nhà giáo, không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của người giáo viên phổ thông, thiếu lòng yêu nghề, thiếu kỹ năng nghiệp vụ làm ảnh hưởng đến hình ảnh nhà giáo, môi trường giáo dục. Nguyên nhân của những vụ việc như vi phạm đạo đức nhà giáo; hành xử thiếu văn hóa với học sinh, phụ huynh; sống buông thả; non yếu trong kỹ năng nghề nghiệp… đều xuất phát từ sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và tác phong, phong cách nhà giáo, chạy theo lối sống thực dụng và các thói hư tật xấu của nền kinh tế thị trường. Thứ ba, sự ảnh hưởng tiêu cực của internet và các mạng xã hội đối với môi trường giáo dục Ngày nay, sức ảnh hưởng của internet và các mạng xã hội đối với đời sống là hết sức to lớn và sâu sắc. Trong xu thế tất yếu đó, nghề giáo cũng chịu sự chi phối và ảnh hưởng rất mạnh mẽ từ sự phát triển của môi trường internet và mạng xã hội. Internet và mạng xã hội đã tác động tiêu cực đối với nghề giáo từ nhiều phương diện, trong đó có cả phương diện liên quan đến việc rèn luyện đạo đức, lối sống, phong cách của nhà giáo. Nhiều giáo viên đã sa đà vào các trào lưu của mạng xã hội mà đánh mất đi đặc trưng của nghề giáo, như: giao tiếp theo ngôn ngữ mạng, không đúng chuẩn mực mô phạm của nhà giáo; khoe khoang kệch cỡm về bản thân hoặc gia đình; chia sẻ, bình luận về những trang tin không chính thống hoặc chưa được kiểm chứng; dùng mạng xã hội để nói xấu, công kích cá nhân, thể hiện sự bất bình về tổ chức… mà đáng lẽ những điều đó phải được thể 68

hiện trong các cuộc họp, hội nghị của cơ quan… Ngoài ra, một số giáo viên thiếu kinh nghiệm còn chạy theo các trào lưu phản cảm trên mạng xã hội nhằm để câu like, thể hiện bản thân… làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, không phù hợp với đòi hỏi, yêu cầu của chuẩn mực nhà giáo, ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín cá nhân, tác động xấu đến học sinh và người học… Có thể nói, cùng với sự tác động ngày càng mạnh mẽ của mạng xã hội và môi trường internet, các tác động xấu đối với môi trường văn hóa giáo dục nói chung, việc xây dựng phong cách nhà giáo nói riêng đang ngày càng thể hiện rõ nét và với nhiều biểu hiện khác nhau. 2.2.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Phân tích những bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc xây dựng phong cách giáo viên ở phổ thông. Câu 2. Thông qua một số ví dụ cụ thể, hãy trình bày những kết quả cụ thể và những tồn tại hạn chế của việc xây dựng phong cách nhà giáo tại đơn vị công tác của thầy cô. Câu 3. Theo thầy (cô), cần phải có những giải pháp nào để việc xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo đạt được kết quả tốt hơn? 69

NỘI DUNG 3 YÊU CẦU VỀ PHONG CÁCH GIÁO VIÊN CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 3.1. Mục tiêu Học xong phần này, học viên cần đạt các mục tiêu sau: - Phân tích được bối cảnh của sự ra đời các văn bản quy phạm pháp luật quy định về phong cách nhà giáo trong cơ sở giáo dục phổ thông - Liệt kê được tên và nội dung các văn bản quy phạm pháp luật quy định về phong cách nhà giáo trong cơ sở giáo dục phổ thông - Phân tích được các yêu cầu về đạo đức, phong cách nhà giáo trong cơ sở giáo dục phổ thông - Phân tích được những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện các yêu cầu về phong cách nhà giáo trong bối cảnh hiện nay 3.2. BỐI CẢNH RA ĐỜI CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHONG CÁCH NHÀ GIÁO CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 3.2.1. Nhiệm vụ Đọc mẫu thông tin cơ bản và trả lời các câu hỏi sau đây: - Trình bày ảnh hưởng của bối cảnh trong nước đối với sự ra đời của các quy định về phong cách nhà giáo ở phổ thông - Bối cảnh quốc tế có tác động như thế nào đối với nội dung của các quy định về phong cách nhà giáo ở phổ thông 3.2.2. Thông tin cơ bản 3.2.2.1. Bối cảnh trong nước Trong gần một thập kỷ trở lại đây, chủ đề về giáo dục luôn là tâm điểm của nhiều chương trình, nghị sự quan trọng của Chính phủ, đồng thời là mối quan tâm lớn của toàn xã hội. Cùng với sự phát triển, tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những nhu cầu đổi mới giáo dục càng ngày càng mạnh mẽ và cấp bách. Trong một bối cảnh như vậy, giáo dục đứng trước nhiều áp lực cần phải 70

thay đổi, trong đó đặc biệt quan tâm đó chính là năng lực, phẩm chất, đạo đức, phong cách của đội ngũ nhà giáo. Đòi hỏi xã hội là vậy, tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà trong những năm qua, tình hình về việc thực hiện đạo đức, phong cách của nhà giáo bên cạnh những thành tựu cũng có nhiều vụ việc tiêu cực xảy ra. Trong số các vụ việc này, có những vụ việc vi phạm nghiêm trọng đến chuẩn mực, đạo đức, tác phong, phong cách nhà giáo, ảnh hưởng trầm trọng đến nghề giáo, tác động tiêu cực đến hình ảnh nhà giáo. Đáng lo ngại là số lượng vụ việc có xu hướng tăng, tính chất vụ việc có sự nghiêm trọng, phương diện liên quan ngày càng nhiều và phức tạp. Tình hình trên đây đã buộc các nhà quản lý giáo dục các cấp, đặc biệt nhất là ở cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phải nghiên cứu, xem xét và kịp thời ban hành những quy định về đạo đức, tác phong, chuẩn mực, phong cách của nhà giáo, trong đó có giáo viên ở bậc phổ thông. Trước sự phát triển và tiến bộ của nhiều mặt trong đời sống xã hội, sự ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông, sự toàn cầu hóa của nền kinh tế quốc tế, nền giáo dục Việt Nam còn đứng trước đòi hỏi và yêu cầu phải thay đổi Chương trình giáo dục phổ thông. Năm 2018, sau một quá trình nghiên cứu, xây dựng, Chương trình Giáo dục phổ thông mới được ban hành với nhiều thay đổi lớn so với Chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành. Cùng với sự thay đổi này, là những yêu cầu, đòi hỏi cao hơn đối với nhà giáo trên nhiều phương diện, trong đó có cả phương diện phong cách nhà giáo. Để thích ứng với Chương trình giáo dục phổ thông mới, người giáo viên ở phổ thông cũng cần phải thay đổi phong cách nhà giáo theo hướng hiện đại, năng động, sáng tạo, hội nhập. Những yêu cầu mới như kỹ năng mềm, thái độ ứng xử, trang phục,… đều cần có những quy định chi tiết, cụ thể hơn nhằm làm căn cứ pháp lý cho quá trình bồi dưỡng, xây dựng, rèn luyện của giáo viên, nhằm đáp ứng tốt hơn sự đòi hỏi của Chương trình giáo dục phổ thông mới cũng như mong mỏi của toàn xã hội. Giáo dục luôn luôn là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng và liên hệ mật thiết với các mặt còn lại của đời sống xã hội. Giáo dục quyết định đến nguồn lực quan trọng nhất của xã hội – nguồn nhân lực. Ngược lại, sự phát triển và tiến bộ của các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… lại đòi hỏi và yêu cầu giáo dục phải phát triển ngang tầm để phục vụ cho sự phát triển của chính các mặt này. Trên phương diện này, trong những năm qua, Việt Nam mọi mặt của 71

đời sống xã hội đều có những bước phát triển mạnh mẽ. Kinh tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bầu không khí chính trị ngày càng cởi mở, dân chủ; văn hóa cũng phát triển hết sức đa dạng, phong phú vừa tiến tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc; thang giá trị và chuẩn mực xã hội cũng có nhiều thay đổi. Trước những thay đổi đó, nền giáo dục nói chung, nhà giáo nói riêng cũng đứng trước yêu cầu phải thay đổi cho phù hợp với bối cảnh mới. Bên cạnh hình ảnh về những người thầy cần mẫn, tận tụy, yêu nghề, chuẩn mực, bối cảnh mới cùng đòi hỏi người giáo viên phải hết sức năng động, sáng tạo, dân chủ, dám nghĩ, dám làm, có tầm ảnh hưởng và cảm hóa đối với người học và các lực lượng xã hội khác. Chính trong bối cảnh mới này, việc ban hành các quy định về phong cách nhà giáo là một yêu cầu cấp thiết. 3.2.2.1. Bối cảnh quốc tế Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa quốc tế thì giáo dục Việt Nam cũng luôn chịu sự tác động và ảnh hưởng của các xu hướng đổi mới giáo dục của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền giáo dục tiên tiến. Có thể nói, với quá trình hội nhập như hiện nay, hình ảnh và quan điểm về người thầy trong nền giáo dục phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng hình mẫu người thầy ở Việt Nam. Trước hết, quan điểm cởi mở, dân chủ, bình đẳng trong giáo dục phương Tây và các nước tiên tiến đã thâm nhập vào môi trường giáo dục Việt Nam, lan tỏa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện đại, điều này đã tác động ngày càng sâu sắc tới hình mẫu người giáo viên phổ thông, đòi hỏi các cấp quản lý giáo dục phải thay đổi các quy định đã lạc hậu hoặc bổ sung quy định cho những lĩnh vực còn thiếu vắng các quy định cụ thể; Thứ hai, với quan điểm dạy học theo hướng tiếp cận phẩm chất và năng lực, xem người học là trung tâm của giáo dục quốc tế đã tác động đến tiến trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam, đòi hỏi người thầy Việt Nam phải thay đổi trên nhiều phương diện, trong đó có phương diện phong cách nhà giáo. Thực chất của quá trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực, phẩm chất là người thầy phải thay đổi quan niệm về vai trò của mình trong quá trình dạy học và giáo dục. Người thầy phải chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hướng dẫn, tổ chức, dẫn dắt người học tự mình chiếm lĩnh tri thức. Vì thế, phương pháp dạy học phải thay đổi, bên cạnh những phương pháp truyền thống, người thầy phải sử dụng nhiều phương 72

pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động cho người học nhiều hơn. Với những đặc điểm này, người thầy nhất thiết phải thay đổi phong cách của mình, từ chỗ chỉ có đạo mạo, chuẩn mực, nghiêm nghị sang một phong cách mới như hòa đồng, năng động, linh hoạt, sáng tạo, đổi mới liên tục. Thứ ba, xu hướng số hóa cũng là một đặc điểm quan trọng của giáo dục quốc tế trong những năm gầy đây. Với xu thế này, nhà giáo phải được đào tạo và đào tạo lại theo hướng có khả năng, kỹ năng liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, sử dụng được nhiều thiết bị dạy học hiện đại, thường xuyên cập nhật được những tri thức mới. Đồng thời, xu thế này cũng buộc các nhà giáo phải thay đổi cách dạy học, thay đổi phương pháp giáo dục học sinh, thay đổi cách thức giao tiếp với các lực lượng xã hội khác… Từ đó, gián tiếp quy định đến phong cách nhà giáo. Những hình ảnh về một người thầy theo quan niệm truyền thống đã không còn đủ sức đáp ứng yêu cầu của xã hội và đặc điểm của nghề giáo trong bối cảnh mới. Vì thế, việc xây dựng một bộ tiêu chí mới về phong cách nhà giáo là điều tất yếu. 3.2.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Chương trình giáo dục phổ thông ban hành năm 2018 có tác động như thế nào đối với việc xây dựng phong cách người giáo viên phổ thông. Câu 2. Các xu thế trong giáo dục quốc tế có tác động như thế nào đối với nội dung của các quy định về phong cách nhà giáo hiện nay do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành? 3.3. YÊU CẦU VỀ PHONG CÁCH NHÀ GIÁO TRONG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BAN HÀNH 3.2.1. Nhiệm vụ Đọc mẫu thông tin cơ bản và trả lời các câu hỏi sau đây: - Liệt kê hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến yêu cầu về phong cách nhà giáo. - Phân tích các quy định về phong cách nhà giáo trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến yêu cầu về phong cách nhà giáo. 3.2.2. Thông tin cơ bản 73

3.2.2.1. Hệ thống các văn bản pháp luật quy định về phong cách nhà giáo - Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009; - Quy định về đạo đức nhà giáo (ban hành kèm theo quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) - Chỉ thị 1737/CT-BGDĐT ngày 7 tháng 5 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao đạo đức nhà giáo. - Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 08 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - Quy định quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Thông tư số 06/2019/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 04 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 3.2.2.1. Nội dung chủ yếu của các quy định về phong cách nhà giáo Căn cứ vào Quy định về đạo đức nhà giáo (Ban hành kèm theo quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), phong cách nhà giáo được thể hiện thông qua nhiều phương diện dưới đây. - Về phẩm chất chính trị + Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. + Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức; có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung. + Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội. - Về đạo đức nghề nghiệp 74

+ Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng. + Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của ngành. + Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí. + Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục. - Về lối sống, tác phong + Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. + Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ. + Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có thái độ văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo. + Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học. + Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ; đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp. Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần gũi với nhân dân, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và người học; kiên quyết đấu tranh với các hành vi trái pháp luật. 75

+ Xây dựng gia đình văn hoá, thương yêu, quý trọng lẫn nhau; biết quan tâm đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng. - Về giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo + Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân. + Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục. + Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp. + Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học, đồng nghiệp, người khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác. + Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định. + Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học và nơi không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường. + Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi. + Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt tại cộng đồng. + Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. + Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường. + Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội như: cờ bạc, mại dâm, ma tuý, mê tín, dị đoan; không sử dụng, lưu giữ, truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại. Căn cứ vào Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 08 năm 2018 76

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, phong cách nhà giáo được quy định một cách cụ thể, chi tiết theo từng mức trong Tiêu chí 2, Tiêu chuẩn 1 thuộc Điều 4, Chương 2, cụ thể: Tiêu chí 2. Phong cách nhà giáo a) Mức đạt: Có tác phong và cách thức làm việc phù hợp với công việc của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông; b) Mức khá: Có ý thức tự rèn luyện tạo phong cách nhà giáo mẫu mực; ảnh hưởng tốt đến học sinh; c) Mức tốt: Là tấm gương mẫu mực về phong cách nhà giáo; ảnh hưởng tốt và hỗ trợ đồng nghiệp hình thành phong cách nhà giáo. Ngoài ra, nếu quan niệm một cách đầy đủ, khoa học và tổng quát hơn có thể thấy, nội hàm của khái niệm phong cách nhà giáo còn được thể hiện ra trong các điều thuộc Chương 2, cụ thể: Điều 5. Tiêu chuẩn 2. Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; Điều 6. Tiêu chuẩn 3. Xây dựng môi trường giáo dục; Điều 7. Tiêu chuẩn 4. Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Căn cứ vào Quy định quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Thông tư số 06/2019/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 04 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, phong cách nhà giáo được quy định một cách chi tiết trong Điều 6, Chương 2. Nội dung quy tắc ứng xử, cụ thể: 1. Ứng xử với người học: Ngôn ngữ chuẩn mực, dễ hiểu, khen hoặc phê bình phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh; mẫu mực, bao dung, trách nhiệm, yêu thương; tôn trọng sự khác biệt, đối xử công bằng, tư vấn, lắng nghe và động viên, khích lệ người học; tích cực phòng, chống bạo lực học đường, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện. Không xúc phạm, gây tổn thương, vụ lợi; không trù dập, định kiến, bạo hành, xâm hại; không thờ ơ, né tránh hoặc che giấu các hành vi vi phạm của người học. 2. Ứng xử với cán bộ quản lý: Ngôn ngữ tôn trọng, trung thực, cầu thị, tham mưu tích cực và thể hiện rõ chính kiến; phục tùng sự chỉ đạo, điều hành và phân công của lãnh đạo theo quy định. Không xúc phạm, gây mất đoàn kết; không thờ ơ, né tránh hoặc che giấu các hành vi sai phạm của cán bộ quản lý. 77

3. Ứng xử với đồng nghiệp và nhân viên: Ngôn ngữ đúng mực, trung thực, thân thiện, cầu thị, chia sẻ, hỗ trợ; tôn trọng sự khác biệt; bảo vệ uy tín, danh dự và nhân phẩm của đồng nghiệp, nhân viên. Không xúc phạm, vô cảm, gây mất đoàn kết. 4. Ứng xử với cha mẹ người học: Ngôn ngữ đúng mực, trung thực, tôn trọng, thân thiện, hợp tác, chia sẻ. Không xúc phạm, áp đặt, vụ lợi. 5. Ứng xử với khách đến cơ sở giáo dục: Ngôn ngữ đúng mực, tôn trọng. Không xúc phạm, gây khó khăn, phiền hà. Những quy định trên đây của Thông tư số 06/2019/TT-BGDĐT chỉ tính chất khung. Để triển khai Thông tư này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho các Sở Giáo dục và Đào tạo ở các tỉnh hướng dẫn chỉ đạo cho tất các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên sẽ ban hành bộ quy tắc ứng xử với sự tham gia của cán bộ, nhà giáo, người quản lý và cả cha mẹ học sinh. Việc tham gia xây dựng đảm bảo bộ quy tắc được thực hiện một cách dân chủ trong nhà trường và góp phần xây dựng văn hóa trong nhà trường an toàn, lành mạnh và đúng quy chế. Có thể thấy, trong bối cảnh hiện nay, việc ban hành Thông tư 06 sẽ là một thiết chế quan trọng để các nhà trường tăng cường nền nếp, kỷ cương, kỷ luật, xây dựng văn hóa trường học; trong đó xác định vai trò, trách nhiệm, quy định ứng xử cụ thể cho tất cả các chủ thể, nhất là vai trò nêu gương của cán bộ quản lý trường học, giáo viên. 3.2.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Phân tích những ưu điểm và hạn chế của các quy định về phong cách nhà giáo trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Câu 2. Hãy trình bày những thuận lợi và khó khăn của thầy (cô) trong quá trình thực hiện các quy định về phong cách nhà giáo. 78

NỘI DUNG 4 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG VÀ RÈN LUYỆN PHONG CÁCH GIÁO VIÊN CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 4.1. Mục tiêu Học xong phần này, học viên cần đạt các mục tiêu sau: - Hiểu được một số định hướng, nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng phong cách nhà giáo trong các cơ sở giáo dục phổ thông - Biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những giải pháp về vào quá trình xây dựng phong cách nhà giáo của đơn vị công tác và bản thân - Thực hành được những kỹ năng cơ bản nhằm hỗ trợ đắc lực cho công tác xây dựng phong cách nhà giáo của bản thân. 4.2. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG VÀ RÈN LUYỆN PHONG CÁCH NHÀ GIÁO 4.2.1. Nhiệm vụ Đọc mẫu thông tin cơ bản và trả lời các câu hỏi sau đây: - Trả lời câu hỏi sau: Vai trò của các nguyên tắc cơ bản dưới đây đối với quá trình xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo của mỗi giáo viên. - Thảo luận nhóm: Mỗi nhóm chọn một trong các chủ đề sau và tiến hành thảo luận, báo cáo kết quả. Vấn đề 1. Vì sao xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo phải kết hợp với rèn luyện kỹ năng sống, đặc biệt là kỹ năng mềm? Vấn đề 2: Liệt kê một số ví dụ trong thực tiễn và phân tích mối quan hệ giữa xây dựng phong cách nhà giáo với rèn luyện đạo đức nhà giáo. 4.2.2. Thông tin cơ bản - Một là, xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ của mỗi giáo viên 79

Phong cách nhà giáo là lề lối làm việc, dạy học và giáo dục học sinh, là cung cách ứng xử, giao tiếp mô phạm của người giáo viên trong quan hệ với học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp tạo nên dấu ấn đặc trưng riêng biệt của mỗi giáo viên, có sức ảnh hưởng, lan tỏa tới các thế hệ học sinh, phụ huynh và các cộng đồng xã hội. Vì vậy, để hình thành cho mình một phong cách chuẩn mực, có sức ảnh hưởng đòi hỏi mỗi giáo viên phổ thông phải ý thức sâu sắc và rèn luyện qua những hành vi và quan hệ hằng ngày, ở mọi lúc, mọi nơi. Đặc biệt là phải bắt đầu từ những việc làm nhỏ nhất, được lặp lại nhiều lần thành thói quen, lối sống, văn hóa. Đó là một hành trình lâu dài, bền bĩ, mọi lúc mọi nơi, đặc biệt là phải nhấn mạnh việc hình thành thói quen hành vi cho bản thân. Làm người giáo viên không được cho phép bản thân tự mãn về đạo đức, tư cách, tác phong, phải nhận thức sâu sắc rằng, quá trình rèn luyện để hình thành cho mình một phong cách đặc trưng là một quá trình khó khăn phải được thực hành thường xuyên, như cơm ăn, nước uống, như đánh răng, rửa mặt, vệ sinh cá nhân mỗi ngày. Dù trong mọi tình cảnh, dù trong mọi điều kiện, trong mọi môi trường, trong mọi quan hệ phải luôn nhắc nhở mình về việc thực hiện các chuẩn mực, hành vi, lề lối làm việc, phong cách, tác phong nghề giáo. - Hai là, xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo phải trên cơ sở thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức nhà giáo. Phong cách nhà giáo không phải là hình thức bề ngoài của mỗi người giáo viên mà thực chất là sự thể hiện ra bên ngoài của một hệ thống các phẩm chất đạo đức nhà giáo. Ở đây, các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức mà mỗi nhà giáo có được chính nội dung, còn phong cách nhà giáo chính là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của các phẩm chất đó trong mối quan hệ với công việc, với học sinh, với phụ huynh, với đồng nghiệp, với các lực lượng xã hội khác qua lời ăn, tiếng nói, ứng xử, kỹ năng… Vì vậy, nếu một nhà giáo không đủ tư cách đạo đức, vi phạm các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thì những yếu tố trong cử chỉ, hành vi, ứng xử chắc chắn sẽ mang tính hình thức bề ngoài, giả tạo và không có sức lay động, không thể tạo ảnh hưởng tích cực đến người học, đồng nghiệp và các lực lượng xã hội khác. - Ba là, xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo phải kết hợp với rèn luyện kỹ năng sống 80

Kỹ năng sống đặc biệt là hệ thống kỹ năng mềm là hết sức quan trọng đối với nghề giáo. Trong cơ cấu nhân cách và phong cách nghề nghiệp, đạo đức, phong cách, kỹ năng có một mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau. Kỹ năng chính là mặt kỹ thuật của hành vi, tác phong, phong cách sống, phong cách nghề nghiệp. Vì thế để thực hiện tốt những hoạt động nghề dạy học, xử lý tốt các tình huống sư phạm đòi hỏi mỗi giáo viên phải đồng thời hiểu rõ giá trị, ý nghĩa của hành vi, cấu trúc, trình tự, thao tác của các hành vi, của các hoạt động, tức là hiểu rõ về kỹ năng. Chẳng hạn, hiện nay có nhiều học sinh dù trong tâm khảm của họ vẫn biết yêu thương, biết ơn bố mẹ, nhưng họ lại không biết cách thể hiện tình cảm đó ra bên ngoài, không biết phương thức bộc lộ tình cảm đó đối với người thân yêu của mình. Đó chính là họ đang vấp phải một rào cản kỹ thuật của hành vi, đó chính là kỹ năng sống. Đối với giáo viên cũng vậy, từ những phân tích khoa học có thể thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ việc vi phạm đạo đức, tác phong, chuẩn mực nhà giáo trong thời gian gần đây chính là bản thân các giáo viên chưa có kỹ năng mềm, kỹ năng về giải quyết các tình huống sư phạm. Chính vì vậy, trong quá trình tự bồi dưỡng, rèn luyện về đạo đức nghề giáo, mỗi người giáo viên phải đồng thời biết rèn luyện về kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng về nghiệp vụ sư phạm, đặc biệt là một số kỹ năng cơ bản như: kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng giải quyết xung đột… 4.2.3. Đánh giá hoạt động Câu hỏi 1. Vì sao việc xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo phải cần sự kiên trì, bền bỉ. Ý nghĩa của vấn đề này đối với việc xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo của bản thân? Câu hỏi 2. Vì sao việc xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo phải kết hợp với rèn luyện kỹ năng sống. Ý nghĩa của vấn đề này đối với việc rèn luyện phong cách nhà giáo của bản thân? 4.3. MỘT SỐ KỸ NĂNG CƠ BẢN HỖ TRỢ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ RÈN LUYỆN PHONG CÁCH NHÀ GIÁO 4.3.1. Nhiệm vụ Đọc mẫu thông tin cơ bản và thực hiện các nhiệm vụ sau 1. Trả lời các câu hỏi sau 81

- Theo thầy (cô), người giáo viên phổ thông cần phải rèn luyện những kỹ năng mềm nào? Vì sao? - Thầy (cô) gặp những thuận lợi và khó khăn nào trong quá trình rèn luyện các kỹ năng mềm? 2. Thảo luận nhóm: Mỗi nhóm chọn 1 trong các tình huống sau đây để tiến hành giải quyết xung đột một cách tích cực và báo cáo kết quả trước lớp. Tình huống 1: Giờ ra chơi có một vài HS lớp khác đến trêu HS lớp thầy (cô) chủ nhiệm. Họ dùng những lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa để châm chọc. Không chịu được học sinh lớp cô phản ứng lại. Nhóm HS lớp khác đe dọa sẽ dạy cho HS lớp thầy (cô) một bài học sau giờ học. Biết được thông tin đó, thầy (cô) sẽ giải quyết mâu thuẫn này như thế nào? Tình huống 2: Trong lớp của thầy (cô) có một số học sinh cá biệt, thường xuyên gây rối trong giờ học, làm ảnh hưởng đến quá trình dạy học của cả lớp. Với tư là giáo viên bộ môn, thầy (cô) đã trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp. Tuy nhiên, thầy (cô) đã không được sự phối hợp, lắng nghe mà ngược lại bị giáo viên chủ nhiệm lớp bác bỏ và bênh vực cho lớp. Trong trường hợp này, để giải quyết được mâu thuẫn và xung đột, thầy (cô) cần làm gì? 4.3.2. Thông tin cơ bản 4.3.2.1. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc cá nhân - Tầm quan trọng của quản lý cảm xúc đối với giáo viên Cảm xúc con người luôn là vấn đề khó giải thích nhất, vui buồn tức giận có thể thay đổi một cách nhanh chóng trong mọi tình huống. Để quản lý bản thân trong mọi hành động, lời nói, suy nghĩ sao cho đúng đắn không phải điều dễ dàng khi xung quanh chúng ta có rất nhiều yếu tố không tác động ảnh hưởng đến. Quản lý cảm xúc là kỹ năng cần phải trau dồi đối với mọi người, đặc biệt không thể thiếu đối với những người làm công việc liên quan đến công chúng, trong đó có giáo viên. Quản lý cảm xúc đối với giáo viên khi giảng dạy đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng giáo viên, là một trong những kỹ năng liên quan đến việc thực hành đạo đức nghề nghiệp của nhà giáo, thể hiện mức độ tinh thông nghề nghiệp của người thầy giáo trong xã hội hiện đại. 82

Quản lý cảm xúc được hiểu là khả năng quản lý cảm xúc của bản thân và những người xung quanh, quản lý cảm xúc của bản thân là biết bản thân suy nghĩ gì, nên làm gì, không bị tác động bởi những vấn đề hay yếu tố không tốt ảnh hưởng đến cảm xúc của mình, quản lý cảm xúc đồng nghĩa với việc bản thân làm chủ trong cảm xúc của chính mình. Đối với nghề giáo, quản lý cảm xúc không chỉ xảy ra trong các hoạt động tâm lý của cá nhân người giáo viên mà còn liên quan qua sự tương tác với cá nhân khác. Môi trường trường học và lớp học là nơi mà giáo viên có những cảm xúc phức tạp thể hiện qua sự trải nghiệm với từng đối tượng học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp và Ban Giám hiệu. + Quản lý cảm xúc tốt giúp giáo viên giải quyết công việc thuận lợi Cảm xúc của mỗi người được thể hiện qua sự yêu ghét, vui buồn, hờn giận. Những tâm trạng với những tình huống cụ thể, yếu tố tác động đến tâm trạng của giáo viên chủ yếu là quá trình học tập của học sinh. Khi giáo viên biết quản lý cảm xúc của mình trước những các bạn học sinh khó bảo, khó nghe, trước những tình huống gây khó khăn cho giáo viên thì lúc đó giáo viên đã đặt cái tôi thấp xuống, sự nhẫn nhịn cũng như làm chủ bản thân trong hành động, suy nghĩ giúp thầy cô luôn có sự ứng xử đúng đắn trong môi trường dạy học. Quản lý cảm xúc tốt thầy cô sẽ biết cách giải quyết mọi vấn đề xảy ra một cách bình tình, giao tiếp, ứng xử với phụ huynh và học sinh đạt hiệu quả cao. + Quản lý cảm xúc tốt đem lại chất lượng cao trong giảng dạy Giáo viên được đánh giá về năng lực giỏi là giáo viên không chỉ có kiến thức chuyên môn tốt mà còn phải biết quản lý mọi suy nghĩ, lời nói của bản thân. Một buổi học đạt hiệu quả hay không, học sinh tiếp thu bài tốt không đều thể hiện qua cách truyền đạt và tổ chức dạy học của thầy cô. Thầy cô có kiến thức giỏi nhưng không biết truyền đạt kiến thức như nào để học sinh hiểu, hay quát mắng, khó chịu khi học sinh không hiểu bài sẽ gây ra sự xung đột và không hợp tác giữa học sinh với giáo viên. Giáo viên quản lý cảm xúc tốt là một điều kiện quan trọng để buổi học đạt chất lượng tốt, tạo niềm yêu thích cho các người học. + Quản lý cảm xúc tốt giúp giáo viên tạo được sự yêu mến đối học sinh, phụ huynh 83

Khi quản lý được cảm xúc của chính mình là khi đó giáo viên làm chủ trong suy nghĩ và hành động của mình, cảm xúc không chỉ biểu hiện qua thái độ mà còn thể hiện qua lời nói, cử chỉ. Khi có hành động một cách chừng mực, khéo léo thì giáo viên rất dễ dàng nhận được sự yêu thích của học sinh, phụ huynh. Phụ huynh thực sự yêu mến những giáo viên biết khéo léo trong cách giao tiếp. Vì vậy, quản lý cảm xúc trong từng bối cảnh, tình huống cụ thể có vai trò rất quan trọng để trở thành giáo viên vừa có năng lực chuyên môn giỏi vừa có đạo đức nghề nghiệp tốt. - Nguyên nhân gây ra việc quản lý cảm xúc không hiệu quả Tầm quan trọng của quản lý cảm xúc được thể hiện rõ ở các ý trên nhưng duy trì cảm xúc của chính mình không hề đơn giản, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng dẫn đến cảm xúc không tốt, đặc biệt đối giáo viên. Môi trường dạy học yêu cầu những đòi hỏi nhiều kỹ năng mềm, vì thường xuyên có xung đột, va chạm với nhiều lực lượng xã hội khác nhau, thường xuyên tác động đến tâm lý của giáo viên. Dưới đây là một số nguyên nhân dẫn tới việc quản lý cảm xúc ở giáo viên chưa tốt. + Nguyên nhân từ chính giáo viên Cảm xúc là do chính giáo viên làm chủ, chỉ có giáo viên mới biết được bản thân làm gì để phục vụ trong công việc giảng dạy của mình. Giáo viên thường khó quản lý cảm xúc của mình khi không tự tin vào kiến thức, khi đối mặt với các xung đột, thậm chí là mẫn cảm quá mức với các hành vi, lời nói của học sinh, đồng nghiệp, phụ huynh, lãnh đạo… Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên không có hiểu biết về quản lý cảm xúc và không nắm được các kỹ năng để quản lý cảm xúc. Vì vậy họ thường tỏ ra khó chịu, dễ cáu gắt với những người xung quanh. + Nguyên nhân từ phía học sinh Đối tượng chính mà giáo viên tiếp xúc hàng ngày là học sinh, đang trong quá trình biến đổi mạnh mẽ về tâm sinh lý. Nhiều giai đoạn, học sinh thường ương bướng, khó bảo, thích đối đầu với giáo viên giáo viên, thường xuyên gây gỗ, nghịch ngợm, thậm chí đánh nhau làm ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lý giáo viên. Nhiều giáo viên luôn căng thẳng, không thể làm chủ cảm xúc của mình trước các tình huống quá đà của học sinh. + Nguyên nhân từ phía phụ huynh, đồng nghiệp, lãnh đạo trường 84

Giáo viên dù hoàn hảo thế nào cũng không tránh khỏi những lúc sai sót. Trong bối cảnh hiện nay, sự đòi hỏi và yêu cầu từ phía phụ huynh, đồng nghiệp, lãnh đạo trường và các lực lượng xã hội khác nhiều khi dẫn tới quá tải đối với giáo viên. Nhiều bậc phụ huynh có những yêu sách hoặc ứng xử thiếu văn hóa, không chịu hợp tác với nhà trường và giáo viên trong giáo dục học sinh, thường đổ lỗi cho nhà trường và giáo viên. Hay sự ghen tị năng lực giữa các đồng nghiệp trong môi trường giáo dục, những quy định cứng nhắc từ phía lãnh đạo… tạo nhiều áp lực căng thẳng khiến giáo viên lo lắng, khó cân bằng được cảm xúc. - Một số phương pháp để quản lý cảm xúc đối với giáo viên Quản lý cảm xúc trong mọi tình huống, mọi vấn đề cụ thể là cần thiết, nhưng không phải dễ dàng, đặc biệt là đối với giáo viên. Những phương pháp sau đây sẽ giúp giáo viên rèn luyện và quản lý cảm xúc tốt hơn. + Thay đổi khung cảnh Khi thấy máu trong người bắt đầu nóng lên, nếu có thể hãy rời khỏi nơi đó. chẳng hạn như ra cầu thang, hay thậm chí là vào nhà vệ sinh để thoát ra khỏi khung cảnh khiến bản thân cảm thấy tức giận. Nếu có thể nên đi dạo một vòng trong sân trường. Hít thở thật sâu. Nếu có thể, bạn hãy thoát ra khỏi tình huống đó. Khi trước mặt bạn không còn sự việc hoặc con người có khả năng khơi lên cơn giận, bạn sẽ dễ dàng lấy lại bình tĩnh hơn. + Điều chỉnh trạng thái cơ thể Hãy cố gắng điều chỉnh trạng thái cơ thể. Vì cơ thể chính là nguồn gốc của cảm xúc, vì thế nếu cơ thể ở trạng thái tích cực thì chúng ta cũng sẽ có những cảm xúc tích cực, ngược lại khi cơ thể ở trạng thái tiêu cực, cảm xúc cũng sẽ tiêu cực. Khi tức giận, chúng ta thấy cơ thể có những thay đổi ngay lập tức như tim đập nhanh, máu dồn lên mặt khiến người nóng hừng hực, lúc này chúng ta sẽ có xu hướng tìm chỗ trút giận và nếu không điều chỉnh kịp thời thì có thể có những hành động thiếu suy nghĩ gây ra những sai lầm đáng tiếc. Giải pháp đưa ra lúc này là chúng ta cần phải điều chỉnh cơ thể ngay lập tức, đưa cơ thể về trạng thái bình thường bằng cách thả lỏng người, hít thở thật sâu và đều trong vòng 5 giây, tưởng tượng rằng mình đang tống căng thẳng tức giận ra ngoài. Nếu làm được điều này, đảm bảo chúng ta sẽ giảm bớt được ức chế, nóng giận trong người. + Rèn thói quen suy nghĩ tích cực 85

Khi đối mặt với những ức chế, căng thẳng, sau khi đã điều chỉnh được trạng thái cơ thể, mỗi chúng ta hãy cố gắng suy nghĩ mọi việc theo chiều hướng tích cực. Hãy nhắm mắt lại, xua đi những suy nghĩ tiêu cực đến với bản thân và nghĩ về ít nhất 3 điều tích cực, hoặc suy nghĩ về những điều khiến bạn hạnh phúc. Một số ví dụ về những suy nghĩ tích cực bao gồm: * Rồi mọi việc sẽ ổn thôi * Không có gì là hoàn hảo cả * Chuyện này sẽ nhanh qua thôi. * Mình đủ lý trí để xử lý việc này. * Trải qua khó khăn thử thách cũng là cơ hội để trưởng thành. * Mình sẽ không cảm thấy tức giận lâu đâu; đây chỉ là một cảm giác tạm thời thôi. + Chia sẻ cùng đồng nghiệp và lãnh đạo Khi gặp những vấn đề phức tạp, giáo viên nên chia sẻ với đồng nghiệp, người thân và lãnh đạo. Việc chia sẻ nhằm giúp giải tỏa phần nào căng thẳng, ức chế đồng thời nhận lại lời khuyên và giải pháp từ đồng nghiệp và lãnh đạo. Tuy nhiên, trong quá trình chia sẻ và xin ý kiến tham vấn, giáo viên không nên theo kiểu than vãn, trách móc, đổ lỗi mà cần thể hiện tinh thần cầu thị, thái độ lạc quan để không gây áp lực và tâm lý tiêu cực cho người đối diện, đồng thời không làm trầm trọng hóa vấn đề. + Thấu hiểu tâm lý học sinh Làm giáo viên nhất thiết phải hiểu biết tâm lý lứa tuổi, lấy nó làm cơ sở khoa học để thấu hiểu học sinh, lý giải khoa học về hành vi, lời nói, việc làm, suy nghĩ, phản ứng của học sinh. Khi hiểu tâm lý học sinh, giáo viên sẽ dễ dàng gần gũi với người học, đoán được nhu cầu, ước muốn, nguyện vọng của học sinh, trên cơ sở đó mà có những phản ứng và giải pháp phù hợp. Tránh tình trạng áp đặt, la mắng, quát tháo, miệt thị, đánh đập học sinh; lấy uy lực, vị thế giáo viên để áp đặt bắt buộc học sinh tuân theo. Khi giáo viên thấu hiểu tâm lý người học, hoàn cảnh người học thì dễ tạo nên bầu không khí tâm lý thoải mái, hòa hợp, trên cơ sở đó giảm thiểu được sự xung đột với người học, được học sinh yêu mến và hợp tác. Đến lượt nó lại tạo cho người giáo viên tâm lý tích cực và kiểm soát cảm xúc tốt hơn. 86

+ Không giam mình trong phòng. Cũng giống như cơ thể, suy nghĩ là nguồn gốc của cảm xúc và suy nghĩ bị chi phối bởi hình ảnh và từ ngữ, vì vậy thường những lúc nóng giận, mất bình tĩnh bạn sẽ ngồi lầm lì trong phòng, đập phá đồ đạc, bỏ ăn, bỏ uống… những việc này chỉ làm cho bạn mất bình tĩnh và không làm chủ được cảm xúc hơn thôi. Lời khuyên lúc này là bạn hãy ra ngoài một mình có thể là đi bộ công viên, đạp xe, hay lên một chiếc xe bus dạo quanh thành phố, bạn sẽ thấy cảm xúc của mình thay đổi rất nhiều, bạn sẽ thấy bình tâm trở lại, suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn, dễ dàng hơn đấy. + Thực hành Thiền mỗi ngày Đây là một phương pháp cực kì hiệu quả nếu mỗi giáo viên biết tập luyện và áp dụng thường xuyên. Cố gắng tìm không gian riêng trong một lúc, sau đó thực hiện việc thở thật chậm và sâu, hơi thở nên sâu đến khi bạn cảm thấy bụng dốc hết hơi thở “bên trong”. Duy trì hơi thở sâu sẽ giúp chúng ta giảm nhịp tim đang đập nhanh trở lại bình thường. Tưởng tượng một thứ ánh sáng vàng – trắng tràn ngập cơ thể khi hít vào, làm tâm trí của mình được thư giãn. Khi thở ra, hãy tưởng tượng hơi thở mang đi những màu sắc tối tăm trong cơ thể. Khi giáo viên biết dành thời gian và tạo cho mình thói quen thiền vào mỗi sáng, kể cả khi không tức giận sẽ giúp cải thiện cảm xúc của bản thân, làm cho chúng ta trở nên điềm đạm hơn. 4.3.2.2. Kỹ năng giải quyết xung đột - Khái niệm xung đột và đặc điểm của xung đột trong nhà trường phổ thông Xung đột là một hiện tượng xã hội phổ biến trong đời sống cá nhân cũng như tổ chức. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, xung đột không được xử lý, không phải vì người ta không nhận ra sự tồn tại của chúng mà do người ta không biết xử lý như thế nào. Chính vì vậy, nhận thức đúng đắn và xử lý xung đột theo hướng có lợi là một kỹ năng quan trọng đối với mỗi cá nhân cán bộ, công chức cũng như tổ chức. Trong nhà trường phổ thông, xung đột có thể xảy ra giữa giáo viên và học sinh khi học sinh thường xuyên gây rối, nghịch ngợm; giữa học sinh và học sinh 87

khi giữa chúng có những đùa nghịch thái quá; giữa giáo viên và phụ huynh khi phụ huynh không hài lòng với ứng xử của giáo viên hoặc ngược lại. Xung đột cũng có thể xẩy ra khi một giáo viên không đồng tình với tổ trưởng chuyên môn về cách thức đánh giá công việc trong năm công tác,.. Nhìn chung mâu thuẫn và xung đột là một hiện tượng khá thường xuyên diễn ra trong nhà trường phổ thông, trong đó phổ biến nhất vẫn là trong mối quan hệ giữa học sinh với học sinh và giữa giáo viên với học sinh. Xung đột có thể được hiểu là là tình trạng trong đó mục tiêu, cảm xúc, quan điểm hoặc hành động của một bên (cá nhân hoặc nhóm) can thiệp hoặc cản trở bên kia (cá nhân hoặc nhóm), làm cho hoạt động của họ (một hoặc cả hai bên) trở nên khó khăn, kém hiệu quả, thậm chí làm các bên khó có thể chung sống và làm việc với nhau. Xung đột liên quan đến sự khác biệt về quan điểm, sự trông đợi, giá trị hoặc cách thức hành động. Nhưng bản thân sự khác biệt giữa các cá nhân không nhất thiết là xung đột. Có thể nhận biết xung đột thông qua quan sát, cảm nhận và phân tích. Xung đột có thể hiện diện dưới một số hình thức như: ngôn từ gây hấn; nói xấu sau lưng; điệu bộ, cử chỉ tiêu cực; tránh mặt,... Trong nhà trường phổ thông, những mâu thuẫn và xung đột thường ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình dạy, học và giáo dục học sinh, làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường, ảnh hưởng đến tâm lý của cả học sinh viên và giáo viên, phụ huynh và cán bộ quản lý. Mặc dù vậy nhưng việc giải quyết xung đột không hề là việc đơn giản. Do đó, làm sao để giải quyết được các xung đột trong trường phổ thông, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy học trở thành vấn đề hết sức quan trọng. Nó cũng cho thấy, người giáo viên phổ thông rất cần phải nắm vững và thành thục trong kỹ năng giải quyết xung đột, làm sao để khi có xung đột diễn ra, người giáo viên phổ thông phải trở thành người chủ động giải quyết nó, ứng xử một cách khéo léo, nhẹ nhàng, hiệu quả. Giáo viên phải biết cách trao đổi, thảo luận, cùng tìm ra giải pháp cho vấn đề, trên cơ sở đó làm cho quá trình dạy học đạt được mục tiêu đề ra. Nhìn ở góc độ phong cách nhà giáo, kỹ năng giải quyết xung đột là một trong những kỹ năng quan trọng góp phần giúp giáo viên xây dựng nên một phong thái tự tin, bản lĩnh, trách nhiệm, nhân văn, mô phạm trong mọi hoạt động và quan hệ của mình. Chính thông qua đó mà người giáo viên trở thành tấm gương 88

cho người học, tạo được cảm tình, sức hút, khả năng truyền cảm hứng và cảm hóa được người học, tăng cường tính thuyết phục khi giao tiếp, làm việc với đồng nghiệp, phụ huynh và các lực lượng xã hội khác. - Một số kỹ năng cơ bản giải quyết xung đột trong nhà trường phổ thông * Bình tĩnh phân tích vấn đề Cơn nóng giận sẽ cản trở việc xử lý những khác biệt giữa các bên. Hãy luôn nhớ rằng, làm hòa với nhau mới là mục tiêu chứ không phải là trả đũa. Bình tĩnh phân tích xung đột để làm rõ then chốt của vấn đề là việc hết sức quan trọng và đầu tiên của việc giải quyết xung đột. Việc phân tích, xác định đúng điểm then chốt sẽ giúp người giáo viên tập trung khả năng và các biện pháp một cách chính xác và kịp thời. Ở bước này, người giáo viên cần phải tự đặt ra và tìm câu trả lời cho những câu hỏi như: Nguyên nhân của xung đột từ đâu? Bắt đầu từ khi nào? Mức độ nghiêm trọng của xung đột?.... * Xác định các bên liên quan và tập trung vào vấn đề cần giải quyết Trong thực tiễn, có những xung đột cần phải gặp nhau không chỉ một lần mới có thể giải quyết ổn thỏa. Vì thế, trước khi gặp nhau, hãy ngồi xuống và viết ra chính xác những vấn đề cần lưu ý. Cố gắng loại bỏ quá khứ và tính cách ra khỏi suy nghĩ, chỉ tập trung vào vấn đề cần giải quyết. Việc xác định những cá nhân liên quan đến xung đột cũng là điều quan trọng. Trong nhiều xung đột ở trường phổ thông, người giáo viên phải xác định đúng các bên liên quan, các cá nhân có dính líu tới xung đột mới có thể giải quyết rốt ráo vấn đề. Trong một số trường hợp, cá nhân giáo viên phải tự hỏi, bản thân ai là người khiến mình nổi giận hoặc thất vọng. Bản thân có nên tức giận hay phản ứng mạnh mẽ như vậy không? Việc biết đối tượng đang giao tiếp với mình cũng không kém phần quan trọng trong việc giải quyết xung đột hiệu quả. Trong việc xác định các bên liên quan, người đứng ra giải quyết xung đột phải khách quan về đối phương và vấn đề, tránh quy chụp, gán ghép, suy luận, võ đoán thiếu căn cứ. * Gác cái tôi cá nhân sang một bên để lắng nghe và thấu hiểu Trong giải quyết xung đột, cái tôi cá nhân của những người trong cuộc xung đột là rất lớn và không ai muốn nhường nhịn nhau. Hãy suy nghĩ theo hướng mình vì mọi người để mọi việc có thể kết thúc trong hòa bình. Dù giáo viên đang phải 89

giải quyết mâu thuẫn của cá nhân với những người khác hay đóng vai trò người phán xử cho một nhóm thì bạn cũng hãy ghi nhớ quy tắc này. Trong quá trình giải quyết xung đột, giáo viên vẫn có thể đưa ra mọi quan điểm của mình nhưng phải đảm bảo cho người kia (học sinh, đồng nghiệp, phụ huynh…) được trình bày vấn đề của họ. Hãy để họ nói, dù bạn không nhất trí, vì ngắt lời chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn. Điều quan trọng nhất là để cho mỗi người nói ra vì sao xung đột chứ không phải là giải pháp nào là chính xác. Tìm cách thấu hiểu, chấp nhận quan điểm khác nhau là cốt lõi của quá trình giải quyết xung đột. Trong thực tế có những lúc, việc phân định xem ai đúng ai sai không quan trọng bằng giữ hòa khí chung. * Tránh xa kiểu nói chuyện tiêu cực Tập trung vào những điều tích cực thay vì nói những thứ như: \"không thể\", \"không phải\" hoặc \"không\". Những từ mang tính tiêu cực chỉ khiến xung đột khó giải quyết hơn. Nếu không hiểu ý của người kia, hãy hỏi lại họ. Cố gắng đợi đến khi người kia dừng nói để tránh bị hiểu rằng bạn đang ngắt lời họ. Đừng đặt câu hỏi có tính chất mỉa mai hay hằn học vì điều đó có thể biến cuộc trao đổi thành tranh luận. Nếu thấy câu trả lời hoặc lý do họ đưa ra kỳ cục, thì hãy nhớ rằng họ có quyền đưa ra ý kiến đó giống như mình. * Tha thứ Trong giáo dục, những xung đột có xuất phát từ sự bồng bột, hiếu động, thiếu sự chín chắn của học sinh thường rất phổ biến. Đối với một giáo viên có kỹ năng và kinh nghiệm thì tha thứ cho các em là một cách làm thường được sử dụng. Nó cũng là cách thể hiện tính cách mạnh mẽ và bao dung, nhân ái của người giáo viên. Cần lưu ý, tha thứ ở đây không có nghĩa là bỏ qua, không quan tâm, không uốn nắn, không nhắc nhở mà tha thứ chính là không định kiến, phân biệt đối xử với các em khi mắc lỗi, không làm nghiệm trọng hóa vấn đề mà giải quyết một cách nhẹ nhàng và nhân văn. Trong những xung đột với đồng nghiệp, tha thứ cũng cần thiết vì thực chất trong nhiếu vấn đề cả hai bên đều có lỗi. Vì thế, cần phải tìm ra những điểm cho phép bản thân bỏ qua cho đồng nghiệp, ngay cả khi việc này thực sự khó làm với bạn. Đây là lối cư xử rất chính chắn và là cách dễ nhất để hai bên có thể giải hòa và tiếp tục hợp tác, làm việc cùng nhau trong tương lai. 90

* Nhờ đến sự giúp đỡ của bên thứ ba Trong rất nhiều các sáng kiến, các biện pháp linh hoạt để ứng phó với các xung đột tiêu cực, các vấn đề khẩn cấp và nghiêm trọng, việc lựa chọn nhân vật thứ ba tích cực làm trung gian hòa giải là một trong những biện pháp phổ biến và khôn ngoan. Trong nhà trường phổ thông, giáo viên có thể nhờ đến đồng nghiệp, Ban giám hiệu, Ban cán sự các lớp, các tổ chức như Công đoàn, Đội thiếu niên tiền phong, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cha mẹ học sinh, thậm chí là các lực lượng xã hội khác nếu thấy cần thiết. Sở dĩ cần phải nhờ bên thứ ba vì người ngoài cuộc sẽ mang lại cảm giác khách quan, công bằng cho cả hai phía. Đồng thời, người ngoài cuộc cũng có góc nhìn tốt hơn về tình huống, vấn đề xung đột hơn so với người trong cuộc vốn dĩ có nhiều cảm xúc chủ quan, thiếu sáng suốt và minh mẫn. Vấn đề là nhân vật thứ ba này phải là người có uy tín, có năng lực giao tiếp tốt, và điều quan trọng nhất là không có xung đột trực tiếp với đối tượng hay một ai khác trong tập thể sư phạm. Ngoài ra, nhân vật này không nên chỉ hòa giải chỉ vì họ có trách nhiệm làm việc đó với tư cách là thành viên của các tổ chức công đoàn, nữ công hay chi bộ mà cần có thành ý thực sự đối với các bên đang gặp khó khăn và vì sự tốt đẹp chung của cả nhà trường và tập thể sư phạm. Bên cạnh đó, bất kể nhân vật thứ ba này có tài giỏi và được trông cậy nhiều đến đâu, họ cần biết tôn trọng ranh giới và phạm vi của tư vấn: Giải pháp phải là do các bên trực tiếp đưa ra. 4.3.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Vì sao việc quản lý cảm xúc của cá nhân lại thường không hiệu quả? Hãy nêu các phương pháp khắc phục? Câu 2. Rèn thói quen suy nghĩ tích cực có vai trò và tác dụng như thế nào trong quản lý cảm xúc của giáo viên? Câu 3. Vì sao cần tránh xa việc kiểu nói chuyện tiêu cực trong quá trình giải quyết xung đột. Ý nghĩa của vấn đề này đối với việc xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo. Câu 4. Để lắng nghe và thấu hiểu người khác, từ đó giải quyết xun đột hiệu quả, theo thầy (cô) cần phải chú ý những vấn đề gì? 91

NỘI DUNG 5 XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CÁ NHÂN VÀ HỖ TRỢ ĐỒNG NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG VÀ RÈN LUYỆN PHONG CÁCH NHÀ GIÁO 5.1. Mục tiêu Học xong phần này, học viên cần đạt các mục tiêu sau: - Hiểu được vai trò của việc lập kế hoạch cá nhân đối với việc xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo của bản thân - Vận dụng được các kỹ năng cơ bản vào việc xây dựng kế hoạch cá nhân và hỗ trợ đồng nghiệp về xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo - Xây dựng được một kế hoạch cá nhân (tháng và tuần) về rèn luyện phong cách nhà giáo 5.2. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CÁ NHÂN VỀ XÂY DỰNG VÀ RÈN LUYỆN PHONG CÁCH NHÀ GIÁO 5.2.1. Nhiệm vụ Đọc mẫu thông tin cơ bản và thực hiện các nhiệm vụ sau: 1. Trả lời các câu hỏi dưới đây - Căn cứ vào đâu để mỗi giáo viên đề ra mục tiêu xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo? - Để xây dựng được kế hoạch cá nhân rèn luyện phong cách nhà giáo, mỗi giáo viên cần phải có những kỹ năng nào? - Ý nghĩa của việc xây dựng kế hoạch cá nhân về rèn luyện phong cách nhà giáo là gì? 2. Thảo luận và thực hiện 2 nhiệm vụ dưới đây - Sử dụng kỹ năng phân tích SWOT để chỉ ra các điểm mạnh mà cá nhân cần phát huy, điểm yếu mà cá nhân cần khắc phục - Lập một kế hoạch cá nhân (tháng, tuần) về việc rèn luyện phong cách nhà giáo cho bản thân 5.2.2. Thông tin cơ bản Mỗi cá nhân căn cứ vào những quy định, yêu cầu về tác phong, phong cách nhà giáo để xây dựng kế hoạch tự xây dựng, tự rèn luyện về phong cách nhà giáo. 92

Mỗi giáo viên cần chủ động nghiên cứu kỹ các tiêu chí Quy định về phong cách nhà giáo, Luật Viên chức, Luật Giáo dục,.. trên cơ sở đó để xác lập những việc cần làm, những việc không được làm và không nên làm và vận dụng vào quá trình giảng dạy, giáo dục học sinh cũng như mọi hoạt động sư phạm nói chung. Việc xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng phải bắt đầu từ việc phân tích chính xác tình hình thực tế, bao gồm: tự nhận thức bản thân, môi trường giáo dục và văn hóa học đường nơi mình công tác, từ đó đề ra các mục tiêu và yêu cầu cần đạt, lựa chọn phương thức học tập, xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng tuần. Bên cạnh đó, mỗi giáo viên cần chủ động trong việc tìm kiếm, sưu tầm tài liệu; phát huy năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong tự học và phát triển bản thân, xây dựng các công cụ và cách thức để tự đánh giá, kiểm tra mức độ hoàn thành mục tiêu và điều chỉnh mục tiêu, phương pháp, kế hoạch (nếu thấy cần thiết). Việc xây dựng kế hoạch tự học phải trên cơ sở vận dụng triệt để và có hiệu quả các kỹ năng cơ bản có liên quan đến việc thực hiện kế hoạch tự bồi dưỡng và rèn luyện tác phong nghề nghiệp cho bản thân, chẳng hạn như: kỹ thuật phân tích SWOT, kỹ năng xác định giá trị bản thân, kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng quản lý cảm xúc cá nhân, kỹ năng giải quyết xung đột… Có thể nói, việc đạt được mục tiêu do chính bản thân đề ra hay không phụ thuộc rất lớn vào các kỹ năng kể trên cũng như mức độ kiên trì và lòng yêu nghề của mỗi người giáo viên. Vì thế, trước hết để có một kế hoạch tự bồi dưỡng cá nhân thành công, mỗi giáo viên cần xác định việc rèn luyện và bồi dưỡng này vừa hết sức cần thiết, vừa hết sức có lợi cho cá nhân không chỉ trong quan hệ với nghề nghiệp mà còn cả trong quan hệ với việc tìm kiếm hạnh phúc và giá trị cuộc sống của mỗi cá nhân. 5.2.2.1. Các bước xây dựng kế hoạch cá nhân về xây dựng và rèn luyện nhà giáo Bước 1. Phân tích SWOT bản thân Đối với phát triển cá nhân, trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống, phân tích SWOT bản thân cũng đều là một công cụ dễ quản lý và hữu hiệu. Nó có thể giúp mỗi người đánh giá khả năng con người thực của mình để đạt được những mục tiêu trong cuộc sống như: - Sự nghiệp 93

- Phát triển các mối quan hệ cá nhân, - Phát triển kỹ năng bản thân. Mỗi người có thể sử dụng kết quả phân tích này để phát triển nhân cách bằng cách duy trì thúc đẩy những điểm mạnh và liên tục bồi đắp xây dựng dựa trên những cơ hội, đồng thời có thể kìm hãm những điểm yếu và lường trước được những rủi ro. Trong tự xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo, việc áp dụng phân tích SWOT bản thân sẽ giúp các giáo viên có cơ hội tự nhìn lại chính mình, thấy được các điểm mạnh và cơ hội cũng như những điểm yếu và thách thức đối với bản thân, trên cơ sở đó mà đề ra mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho quá trình sửa đổi, điều chỉnh và phát triển bản thân về phương diện thói quen, lối sống và kỹ năng nghề giáo. Chẳng hạn, sau quá trình phân tích SWOT, một giáo viên thấy được mình có điểm yếu là thường xuyên nóng nảy, khó kiềm chế cảm xúc, nguy cơ đối với bản thân trong quá trình hoạt động sư phạm là dễ dẫn đến đánh đập học sinh, vi phạm Quy định về đạo đức nhà giáo. Trên cơ sở đó, người giáo viên nói trên đề ra kế hoạch rèn luyện kỹ năng quản lý cảm xúc tốt hơn để làm tốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh. Bước 2. Xác định mục tiêu Để lập kế hoạch cho bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức nhà giáo nhanh chóng đạt được hiệu quả và thành công, trước tiên giáo viên cần phải quan tâm đến: + Lý do khiến bản thân cần phải rèn luyện các phẩm chất này + Vai trò, ý nghĩa của các phẩm chất đó đối với sự nghiệp, công việc của bản thân + Phải nhận những hậu quả gì nếu không hình thành được các phẩm chất đó Trước khi thực hiện một kế hoạch, mỗi giáo viên nên tìm hiểu rõ về nó, xác định trước những yêu cầu kèm theo các mục tiêu muốn hướng tới. Từ đó, bản đánh giá quá trình rèn luyện sau này của bản thân sẽ thể hiện rõ được các ưu và nhược điểm của bản kế hoạch. Bước 3. Xác định nội dung của công việc Sau khi đã tìm hiểu kỹ các yêu cầu, tiêu chí, kỹ năng bản thân cần hình rèn luyện, mỗi giáo viên cần nêu rõ từng bước để thực hiện với nội dung cụ thể và cần trả lời các câu hỏi sau: 94

+ Làm thế nào để hoàn thành các bước trong kế hoạch? + Nên chuẩn bị trước những tài liệu hướng dẫn liên quan nào? + Thời hạn và tiêu chuẩn thực hiện kế hoạch là gì? + Các nguồn lực (con người, thiết bị, máy móc) hỗ trợ cho công việc (nếu có) là gì? Bước 4. Xác định được địa điểm, thời gian và các mối quan hệ cơ bản Tương ứng với mỗi vấn đề, bạn cần trả lời các câu hỏi liên quan sau đây: Ở đâu và trong những quan hệ nào? + Kế hoạch rèn luyện đó thực hiện tại đâu? + Kế hoạch rèn luyện đó được thực hiện và lặp lại trong những mối quan hệ nào? Thời gian bắt đầu quá trình rèn luyện khi nào? Mỗi tuần bao nhiêu lần? Khi nào kết thúc? Bước 4. Tập trung thực hiện kế hoạch Sự tập trung giúp bạn làm việc có hiệu quả và tiết kiệm được thời gian. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn chỉ làm một việc duy nhất trong một khoảng thời gian dài. Nếu có thể, bạn nên học cách rèn luyện một số kỹ năng và chuẩn mực hành vi trong những mối quan hệ cụ thể trong ngày, nhưng hoàn thành theo thứ tự ưu tiên kèm theo các mốc thời hạn cụ thể. Bước 5. Kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch Để biết bản thân đã làm đã đạt được bao nhiêu phần trăm mục tiêu, rèn luyện được tính vững chắc của các thói quen, nền nếp, kỹ năng đến đâu, có hoàn thành mục tiêu đúng hạn hay không, bạn sẽ phải liên tục kiểm tra và đốc thúc bản thân xử lý mọi việc đúng với kế hoạch đề ra. 5.2.2.2. Một số vấn đề cần lưu ý Một là, ưu tiên sắp xếp thứ tự công việc Bạn có thể sắp xếp công việc theo thứ tự quan trọng hoặc theo trình tự thời gian/đối tượng tiến hành. Việc này sẽ giúp bạn loại bỏ những công việc không phù hợp, tiết kiệm được thời gian và nguồn lực. Đây là một trong những yếu tố quan trọng khi bạn muốn rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch. 95

Hai là, linh hoạt trong việc thực hiện kế hoạch Trên thực tế, nhiều bản kế hoạch trở nên “lỗi thời” với những gì đang xảy ra. Điều bạn cần làm ngay lúc này là dành một khoảng thời gian hợp lý để xử lý các sự cố và điều chỉnh kịp thời bản kế hoạch. Mặt khác, trong quá trình lên kế hoạch, bạn phải dự trù, liệt kê toàn bộ những khó khăn có thể gặp phải và từ đó đưa ra các phương án giải quyết dự phòng. 5.2.2.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Việc xây dựng kế hoạch cá nhân về xây dựng và rèn luyện nhà giáo cần bắt đầu từ đâu? Câu 2. Vì sao việc vận dụng các kỹ năng cơ bản vào quá trình xây dựng kế hoạch và thực hành rèn luyện phong cách nhà giáo rất quan trọng? 5.3. HỖ TRỢ ĐỒNG NGHIỆP VỀ XÂY DỰNG VÀ RÈN LUYỆN PHONG CÁCH NHÀ GIÁO 5.3.1. Nhiệm vụ Đọc mẫu thông tin cơ bản dưới đây và trả lời các câu hỏi sau - Có thực sự cần thiết chia sẻ và hỗ trợ đồng nghiệp về tự xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo không? - Việc chia sẻ và hỗ trợ đồng nghiệp về tự xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo mang lại những lợi ích gì? - Mỗi giáo viên cần làm gì để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ đồng nghiệp về xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo? 5.3.2. Thông tin cơ bản Phong cách nhà giáo được thể hiện ra trong sự ứng xử của mỗi giáo viên với với học sinh, với đồng nghiệp và các lực lượng xã hội khác. Trong quá trình xây dựng thói quen hành vi, mỗi giáo viên luôn cần đến môi trường sư phạm với những đối tượng cụ thể như học sinh, đồng nghiệp, phụ huynh, lãnh đạo, các lượng lực xã hội khác. Môi trường sư phạm, một mặt là đối tượng để giáo viên sử dụng cho sự thể nghiệm các chuẩn mực, hành vi, thói quen của bản thân; mặt khác, trong môi trường đó, giáo viên có sự tương tác, sự chia sẻ, sự trao đổi với mọi người xung quanh để vừa trải nghiệm, vừa tìm kiếm sự phản hồi (ủng hộ, tán thưởng hoặc phê bình, lên án…) lại vừa học hỏi từ các đồng nghiệp và các chủ 96

thể khác. Vì vậy, trong quá trình xây dựng và rèn luyện phong cách nhà giáo, mỗi giáo viên cần thiết phải có sự chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp. Việc chia sẻ này phải được xem như là một giải pháp để mỗi giáo viên tìm kiếm sự đồng cảm, lời khuyên, nhận sự những giải pháp hỗ trợ từ đồng nghiệp trên cơ sở đó mà đồng thời giảm được áp lực do những mâu thuẫn, xung đột nẩy sinh trong quá trình thực hiện công việc giảng dạy và giáo dục học sinh. Để rèn luyện được các kỹ năng làm nên tác phong, phong cách của mình, mỗi nhà giáo phải biến việc chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thành thói quen và văn hóa học đường. Nó thực sự là một giải pháp quan trọng, vì thực tiễn cho thấy, những người đồng nghiệp chính là những người hiểu rõ đặc điểm của nghề, đặc điểm của môi trường sư phạm, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đặc điểm địa bàn của ngôi trường… Vì vậy, những giải pháp và lời khuyên, sự chia sẻ của đồng nghiệp đưa ra thường rất quý báu, phù hợp và có tính thực tế, tính hữu dụng rất cao. 5.3.3. Đánh giá hoạt động Câu 1. Vì sao việc chia sẻ với đồng nghiệp về các giải pháp rèn luyện phong cách nhà giáo lại rất cần thiết và có tính hữu dụng cao? Câu 2. Một giáo viên trong trường bạn thường lúng túng khi các học sinh trong lớp của cô ấy có những xung đột và mắc lỗi. Là người đồng nghiệp, bạn hãy đưa ra những lời khuyên hỗ trợ cho giáo viên trên? Câu 3. Bạn chủ nhiệm một lớp mà học sinh rất hiếu động và có nhiều học sinh không thực hiện đúng các nội quy của nhà trường, bạn thường xuyên phải trao đổi với phụ huynh và lãnh đạo nhà trường. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh lại tỏ ra bênh vực con mình, thậm chí nặng lời với bạn. Trong trường hợp như vậy, bạn cần làm gì để vừa giáo dục được học sinh và nhận được sự hỗ trợ từ phụ huynh? 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chỉ thị 1737/CT-BGDĐT ngày 7 tháng 5 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao đạo đức nhà giáo. 3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 08 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Quy định quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Thông tư số 06/2019/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 04 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 5. Vũ Thiên Bình (2020), Luật Giáo Dục Năm 2019 Và Những Quy Định Mới Về Chế Độ, Chính Sách Của Giáo Viên, Nxb Lao động. 6. Quốc Hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2018), Luật trẻ em (sửa đổi, bổ sung năm 2018), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật. 7. Quốc Hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2019), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và luật viên chức. 8. Hoàng Thị Thu Hiền, Võ Đình Dương, Bùi Thị Bích, Nguyễn Như Khương, Nguyễn Thanh Thúy (2014), Kỹ năng mềm tiếp cận theo hướng sư phạm tương tác, Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 9. Đỗ Hạnh Nga (2001), Các kỹ thuật giải quyết xung đột trong nhóm, Tạp chí Tâm lí học, số 9 tháng 12/2001, tr. 50. 10. Nguyễn Văn Trung, Hoàng Đức Bảo (2015) Giáo trình Kỹ năng mềm thiết yếu, Nxb Đại học Huế. 98


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook