Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore Bộ Quy chuẩn full 7.4.22

Bộ Quy chuẩn full 7.4.22

Published by Quang Nguyen Xuan, 2022-04-07 10:47:50

Description: Bộ Quy chuẩn full 7.4.22

Search

Read the Text Version

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam quy định của pháp luật về CSDL quốc gia, và các quy định có liên quan. CSDL về Quốc chí có thể được quan niệm như một hệ thống CSDL quốc gia và vì vậy cần tuân thù nguyên tắc này. Lý do: Chính phủ và một so bộ ngành có liên quan đã xây dựng khung kiến trúc CNTT. Một số hệ thống CNTT, Ví dụ như trục liên thồng văn bản quốc gia cũng đã quy định các thủ tục liên kết dữ liệu giữa Chính phủ/Văn phòng Chính phủ với các BỘ/ban/Ngành/Tỉnh thành. Bộ Thông tin và truyền thông cũng đã ban hành kiến trúc chính phủ điện tử, theo đó dữ liệu cần được phân loại một cách thống nhất để đảm bảo tính liên thông dữ liệu trong phạm vi toàn quốc đối với các ứng dụng chính phủ điện tử. Việc tôn trọng các kiến trúc của các hệ thống bên ngoài góp phần tăng cường tính liên thông trong hoạt động nghiệp vụ, tăng cường hiệu quả của dữ liệu, giảm được chi phí trong hoạt động thông tin. Hon nữa, hệ thống CSDL Quốc chí sau khi hoàn thành có thể được tích hợp vào các hệ thống CSDL quốc gia nhằm khai thác kho dữ liệu của nhiệm vụ quan trọng này cho các mục đích nghiên cứu, tư vấn chính sách và các mục đích khác. Hàm ý: Khi xây dựng kiến trúc dữ liệu của hệ thống CSDL Quốc chí, cần chú ý đến tính liên thông với kiến trúc dữ liệu của các hệ thống có liên quan, có phạm vi lớn hon. Nguyên tắc 6. Đảm bảo tuân thủ bản quyền, quyền tác giả, ... của các bài viết và tư liệu sử dụng Mô tả: Chúng ta cần có cơ chế đảm bảo việc tuân thủ bản quyền, quyền tác giả,... của nội dung các mục, của các tư liệu được sử dụng theo các quy định của pháp luật Lý do: Địa chí quốc gia là một tài liệu quan trọng, có giá trị tham khảo lâu dài, được công bố cho toàn dân, là sản phẩm trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học đầu ngành về hầu hết các lĩnh vực. Trong quá trình biên tập, chúng ta sẽ phải sưu tầm và xử dụng nhiều 49

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam tư liệu khác nhau. Với lượng mục từ và tư liệu rất lớn, rất dễ xảy ra các hiện tượng vi phạm bản quyền và quyền tác giả. Hàm ý: Khi xây dựng kiến trúc dữ liệu của hệ thống CSDL Quốc chí, cần có các cơ chế giám sát và quản lý các thông tin liên quan đến bản quyền, quyền tác giả, v.v. Chủ động phát hiện các dấu hiệu vi phạm các quy định về quyền sở hữu trí tuệ. Nguyên tắc 7. Đảm bảo chất lượng của nộỉ dung các mục khỉ xuất bản Mô tả: Chúng ta cần có cơ chế đảm bảo chất lượng của nội dung các mục, đặc biệt là các hình ảnh được sử dụng Lý do: Địa chí quốc gia không chỉ được xuất bản trực tuyến mà còn được in thành sách. Việc đảm bảo chất lượng ngay từ khâu thiết kế hệ thống CSDL Quốc chí đến quá trình triền khai quản lý và biến soạn sẽ góp phần giảm thiểu các vấn đề phát sinh khi tiến bành xuất bản. Hàm ý: Khi xây dựng kiến tróc dữ liệu của hệ thống CSDL Quốc chí, cần có các cơ chế giám sát và quản lý các thông tin về tư liệu được các nhà khoa học sử dụng trong nội dung các mục, đặc biệt là các hình ảnh. Đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng tư liệu (dung lượng tối đa, độ phân giải tối thiểu, màu sắc, v.v.) và có cơ chế cảnh báo khi các khoa học không tuân thủ Nguyên tắc 8. Ảp dụng các kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất Mô tả: Hoạt động xây dựng CSDL Quốc chí nói chung và thiết kế CSDL nói riêng phải luôn phù hợp với các thực tiễn tốt nhất của các bên liên quan đến nhiệm vụ Quốc chí liên quan đến việc quản trị, quản lý, biên tập, biên soạn, xuất bàn và khai khác dữ liệu Lý do: Một tổ chức luôn cố gắng áp dụng các kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất từ lĩnh vực của mình cho các hoạt động nghiệp vụ. Chúng ta phải tuân thủ chiến lược chung để tăng cường các hoạt động nghiệp vụ. Chúng ta phải cung cấp ứng dụng và những thỏa 50

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam thuận mức dịch vụ với thời hạn ngắn hơn và với chất lượng ngày càng cao hơn trong quy trình kiểm soát chi phí một cách hiệu quả. Hàm ý: Các kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất trong quá trình xây dựng hệ thống CSDL Quốc chí phải được xác định và nghiên cứu để thực hiện chúng một cách đúng đắn. Nhóm xây dựng cùng với các bộ phận khác phải tuân thủ các thực tiễn tốt nhất sau: Các quy trình nghiệp vụ liên quan đến toàn bộ nhiệm vụ Quốc chí phải có khả năng được chứng nhận và sử dụng các thước đo đã được biết đến rộng rãi. Phải có tầm nhìn về sự rủi ro toàn thể, tập trung vào việc đảm bảo không sự cố, và lưu hồ sơ về các sự cố này khi phát sinh. Việc quản lý chi phí trong quá trình phát triển cho mỗi dịch vụ/ứng dụng phải được so sánh với giá tương ứng của thị trường. Quản lý CNTT phải tập trung vào các chỉ số đo đạc được và sử dụng phương thức quản lý chương trình. Nhân lực phải được tăng cường năng lực và có động lực làm việc. Kiến trúc ứng dụng được duyệt phải được áp dụng một cách hiệu quả trong các dự án. 2.2. Mô hình dữ liệu Cấu trúc dừ liệu của toàn bộ hệ thống CSDL Quốc chí sẽ được phát triển bài bản trong quá trình xây dựng hệ thống dựa trên các quy trình nghiệp vụ liên quan và các thông tin phản hồi. Tuy nhiên, căn cứ vào các ý kiến thu thập được và các nguyên tắc được đề xuất, các thực thể cùng thông tin tương ứng sau cần được quan tâm đề triển khai thiết kế CSDL Quốc chí một cách hiệu quả. Đây là mô hình dữ liệu tham chiếu quan trọng, giúp cho nhóm phát triển cũng như các bên liên quan tham khảo về sau trong các hoạt động liên quan. CSDL Quốc chí nên gồm các thực thể như sau: 51

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam - Tư liệu (tên tư liệu, định dạng, chi tiết định dạng, kích thước, ngày thêm, người thêm, nguồn tư liệu, mô tả chi tiết, mức độ chia sẻ, người thu thập, cách thu thập, nguồn chi phí thu thập, giá trị sử dụng, tình trạng bản quyền, v.v.) - Trưởng/Phó Tập/Thư ký khoa học (họ và tên, email, cơ quan công tác, tên tập, vai trò, ...) - Trưởng Quyển (họ tên, email, cơ quan công tác, tên tập, tên quyển, ...) - Trưởng Chương (họ và tên, email, cơ quan công tác, tên tập, tên quyển, tên chương, ...) - Tập (tên tập, mô tả, trạng thái, ...) - Quyển (tên tập, tên quyển, mô tả, trạng thái, ...) - Chưong (tên tập, tên quyển, tên chương, mô tả, trạng thái, ...) - Mục (tên tập, tên quyến, tên chương, tên mục, mô tả, nội dung, người soạn, người biên tập, tạng thái, danh sách tư liệu) - Lịch sử soạn thảo (tên mục, nội dung, mô tả, ngày tạo phiên bản, ...) - Nhóm người dùng (tên nhóm, mô tả, quyền, ...) - Người dùng (họ tên, email, tài khoản đăng nhập, điện thoại, cơ quan công tác, vai trò, trạng thái, ...) 52

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ XÂY DỰNG QUY CHUẨN ATLAS PHỤC VỤ BIÊN SOẠN ĐỊA CHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 1. Đối tượng và phạm vi của Atlas Quốc chí Đối tượng: Atlas Quốc chí thể hiện các nội dung về tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội của Việt Nam, mang tính tiêu biểu, có đặc điểm phân bổ không gian, phù họp với các tập của Thông chí. Đối tượng không gian của Atlas Quốc chí là lãnh thổ và không gian biển đảo của Việt Nam, các vùng lãnh thồ, các đơn vị hành chính, các đơn vị tổ chức lãnh thổ theo ngành được nghiên cứu và giới thiệu trong quốc chí. Phạm vi “ Phạm vi nội dung: bao gồm các thông tin và nội dung có tính không gian của các tập Quốc chí, được cấu trúc lại dưới hình thức các bản đồ, biểu đồ đặc trung của Atlas. - Phạm vi thời gian: Atlas sử dụng các số liệu, dữ liệu, thông tin của Việt Nam từ năm 1945 đến nay, nhưng chủ yếu từ năm 1986, đặc biệt là giai đoạn 2010-2020. - Phạm vi lãnh thổ: là toàn bộ lãnh thồ của Cộng hòa Xẵ hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm phần đất liền, biển và hải đảo; một số bản đồ thể hiện Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới. 2. Định nghĩa “Atlas Quốc chí” Atlas Quốc chí là hệ thống bản đồ phản ánh toàn diện, đồng bộ và thống nhất các yếu tố cơ bản, đặc trung mang tính không gian 53

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam về tự nhiên, dân cư, kinh tế, vãn hóa và xã hội của Việt Nam được trình bày trong Quốc Chí. Atlas Quốc chí là một Atlas tổng họp trong đó thế hiện hệ thống các bản đồ có mối quan hệ hữu cơ và bổ sung cho nhau, cùng hình ảnh và thuyết minh, đảm bảo tính khoa học, hiện đại, toàn diện, đồng bộ và thống nhất đối với các nội dung của Quốc chí, được quy định bởi mục đích và đặc điểm sử dụng của bộ địa chí Quốc gia, là một tác phẩm hoàn chỉnh và được được xây dựng theo một đề cương chung. 3. Ý nghĩa của Atlas - Đối với các cấp quản lý: cung cấp các thông tin đồng bộ, chính xác, giúp tăng cường khả năng quản lý và đưa quyết định chủ động ứng phó với các tình huống bất ngờ do chủ động thông tin. - Đối với người dân: Cung cấp thông tin đến đông đảo người dân nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, đẩy mạnh dân trí, ứng dụng trong sản xuất và gìn giữ tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc. - Đối với xã hội: Truyền tải, chia sẻ thông tin phục vụ học tập, tra cứu, giải trí, gìn giữ bản sắc vãn hóa và những di sản vật thể và phi vật thể cho các thế hệ tiếp nối. - Đối với các nước trong khu vực và trên thế giới: Hỗ trợ tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu, học tập và trao đổi thông tin nhằm mở rộng khả năng giao lưu, giới thiệu văn hóa bản sắc dân tộc cho người đọc trên thế giới, đồng thời cung cấp những thông tin hữu ích khác. 4. Nguyên tắc cơ bản xây dựng nội dung và khung của Atlas Quốc chí 4.1. Mục đích của Atlas Quốc chí phải được xác định cụ thể, rõ ràng Atlas được thành lập nhằm mục đích gì, phục vụ đối tượng nào, và muốn nhấn tới ý tường gì, để từ đó có hướng cho nội dung và 54

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam khung của atlas, nội dung của các bản đồ trong atlas, cho việc lựa chọn các chỉ tiêu, chỉ số, kí hiệu bản đồ và phương pháp thành lập. 4.2. Tính tương thích với Atlas Quốc gia Hiện nay, trong các vãn liệu chưa có một định nghĩa cụ thể về Atlas quốc chí. Tuy nhiên đặt nó trong khuôn khổ của Chương trình đặc biệt về xây dựng Địa chí Quốc gia thì có the thấy Atlas quốc chí là một Atlas tổng hợp, tương thích với Atlas quốc gia, phản ánh về mặt không gian và bản đồ hóa các nội dung của các tập quốc chí. Atlas là một ấn phẩm độc lập, gồm hệ thống bản đồ phản ánh những nét đặc thù của Việt Nam trên quan điếm nghiên cứu lãnh thổ. Vì vậy, các chương mục của Atlas vừa phải thể hiện nội dung chính của quốc chí vừa phải thực hiện theo cấu trúc thông thường của một Atlas quốc gia tổng hợp. Atlas in có cấu trúc như một cuốn sách (ấn phẩm đặc biệt), cần được trình bày một cách khoa học, hiện đại, mỹ thuật và mang tính đại chúng. 4.3. Nội dung atlas phải đảm bảo tính hoàn chỉnh: Nội dung của atlas phải đảm bảo tính đầy đủ và thống nhất nội tại Đảm bảo sự thống nhất nội tại của atlas, chính là sự bổ sung lẫn nhau, tính phù hợp với nhau và khả năng so sánh các bản đồ trong atlas với nhau. Sự thống nhất đó được thực hiện thông qua: - Sự lựa chọn họp lý các phép chiếu, không nên nhiều phép chiếu trong một atlas. - Giới hạn số lượng tỷ lệ được sử dụng, các tỷ lệ này nên nằm trong những tương quan đơn giản so với nhau (bội số của nhau). - Tính thống nhất (hay tính phù hợp) của các phương pháp biểu thị và của các chỉ số được sử dụng thế hiện nội dung trên hệ thống các bản đồ trong atlas. - Những qui định khái quát hoá thống nhất, 55

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam - Qui định nội dung atlas về một mốc thời gian (hoặc các mốc nhất định). Việc xây dựng những bản đồ có nội dung gắn liền với những mổc thời gian khác nhau sẽ làm mất đi sự thống nhất của atlas. - Phân bố hợp lý (thứ tự phân bố) các bản đồ trong atlas. “Yêu cầu cách xử lý chung và thống nhất đối với nội dung và cách trình bầy tất cả các bản đồ trong atlas. Phải chú ý đến các đặc điểm nội dung của từng bản đồ cụ thể và những điều kiện địa phương của lãnh thổ được biểu thị trên bản đồ. 4.4. Nội dung của atlas Quốc chí phải mang tính địa chí Với tính chất cùa một Atlas địa lý tổng hợp, Atlas quốc chí đảm bảo một cách rõ ràng các đặc trưng của Chí, cụ thể: \" Tính khoa học: Các bản đồ phải đảm bảo mô tả khách quan, toàn diện và có hệ thống về tự nhiên, xã hội và con người của đối tượng, thể hiện được những diện mạo, đặc trưng vốn có của đối tượng theo trục không gian và thời gian cụ thể của lãnh thổ Việt Nam hiện đại. - Tính đương hiện và tính liẻn tục Địa chí lấy thời điểm hiện tại làm cơ sở để mô tả về các đối tượng đang tồn tại ở thời điểm biên soạn, kết họp trình bày quá trình hình thành và phát triển của đối tượng theo góc nhìn lịch sử. Như vậy theo tính đương đại của chí nên các bản đồ của Atlas là các bản đồ phản ánh hiện trạng, các đối tượng được kiểm kê, định vị và miêu tả khách quan sát với thực tế hiện nay. - Tính đại chúng: Nội dung và phương thức trình bày các bản đồ địa chí cần rõ ràng, mạch lạc, chính xác, phù hợp với người dùng đại chúng, hướng tới nâng cao nhận thức toàn diện về tự nhiên, xã hội và con người của Việt Nam. Như vậy các bản đồ cần có nội dung rõ ràng, hệ thống phân vị không phức tạp, vị trí miêu tả cụ thể, ký hiệu dề đọc, dễ nhận biết. Ngoài bản đồ cần có thêm các nội 56

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam dung bổ sung như các hình ảnh minh họa, bài viết thuyết minh cụ thể, dễ hiểu giải thích và làm rõ nét đặc trưng, đặc sắc của đối tượng. - Độ chính xác: Thông tin trong atlas đảm bảo độ chính xác hình học quy định cho tỷ lệ bản đồ tương ứng và xác thực về tương quan không gian và quy luật phân bổ của các đối tượng, hiện tượng. Các thông tin chuyên đề phải đảm bảo tính trung thực, phải được cập nhật đúng mốc thời gian quy định chung cho toàn bộ atlas. “ Đảm bảo mức độ chi tiết thể hiện nội dung ưong các bản đồ: Tùy thuộc vào từng chủ đề của trang bản đồ đe xác định nội dung và phương pháp thế hiện phù hợp. Lựa chọn và kết họp các phương pháp thể hiện nội dung và hình thức thể hiện thích họp sao cho bản đồ thực sự là hình ảnh trực quan của dữ liệu, chuyển tải tốt thông tin cần thiết. Phương pháp biểu hiện bản đồ phải gần gũi nhất với đặc tính địa lý của các đối tượng, hiện tượng. Mỗi loại đối tượng, hiện tượng có đặc điểm phân bố khác nhau (như theo điểm, đường, diện, phân bố phân tán, phân bố tập trung, phân bố toàn bộ..Để đảm bảo bản đồ có tính địa lí cao, phản ánh tốt nhất đặc trưng của đối tượng cần vận dụng những phương pháp biểu hiện phù hợp nhất và phổi hợp các phương pháp biểu hiện một cách khoa học. - Tổng quát hóa bản đồ (khâu quan trọng): Chọn lọc các đối tượng và cách thể hiện sao cho nội dung và hình thức bản đồ phù hợp với chuyên đề, tỷ lệ, và mục đích sử dụng. Đưa ra nguyên tắc tồng quát hóa cụ thể cho từng đối tượng và nội dung bản đồ. 4.5. Khung (cấu trúc, khối lượng và hình thức) của Atlas Địa chí Quốc gia phải phù họp quy định của Bộ Tài Nguyên và Môi trường Khi thiết kế tống thế toàn bộ Atlas, cần xác định các tỷ lệ của Atlas: tỷ lệ cơ bản, tỷ lệ gốc của dữ liệu; Lên danh mục các trang 57

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Atlas, tên từng chương và từng bản đồ trong một chương; Thống nhất bố cục nội dung trang mở đầu, trang giới thiệu Atlas. Bố cục của từng chương, từng trang bản đồ phải đảm bảo: a) Hệ quy chiếu và hệ tọa độ Atlas phải đảm bảo tính thống nhất về lưới chiếu, Elipsoid, hệ tọa độ, hệ độ cao cho các nhóm bản đồ. - Các trang bản đồ thể hiện trọn vẹn hoặc một phần lãnh thồ Việt Nam phải được chuyển đổi về hệ quy chiếu và hệ tọa độ phù hợp với quy định trong Thông tư số tư số 973/2001/TT-TCĐC ngày 20 tháng 6 năm 2001 do Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) ban hành về việc \"Hướng dẫn áp dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ Quốc gia VN-2000\". Theo đó, tùy thuộc vào phạm vi lãnh thổ biểu thị, tỷ lệ bản đồ để lựa chọn lưới chiếu cho phù hợp. - Các trang bản đồ thế giới, châu Á, khu vực Đông Nam Á... giữ nguyên cơ sở toán học như các bản đồ tài liệu. - Theo đặc thù của một Atlas tổng hợp, trong Atlas sẽ có các bản đồ được thể hiện hệ thống kinh vĩ độ và tọa độ địa lý đổi với nhóm bản đồ hành chính và các bản đồ nhóm tự nhiên. Đối với các bản đồ nhóm kinh tể xã hội lấy đơn vị tỉnh làm đối tượng không gian thể hiện các chỉ tiêu hay hệ thống các bản đồ thể hiện các hiện tượng địa lý trong khoa học bản đồ về Atlas cho phép không cần thể hiện mạng lưới kinh vĩ độ và chú thích tọa độ. Đây được gọi là dạng bản đồ nổi hay dạng đảo chỉ chú trọng vào nội dung thế hiện vì các bản đồ đã nằm trong hệ thống quản lý của Atlas. Cũng như vậy đối với các bản đồ này các ký hiệu về biên giới quốc gia, ranh giới tỉnh huyện sẽ không cần thể hiện theo ký hiệu quy định. b) Hệ thống tỷ lệ bản đồ và kích thưóc của Atlas -Tỷ lệ bản đồ là yếu tố quyết định kích thước của Atlas. Thừa kế hệ thống cảc tỷ lệ bản đồ Việt Nam trong các Atlas đặc biệt là Atlas Quốc gia, dãy tỷ lệ cơ bản và các tỷ lệ dẫn xuất được lựa chọn 58

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam là: Tỷ lệ cơ bản cho bản đồ Việt Nam toàn vẹn lãnh thổ cả biển đảo là tỷ lệ 1/4.000.000, Các tỷ lệ dẫn xuất là tỷ lệ 1/6.000.000; tỷ lệ 1/7.000.000, Tỷ lệ 1/8.000.000, tỷ lệ 1/10.000.000. Đối với các bản đồ khu vực tỷ lệ 1:12.000.000 vả 1:20.000.000; Đối với các bản đồ thế giới: tỷ lệ 1/70.000.000. - Kích thước của Atlas: Kích thước của Atlas phải được xác định sao cho có thể phản ành được nội dung phức tạp của Atlas quốc chí nhưng vẫn đảm bảo thuận tiện khi dừng. Đe phù hợp với đặc điểm lãnh thổ Việt Nam và thích hợp với tỷ lệ đã lựa chọn, kích thước cho Atlas quốc chí Việt Nam bản in là khổ A2. Với kích thước này thì Atlas Quốc chí đủ để thể hiện toàn bộ lãnh thổ của quốc gia, tỉnh, tiện lợi cho sử dụng tại chỗ hoặc mang đi xa, đồng thời cũng kinh tế khi in xuất bản. Như vậy, dựa trên các luận giải ở trên, đề tài xác định Atlas bao gồm 401 bản đồ ở các tỷ lệ: 1:2.000.000 (13 bản đồ); 1:4.000.000 (91 bản đồ); 1:6.000.000 (100 bản đồ); 1:8.000.000(154 bản đồ); 1:10.000.000 (14 bản đồ); 1:12.000.000 (7 bản đồ); 1:70.000.000 (22 bản đồ). Các tỷ lệ được lựa chọn căn cứ vào dung lượng nội dung của bản đồ, mức độ phân hóa không gian của các đối tượng. Kích cỡ cuốn Atlas được lựa chọn là: rộng: 38cm; dài 54cm, tương ứng với Atlas Quốc gia Việt Nam xuất bản năm 1996. Atlas này thể hiện rõ đặc điểm và sự phân hóa các yếu tố tự nhiên (kết quả nghiên cứu chủ yếu đến năm 1980-1985) và kinh tế xã hội Việt Nam (số liệu đến năm 1990). c) Cấu trúc hình thức hay bố cục của Atlas Cấu trúc chung của Atlas bao gồm nhiều trang: Bìa, Trang phụ bìa; Các trang mở đầu (Lời giới thiệu, lời nói đầu, ban biên tập, thành viên tác giả...), Mục lục; Ghi chú giải thích và bảng ký hiệu chung; Các chương. Mỗi chương thể hiện theo một chủ đề, và được 59

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam bố cục theo nội dung của từng chương. Trang kết thúc Atlas là hệ thống chỉ dẫn, bảng tra cứu địa danh (nếu có). Atlas phải đảm bảo có các bố cục sau: 4- Bố cục từng chương: Bài viết tổng quan về nội dung của từng chương, các số liệu dự kiến làm rõ cho các bản đồ trong chương. Các bản đồ được sắp xếp theo quá trình nhận thức và ưu tiên những vấn đề, đề tài quan trọng trước. 5- Bố cục trong một chủ đề bản đồ: Mỗi chủ đề sẽ có nhiều trang bản đồ và tư liệu. Trang chú gồm cả quốc gia theo tỷ lệ của atlas. Các trang khu vực (tỉnh, thành) ở tỷ lệ lớn hơn; Phần thuyết minh; Phần chú giải. 6- Bố cục bản đồ: Bố cục bản đồ phải chặt chẽ, khoa học: Các đối tượng, hiện tượng biểu hiện trên bản đồ không những được phản ánh về sự phân bố, mà còn cả những đặc tính về số lượng, chất lượng, cơ cấu và động lực. Ngoài ra, có thể thành lập thêm những bản đồ phụ và các biểu đồ, đồ thị để bổ sung những khía cạnh gần gũi với nội dung chính, làm tăng lượng thông tin cho bản đồ. Đảm bảo sự cân đối và khoa học trong bố cục bản đồ không những làm tăng giá trị hình thức bản đồ mà còn cho phép nâng cao độ phong phú của nội dung bản đồ. d) Cấu trúc nội dung của các phần, các chương của Atlas Quốc chí Yêu cầu về cấu trúc nội dung Atlas Quốc chí: - Đảm bảo tính thống nhất hệ thống và logic trong toàn Atlas (giữa các phần, các chương) và chi tiết trong từng chương, từng trang bản đồ. - Đảm bảo tính cân đối về số trang, chủ đề trong các chương nhằm phản ánh được một cách tổng quát và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực từ tình hình chính trị, địa lý tự nhiên, tài nguyên môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam, phù họp nội dung 60

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam các tập Thông chí, nhưng được bố cục khoa học theo logic hệ thống của Atlas. - Việc bố trí, sắp xếp các kênh thông tin trong từng phần, chương, trang (bản đồ, thuyết minh, hình ảnh minh họa...) phải đảm bảo hiệu quả sử dụng cao nhất (logic, dễ đọc, dễ tham chiếu, dễ so sánh...). Cấu trúc Atlas Quốc chí: I)Phần 1: Việt Nam trên the giới Chương 1: Lãnh thổ Quốc gia và Khả năng tiếp cận Chương 2: Phân vùng lãnh thố và Hành chính Chương 3: Tài khoản Quốc gia và Chất lượng cuộc sống Chương 4: Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Chương 5: Di sản thế giới II) Phần 2: Thiên nhiên và Tài nguyên Chương 6: Địa hình và Địa chất Chương 7: Khí hậu Chương 8: Thủy vãn Chương 9: Thổ nhưỡng, đất đai Chương 10: Sinh vật Chương 11: Biển đảo Chương 12: Tai biến thiên nhiên III) Phần 3: Dân cư và Lao động Chương 13: Dân cư Chương 14: Lao động và việc làm 61

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam IV) Phần 4: Kinh tế và Phát triển Chương 15: Kinh tế chung Chương 16: Nông, lâm, ngư nghiệp Chương 17: Công nghiệp, năng lượng và xây dựng Chương 18: Dịch vụ Chương 19: Tổ chức không gian phát triển kinh tế V) Phần 5: Xã hội - Văn hóa Chương 20: Giáo dục, Khoa học Chương 21: Sức khỏe và an toàn Chương 22: Sự hài lòng và cân bằng công việc - giải trí Chương 23: Văn hóa Phần 1 phản ảnh những vấn đề tồng quan của đất nước cũng như vị trí của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, hợp tác quốc tế, các di sản thiên nhiên và văn hóa được thế giới công nhận. Các phần 2, 3 và 4 thế hiện được các vấn đề về điều kiện vật chất, tài nguyên thiên nhiên, tai biến thiên nhiên; dân cư và lao động, các ngành kinh tế và phát triển. Phần 5 phản ánh những thành tựu của đất nước trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học, y tế. Trong Atlas quốc chí bao gồm cả các bài thuyết minh, biểu đồ hình ảnh minh họa, bảng số liệu và các tư liệu thống kê tra cứu. Để thuận tiện cho việc tìm kiếm những đổi tượng cần thiết, có thể kèm theo bảng tra cứu địa danh. e) Hệ thống kí hiệu và chú giải Các kí hiệu của Atlas giải thích thể hiện các yếu tố thuộc nền chính, phụ và các yếu tố văn hóa xã hội chung nhất, đặc trung nhất được đưa vảo trang kí hiệu chung. Những ký hiệu chú giải cụ thể cho từng chuyên đề được đưa vào chú giải của từng trang bản đồ. 62

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Các kí hiệu trong bản chú giải phải có sự phù hợp chặt chẽ với các trang bản đồ trong Atlas. Ký hiệu bản đồ thế hiện các yếu tố chuyên môn thiết kế trình bày theo yêu cầu của nội dung từng bản đồ cụ thể. Bản chú giải phải rõ ràng, dễ hiểu, những lời giải thích phải ngắn gọn và chuẩn xác. Trang kí hiệu cần được sắp xếp theo thứ tự các yếu tố: dân cư, giao thông, địa giới, thủy hệ, địa hình, các kí hiệu khác. f)Yêu cầu đối vói Atlas Quốc chí (dạng in) trong các phần mềm GIS Thực hiện xây dựng bản thảo Atlas quốc chí là phần quan trọng nhất và phức tạp khó khăn nhất của đề tài. Đây cũng là nội dung vừa mang tính nghiên cứu khoa học vừa mang tính công nghệ, kỹ thuật liên quan đến các thiết bị máy tính và các phần mềm thiết kế đồ họa. về tính nghiên cứu: phải tiến hành các nghiên cứu cần thiết về: Xác định các loại hình dữ liệu tham khảo và hỗ trợ, các dữ liệu hình ảnh và khuôn dạng của dữ liệu; Xác định nội dung, các đối tượng không gian cụ thể, các chỉ tiêu có tính đặc trưng, tính “CHÍ” để đưa vào bản đồ, đồng thời nghiên cứu ứng dụng các phưong pháp thề hiện của từng bản đồ và trang bản đồ sao cho phản ánh được tốt nhất nội dung. về mặt công nghệ: cần lựa chọn phần mềm và công nghệ xây dựng CSDL và bản đồ, phần mềm và công nghệ chuyền đổi khuôn dạng bản đồ, bảo mật dữ liệu; Xác định các quy trình xây dựng Atlas, quy trình thành lập bản đồ; Thực hiện các công đoạn kỹ thuật để hoàn thành các sản phẩm của đề tài. 5. Cách tiếp cận 5.1. Tiếp cận không gian và lãnh thổ (Space and territory Approach) 63

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Quá trình thiết kế và xây dựng Atlas địa chí Quốc gia đòi hỏi việc thể hiện nội dung các trang bản đồ theo các chuyên đề thuộc Quốc chí cho lãnh thổ Việt Nam theo các mức tỷ lệ đã được xác định. Các trang bản đồ tùy tỷ lệ mà có thể thể hiện ở dạng đảo hoặc trọn vẹn toàn bộ không gian phần đất liền và một phần không gian trên biển như hình 1. Ngoài ra, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên của lãnh thố, dẫn đến sự khác biệt về đặc trưng kinh tế - xã hội. Trong xây dựng Atlas cần quán triệt quan điểm lãnh thổ khi tiến hành tổng quát hóa các đối tượng nội dung bản đồ cho phù hợp với đặc điếm địa phương và làm rõ được những đặc trưng địa lý của lãnh thổ. 5.2. Tiếp cận tổng hợp (Aggregate Approach) Tiếp cận tống hợp phải thể hiện sự bao quát trong việc lựa chọn nội dung các bản đồ và các đặc điểm của đối tượng được mô tả để phản ánh được tổng thể cũng như các nét riêng biệt thông qua nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau. Trong các chương, mục cần có các bản đồ giới thiệu chung, tống quan các đặc điểm của đối tượng rồi mới đến các yếu tố thành phần. Các yếu tố, các thành phần này có mối quan hệ qua lại chặt chè với nhau. Bản đồ là mô hình thu nhỏ thế giới thực, thế hiện mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội, do vậy khi xây dựng atlas phải được xây dựng trên quan điểm hệ thống và tổng hợp. Quan điểm này được thể hiện ở sự xác định cấu trúc hệ thống bản dồ, ở sự lựa chọn các chủ đề và nội dung của mỗi bản đồ, ở sự lựa chọn các chỉ số, chỉ tiêu biểu hiện, ở phương pháp thành lập và sử dụng bản đồ. 5.3. Tiếp cận hệ thống (Systematic Approach) Atlas địa chí Quốc gia là là dạng atlas tổng hợp, trong đó bao gồm một hệ thống các bản đồ, thuyết minh và hình ảnh phản ánh toàn diện, đồng bộ và thống nhất các nội dung mang tính không gian của Quốc chí được xây dựng theo một đề cương chung như 64

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam một tác phẩm hoàn chỉnh. Atlas nói chung và Atlas địa chí quốc gia nói riêng không phải là một tổng số giản đơn các bản đồ địa lý khác nhau, không phải là một sự hợp nhất máy móc chúng lại mà chứa đựng trong nó một hệ thống bản đồ có quan hệ hữu cơ với nhau và bổ sung cho nhau, một hệ thống được qui định bởi mục đích và đặc điểm của địa chí quốc gia. Vì thế, quan điếm hệ thống yêu cầu khi thiết kế cấu trúc nội dung của Atlas phải xem xét các đối tượng, hiện tượng, chỉ tiêu được bản đồ hóa một cách toàn diện về nhiều mặt, nhiều mối quan hệ trong hệ thống các Tập của Quốc chí. Các bản đồ cần được trình bày theo trật tự cùa hệ thống nghiên cứu địa lý từ các đối tượng tự nhiên, cảnh quan tự nhiên đến các đối tượng nhân văn, và kinh tế xã hội. 5.4. Tiếp cận liên ngành (Interdisciplinary Approach) Atlas quốc chí là một Altas liên quan đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường,.... Nó kết hợp giữa khoa học bản đồ với khoa học về tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội và khoa học quản lý với công nghệ địa không gian và công nghệ tin học. Khi xây dựng atlas cần liên kết khoa học tự nhiên, công nghệ với khoa học kinh tế, xã hội và nhân văn. Đây là cách tiếp cận cơ bản khi xây dựng cấu trúc, nội dung và hình thức của bộ Atlas quốc chí, xây dựng cơ sở toán học và hệ thống bản đồ nền cho Atlas. 5.5. Tiếp cận địa chí (Gazetteer Approach) Với tính chất của một Atlas địa lý tổng hợp, Atlas quốc chí đảm bảo một cách rõ ràng các đặc trưng của Chí như tính tư liệu, tính địa vực, tính tồng hợp, tính ứng dụng. Atlas Quốc chí thể hiện thành tựu nghiên cứu khoa học của các chuyên ngành, các lĩnh vực nhưng không phải là một Atlas mang tư duy hàn lâm. Nó phải đảm bảo được những đặc trưng khác của thể loại Địa chí (theo quy chuẩn biên soạn Quốc chí). 5.6. Tiếp cận công nghệ (Technology Approach) 65

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Xây dựng Atlas là sự kết hợp giữa các chuyên ngành và công nghệ Địa tin học (Geomatic - Bản đồ Viễn thám và GIS) đề thiết kế và thành lập các bản đồ. Các công nghệ sử dụng đảm bảo sự thành công của Atlas. Tiếp cận công nghệ là cách lựa chọn các công nghệ sử dụng để đạt kết quả tốt nhất. Phương pháp biên soạn, nội dung và hình thức thể hiện Atlas Quốc chí phải dựa trên những quan điểm và thành tựu khoa học và công nghệ mới nhất của Địa tin học. Hiện nay đế thành lập bản đồ và Atlas nói chung cần sử dụng một hệ thống các công nghệ khác nhau. (a)Các công nghệ thu nhận thông tin nhanh phục vụ cập nhật thông tin không gian. Đó là công nghệ GPS và Viễn thám. Có thể sử dụng ảnh vệ tinh SPOT đe xây dựng bản đồ ảnh Việt Nam nhìn từ vũ trụ và kiểm kê, cập nhật các đối tượng mới xuất hiện để đảm bảo tính hiện thời của bản đồ và nguyên tắc không bỏ sót các đối tượng. (b)Các công nghệ quản lý CSDL để xây dựng cơ sở dữ liệu không gian, thuộc tính và để tổ chức và quản trị CSDL địa lý không gian và thuộc tính phải sử dụng công nghệ GIS (Geographical Information System). (c)Công nghệ thành lập bản đồ số để biên tập thể hiện các lớp thông tin bản đồ và hoàn thiện trang bản đồ tác giả. Đây là một hệ thống các thiết bị và phần mềm nhằm mục đích để vẽ, biên tập, xử lý, hiển thị và lưu trữ các bản đồ phục vụ in ấn và sử dụng các bản đồ dạng số, dạng sản phẩm phải gắn với máy tính điện tử. (d)Đối với Atlas dạng in ấn cần sử dụng các công nghệ biên tập Atlas sang dạng chế bản in hiện đại bằng các phần mềm Graphic đế tách màu bố trí trang in, chế phim. Việc trình bày các trang bản đồ phục vụ chế in cần được thực hiện trên phần mềm chuyên nghiệp như Adobe Illustrator... 66

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam (e), Đối với Atlas điện tử được thành lập để quản lý, khai thác và sử dụng trên mạng, có kết nối với một cơ sở dữ liệu dạng PDF với các thông tin tọa độ của đối tượng và có thể truy vấn và tham chiếu đến các đối tượng trên bản đồ theo yêu cầu, cần các công nghệ thiết kế Web bao gồm các phần mềm thiết kế các trang Web để tạo giao diện và hệ thống công cụ liên kết các nội dung bản đồ. Để thực hiện các nhóm công việc này cần sử dụng một sổ phần mềm xây dựng Website như PhP, Java,... (g), Để đưa Atlas lên mạng cần các công nghệ cung cấp các giải pháp tra cứu và phân phối dữ liệu bản đồ trên mạng diện rộng (Internet/ Intranet). Đây là các phần mềm phục vụ đưa bản đồ lên mạng tại các máy chủ (software mapserver), đồng thời có thề dùng cho bản đồ trên đĩa CD. (h)Ngoài ra khi thiết kế bản đồ điện tử cần ứng dụng các ngôn ngữ lập trình đề viết thêm các modun cho bản đồ mạng. 6. Phương pháp nghiên cứu Để xây dựng Atlas Quốc chí, cần sử dụng những phương pháp sau: 6.1. Phương pháp thừa kế Xây dựng Atlas quốc chí cần một lượng thông tin lớn. Đổ đảm bảo được hiệu quả và đạt mục đích đặt ra của atlas cần thu thập thừa kế các thông tin tài liệu, dữ liệu, bản đồ đã có tại các cơ quan ban ngành Trung ương và địa phương; Thừa kế tất cả các tài liệu của 26 nhiệm vụ thành phần hay toàn bộ CSDL của Quốc chí. Các tài liệu phải cung cấp được đầy đủ các đặc điểm số lượng, chất lượng của đối tượng và sự phân bố không gian, biến động thời gian của đối tượng... Giá trị của atlas, bản đồ - tính khoa học, hoàn chỉnh, hiện đại, sự phù hợp địa lý - phụ thuộc nhiều vào nguồn tài liệu. 6.2. Phương pháp thống kê 67

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Các tài liệu về điều kiện tự nhiên và KTXH, là những thông tin khái quát ban đầu về khu vực nghiên cứu. Các bản đồ, các ảnh vệ tinh thu thập được, các kết quả khảo sát thực địa... cần thu thập và được thống kê, hệ thống hóa theo đề cương, theo nhóm chỉ tiêu nội dung phản ánh đặc điếm tự nhiên, KT - XH trên các nhóm bản đồ đã được thiết kế, phân loại. Nguồn dữ liệu được thống kê bao gồm: - Thống kê các dữ liệu về đặc điểm điều kiện tự nhiên, KTXH; - Thống kê các dữ liệu bản đồ theo các nhóm: tư liệu bản đồ chính phục vụ xây dựng nền cơ sở địa lý (bao gồm: bản đồ hành chính Việt Nam tỷ lệ 1:1000.000 và các mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:1000.000). Tư liệu bản đồ chuyên đề thống kê theo nhóm và theo mục đích sử dụng: tài liệu chính dùng để thành lập bản đồ, tài liệu tham khảo nhằm hỗ trợ, bổ sung trong quá trình thành lập bản đồ. - Thống kê hệ thống hóa các số liệu theo các nhóm chỉ tiêu nội dung từng bản đồ và nhóm bản đồ theo thời gian và theo không gian. Các bước tiến hành: - Thu thập tài liệu, số liệu - Phân tích, đánh giá, phân loại tài liệu, khảo sát số liệu thống kê - Thiết kế bản đồ - Tính toán các sổ liệu thống kê - Chuyển đổi thành kí hiệu, - Lập bản đồ gốc, kiểm tra, chỉnh sửa, biên tập, chế in và in bản đồ. 6.3. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Để thành lập các bản đồ tự nhiên trong Atlas quốc chí VN đòi hỏi phải khảo sát nghiên cứu ngoài thực địa về sự phân bố, diễn 68

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam biến, mối quan hệ, sự biến động, ... của các yếu tố tự nhiên, kiểm tra, đối chiếu sự thay đối thực địa so với bản đồ tài liệu và kết họp ảnh viễn thám phục vụ cho việc hiện chỉnh, thành lập bản đồ. Khi đo vẽ bổ sung đối tượng ngoài thực địa lên bản đồ có thế sử dụng thiết bị GPS cầm tay (sai số vị trí 10 -20 m). 6.4. Phương pháp thể hiện nội dung bản đồ Là phương pháp chủ đạo được sử dụng trong thiết kế, xây dựng, trình bày đưa ra hình ảnh trực quan và chính xác về sự phân bố không gian và thời gian của các dối tượng, hiện tượng địa lý cũng như mối quan hệ không gian cùa chúng trên các bản đồ trong Atlas. Phản ánh được bản chất nội dung, trật tự không gian của đối tượng, hiện tượng, đồng thởi cũng phản ánh được cấu trúc và các mối quan hệ, động thái và tính tương hỗ của các đối tượng, hiện tượng. Sử dụng các phương pháp thế hiện nội dung để thành lập và biên tập các bản đồ của Atlas ở tỷ lệ phù họp, phản ánh được đặc điểm và sự phân bổ của các yếu tố cơ bản, đặc trưng về tự nhiên và xã hội của Việt Nam. Bản đồ với chức năng mô hình hóa không gian lãnh thổ, là công cụ nghiên cứu, lưu trữ thông tin và những kết quả nghiên cứu, do đó trong quá trình xây dựng các bản đồ, các nhà xây dựng bản đồ có nhiệm vụ xác định mối quan hệ không gian của các đối tượng để đưa lên bản đồ. Ở nước ta nhiệm vụ này rất lớn và rất khó khăn, vì các tài liệu văn bản, các số liệu thống kê thường được xây dựng chưa gắn với phân bố không gian địa lý và cũng thay đổi nhanh chóng, do vậy phải xác định vị trí, ranh giới của chúng trên bản đồ. Tùy thuộc vào đặc điểm đối tượng, thông tin tài liệu, yêu cầu của bản đồ, có thể áp dụng các phương pháp thể hiện nội dung bản đồ khác nhau. 69

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam PHỤ LỤC BẢNG BIỂU VỀ QUY CÁCH BIÊN SOẠN BỘ ĐỊA CHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM PHẦN I. HƯỚNG DẪN BIÊN SOẠN MỤC 1. TỔNG QUAN VỀ KHUNG CẤU TRÚC MỤC 1.1. Khung cấu trúc Mục Khung cấu trúc Mục được hiểu là đề cương, khung sườn, những loại thông tin cần thiết phải có trong mỗi Mục, có vai trò định hướng trong tổ chức biên soạn nội dung Mục cụ thể. Mỗi Khung cấu trúc Mục được áp dụng đối với từng loại mục cụ thể thuộc các Tập khác nhau trong Bộ Quốc chí. Cấu trúc Mục cần tuân thủ yêu cầu nội dung, cách tiếp cận của Chương – Quyển – Tập. 1.2. Khung cấu trúc Mục chung Khung cấu trúc Mục chung do Nhiệm vụ Quốc chí ban hành để áp dụng cho tất cả các Tập trong bộ Quốc chí. Trong Hướng dẫn này, có 10 Khung cấu trúc Mục chung cho các nhóm Mục về Chính sách, Tổ chức, Sự kiện, Hoạt động, Chức nghiệp, Nghề nghiệp, Sự vật, Địa danh và Tác phẩm, Nhân vật. Số lượng Khung cấu trúc Mục chung kể trên chưa bao quát toàn bộ các nhóm Mục trong thực tế. Mỗi Khung cấu trúc Mục chung kể trên chỉ phản ánh những đặc điểm bao quát nhất của các Mục trong một nhóm Mục, chưa thể 70

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam hiện tính chất đặc thù của các Mục cùng nhóm ở tất cả các Tập thuộc Bộ Quốc chí. 1.3. Khung cấu trúc Mục đặc thù Khung cấu trúc Mục đặc thù do từng Tập tự tổ chức xây dựng để áp dụng riêng cho Tập của mình. Tuỳ theo yêu cầu thực tiễn, để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình biên soạn Mục, mỗi Tập có thể tự tổ chức xây dựng các Khung cấu trúc Mục đặc thù cho các nhóm Mục của Tập. Khi xây dựng Khung cấu trúc Mục đặc thù của Tập, cần tuân thủ quy định trong các văn bản: Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam, Phàm lệ của Tập, Thuyết minh và Hợp đồng của Tập, đồng thời tham khảo các Khung cấu trúc Mục trong Hướng dẫn này. Việc xây dựng Khung cấu trúc Mục đặc thù của mỗi Tập do Chủ nhiệm Nhiệm vụ Thành phần tổ chức thực hiện và được thông qua Ban Thư ký Nhiệm vụ Quốc chí trước khi áp dụng để biên soạn. 2. NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG CẤU TRÚC MỤC 2.1. Nguyên tắc cấu tạo các hợp phần của một Khung cấu trúc Mục - Quan niệm về nhóm Mục thuộc phạm vi mô tả của Khung cấu trúc Mục. - Các hợp phần của cấu trúc gồm: Tên Mục, Nội dung Mục, Thông tin về việc biên soạn và sử dụng Mục. Trong đó Nội dung Mục là hợp phần cốt lõi. 2.2. Nguyên tắc áp dụng Khung cấu trúc Mục chung để biên soạn Mục 71

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Khi biên soạn Mục cụ thể, cần tuân thủ quy định chung của các Mục thể hiện qua từng Khung cấu trúc, nhưng cũng cần tôn trọng đặc thù của từng Mục cụ thể trong nhóm Mục ấy. Khi áp dụng mỗi Khung cấu trúc Mục chung để biên soạn từng Mục cụ thể, người biên soạn có thể thêm, bớt, đan xen, hoặc điều chỉnh trật tự các bộ phận ở hợp phần Nội dung Mục cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Mục. 3. CẤU TRÚC MỘT SỐ LOẠI MỤC 3.1. Cấu trúc Mục Chính sách (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) - Tên Mục: nêu tên chính sách. Lưu ý: không nêu tên văn bản chính sách, không tóm tắt nội dung văn bản chính sách, cần chắt lọc các văn bản chính sách và gọi tên chính sách. - Thời gian: cần xuất phát từ thời điểm đương hiện, nói rõ sự tồn tại, biểu hiện của chính sách. - Phạm vi: cần nói rõ các phạm vi mà chính sách hoạt động/tác động: a) lĩnh vực hoạt động (chẳng hạn, chính sách trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá...); b) các văn bản có nêu chính sách này (ví dụ, về “Chính sách xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”, có thể lấy các văn bản: Đề cương văn hoá Việt Nam 1943, Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, 1998; Nghị quyết Trung ương 9 Khoá XI; Chiến lược phát triển văn hoá từ 2010-2020 và Chiến lược phát triền văn hoá từ 2021-2030) ; c) không gian địa lý (vùng, miền, địa phương. Ví dụ, có chính sách áp dụng cho toàn quốc, ví dụ, chính sách “Phổ cập giáo dục tiếu học”; có chính sách chỉ áp dụng cho nông thôn (ví dụ, chính sách “xây dựng nông thôn mới”), có chính sách chỉ áp dụng cho vùng dân tộc thiểu số. Khi trình bày phạm vi hoạt động của chính sách, đặc biệt 72

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam lưu ý phạm vi không gian tiêu biểu và đưong hiện mà chính sách hoạt động. - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng: Bản thân chính sách không biến đổi, phát triển nhưng nó có bối cảnh phát sinh. Việc nêu bối cảnh phát sinh chính là cung cấp tối đa các thông tin về nhu cầu xã hội đòi hỏi sự ra đời của chính sách; các thông tin về quá trình ra đời chính sách. Đồng thời, nêu rõ các nội dung của chính sách, mục tiêu mà chính sách hướng tới, tác động của chính sách đến các đối tượng mà chính sách kỳ vọng; ngoài ra, còn có thế cung cấp các bất cập của chính sách nếu như các bất cập đó đã được chỉ ra. Tuyệt đối không bàn luận và thể hiện thái độ đánh giá chủ quan. - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến của người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính vãn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của ngưòí khác đã được xã hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về chính sách văn hoá, người viết Mục không khẳng định văn hoá có vai trò quan trọng như thế nào đổi với sự phát triển mà chỉ cần dẫn câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “văn hoá soi đường cho quốc dân đi”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. 73

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục). 3.2. Cấu trúc Mục Tổ chức (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuân biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) - Tên Mục: ghi rõ tên cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc lĩnh vực mô tà cùa Tập. Tên đơn vị, tổ chức, cơ quan...của lĩnh vực Tập đã được phê duyệt trong Thuyết minh. - Thời gian: Nêu rõ sự hiện tồn của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Với các cơ quan, đơn vị, tổ chức không còn tồn tại, khồng mô tả thành một Mục riêng mà đưa vào phần lịch sử tham chiếu của Mục. (Ví dụ, Bộ Văn hoá, Thông tin - nay đã tách và nhập một số đơn vị khác thành Bộ Văn hoá, Thế thao và Du lịch và Bộ Thông tin Truyền thông). - Không gian: Nêu rõ phạm vi không gian tồn tại của cơ quan, đơn vị, tồ chức (trụ sở, phạm vi hoạt động, ngành dọc...); nêu rõ phạm vi văn bản quy định sự tồn tại của cơ quan, đơn vị, tổ chức ấy. - Dấu hiệu nhận biết và đậc trưng nổi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Nêu rõ chức năng của cơ quan, đơn vị, tổ chức (đã được quy định trong các văn bản thành lập), hoạt động nổi bật, thành tựu, vai trò và tác động xã hội của cơ quan, đơn vị, tố chức. Đặc biệt, nêu vai trò của các nhân vật có ảnh hưởng quyết định đến cơ quan, tổ chức, đơn vị. - Sự phát sinh, biến đồi, phát triển của đối tượng Cung cấp các thông tin tham chiếu về sự ra đời của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Đối tượng mô tả của Mục được mô tả trong thời điếm đương hiện, do đó, cần cung cấp các thông tin về các tổ chức tiền 74

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam thân, bối cảnh ra đời các tổ chức tiền thân đó, bối cảnh sát nhập hoặc chia tách các tổ chức tiền thân, hiện trạng của sự tách/nhập, các đối tượng khác có liên quan với đối tượng đang mô tả. Ở phần này, cần lưu ý đến các số liệu, hình ảnh. Các số liệu cần viết một cách sinh động, tránh viết thành một bản báo cáo hành chính. - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến cũa người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, đế tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, người viết Mục không khẳng định văn hoá có vai trò quan trọng như the nào của tồ chức này đối với hệ thống chính trị mà chỉ cần dẫn câu khẳng định: “Đoàn là cánh tay phải của Đảng”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định. 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điển vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục). 3.3. Cấu trúc Mục Sự kiện (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Sự kiện là một hoạt động có chủ đích diễn ra tại một thời điểm nhất định, tại một địa điếm nhất định, tập trung ý tưởng và nguồn 75

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam lực để truyền đạt một thông điệp xác định nào đó, thực hiện một công việc xác định nào đó, tạo sự chú ý và thu hút sự quan tâm của các đối tượng tham gia. Mục về “Sự kiện” trong Quốc chí được hiểu là Mục mô tà những sự việc diễn ra tại một thời điểm và không gian xác định. Đối tượng lựa chọn mô tả của lọa mục này là các sự kiện diễn ra ở thời điểm hiện tại hoặc sự kiện đã diễn ra nhưng những thông điệp, nội dung của sự kiện đó vẫn còn ảnh hưởng, còn tạo được sự chú và thu hút quan tâm ở thời điểm hiện tại. Cần phân biệt loại mục “Hoạt động” với loại mục “Sự kiện”. Đối tượng mô tả của mục “Sự kiện” là việc chỉ xảy ra một lần (nhiều “sự kiện” có liên quan có thể hình thành một “hoạt động”. Ví dụ “Đại lễ Phật đản Vesak” là một hoạt động thường xuyên, diễn ra trên thế giới nhưng sự kiện “Đại lễ Phật đản Liên hiệp Quốc Vesak” năm 2019 diễn ra tại Hà Nam là một sự kiện vì chỉ diễn ra một lần. Khung cấu trúc Mục “Sự kiện” cần tuân thủ Khung cấu trúc Mục được xây dựng trong Bộ Quy chuẩn Biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam. Cụ thể như sau: - Tên Mục: ghi rõ tên chính thức của sự kiện. Bên cạnh tên chính thức, có thể chú thích các tên gọi khác. - Thời gian: nêu rõ mốc thời gian diễn ra sự kiện. Ví dụ, “Đại lễ Phật đản Liên hiệp Quốc Vesak” năm 2019 diễn ra trong ba ngày: 12, 13, 14 tháng 5 năm 2019. Mục cũng cần nóì rõ tại sao đại lễ này lại được tổ chức vào thời gian này (liên quan đến nguồn gốc hình thành sự kiện là ngày đản sinh của Đức Phật). - Không gian: nêu các phạm vi không gian diễn ra sự kiện. Ví dụ, “Đại lễ Phật đản Liên hiệp Quốc Vesak” năm 2019 diễn ra tại Trung tâm Văn hoá Phật giáo Tam Chúc (xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam). 76

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Nêu các không gian liên quan đến việc tổ chức sự kiện (các trụ sở của Liên hiệp quốc trên thế giới, Hà Nội, Ninh Bình và các địa phương khác). - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nổi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Nêu điểm nồi bật của sự kiện. Ví dụ, “Đại lễ Phật đản Liên hiệp Quốc Vesak” năm 2019 có thông điệp là “Phật giáo chữa lành các vết thương thời đại”. - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng Cần nêu nguồn gốc hình thành, phát sinh sự kiện. Chẳng hạn, với “Đại lễ Phật đàn Liên hiệp Quốc Vesak 2019”, cần nêu rõ “Vesak” là ngày đản sinh của Đức Phật và cũng là ngày Đức Phật thành đạo và nhập Niết bàn. Đây là 3 sự kiện lớn đối với Phật giáo thế giới. Vì thế, đại lễ Vesak được tổ chức là đề kỳ niệm 3 dấu mốc quan trọng này. Mục cũng cần nêu dấu mốc lịch sử của năm 1999, 34 quốc gia theo Phật giáo đã đề nghị lên Đại hội đồng Liên hiệp quốc công nhận Đại lễ Vesak là lễ hội văn hoá của Liên hiệp quốc. Sự kiện này sẽ được tổ chức tại trụ sở chính và các cơ sở đại diện của Liên hiệp quốc trên toàn thế giới. Việt Nam đã đăng cai các lần tổ chức năm 2008 (tổ chức tại Hà Nội) và năm 2014 (tồ chức tại Bái Đính, Ninh Bình). - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến của người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xà hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về chính sách văn hoá, người viết Mục không khẳng định văn hoá có vai trò quan trọng như thế nào 77

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam đối với sự phát triền mà chỉ cần dẫn câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “văn hoá soi đường cho quốc dân đi”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 3.4. Cấu trúc Mục Hoạt động (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Quan niệm: Mục về “Hoạt động” trong Quốc chí được hiểu là Mục mô tả những sự việc diễn ra có tính lặp lại trong đời sống xã hội. cần phân biệt loại Mục “Hoạt động” với loại Mục “Sự kiện”. Trong khi sự kiện là việc xảy ra một lần (ví dụ, Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc 2019 diễn ra tại Hà Nam, Việt Nam) thì hoạt động là sự kiện diễn ra thường xuyên mang tính chu kỳ thời gian (ví dụ “Đại hội Đảng toàn quốc” là một hoạt động vì diễn ra theo đinh kỳ ở Việt Nam (5 năm 1 lần) hoặc Đại lễ Phật đản là sự kiện diễn ra hàng năm trên thế giới. - Tên Mục: ghi rõ tên hoạt động. Tên hoạt động này đã được xác định trong Thuyết minh của Tập. - Thời gian: nêu rõ thời gian diễn ra hoạt động. Thời gian ở đây có các phạm vi mô tả như sau: a) Thời gian mà hoạt động diễn ra (các hoạt động chính), ví dụ, Đại lễ Phật đản 78

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam (Vesak) trên toàn thế giới thường diễn ra trong ba ngày; b) Tính định kỳ thời gian (ví dụ, Đại lễ Phật đản (Vesak) diễn ra hàng năm); c) Thời gian ảnh hưởng (trước, trong và sau Đại lễ Phật đản (Vesak), do có các hoạt động chuấn bị, hưởng ứng Đại lễ). - Không gian: Nêu rõ không gian mà hoạt động diễn ra. Ví dụ, với Đại lễ Vesak, hoạt động này diễn ra ở các nước theo Phật giáo trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, hoạt động hưởng ứng sự kiện này diễn ra ở nhiều nơi, cần cung cấp thông tin một cách toàn diện, khách quan về các địa điểm diễn ra hoạt động này. - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nổi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Cần mô tả dấu hiệu đặc biệt của hoạt động. Ví dụ, với hoạt động Đại lễ Vesak, dấu hiệu nhận biết là sự trang trí ở chùa, các hoạt động cùa nhà sự và tín đồ Phật giáo. Chắng hạn, Đại lễ Phật đản ở Huế với việc có 7 bông hoa sen trên dòng sông Hương; các khung hoa sen lụa trên đường phố, trên cầu Tràng Tiền, trong các ngôi chùa và trong nhà dân. Mục cần mô tả sự tác động của hoạt động đối với xã hội, ví dụ, hoạt động Đại lễ Phật đản đã tác động như thế nào đến không gian xã hội của nơi có tồ chức hoạt động: ví dụ, Đại lễ Phật đản ở Huế tác động tới cảnh quan, lối úng xử, niềm tin của phật tử, người dân không theo Phật giáo và du khách tới Huế. - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng Cần cung cấp các thông tin về sự hình thành và phát triển của loại Hoạt động đang được mô tả. Ví dụ, như đã nêu ở ví dụ về Khung cấu trúc Mục “Sự kiện”, cần nêu nguồn gốc hình thành, phát sinh của Đại lễ Phật đản. Đại lễ này được tồ chức vào dịp có 3 ngày lễ lớn của Phật giáo gồm: ngày đản sinh của Đức Phật và cũng là ngày Đức Phật thành đạo và nhập Niết bàn. Đây là 3 sự kiện lớn 79

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam đối với Phật giáo thế giới. Vi thế, đại lễ Phật đản được tồ chức hàng năm là để kỷ niệm 3 dấu mốc quan trọng này. Phần viết này cũng cần cung cấp thông tin về Đại lễ diễn ra ở các Quốc gia, sự chuyển biến thành lễ hội tôn giáo của Liên hiệp quốc (1999) và việc tổ chức hoạt động này thành các sự kiện như những điểm nhấn trên toàn cầu. - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến cùa người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về vai trò của Phật giáo đối với sự phát triển đất nước, người viết Mục không khẳng định văn hoá có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự phát triển mà chỉ cần dẫn nhận định: “Phật giáo đồng hành vói dân tộc”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 3.5. Cấu trúc Mục Chức nghiệp (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Chức nghiệp là loại Mục mô tả về công việc ở một vị trị việc làm cụ thể, bao gồm vai trò và nhiệm vụ, các loại hình công việc, 80

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam công cụ và điều kiện làm việc ở vị trí đó và mô tả về nhân sự làm việc tại vị trị đó về năng lực nghề nghiệp cần có, đặc trưng thực hành nghề nghiệp, chính sách của tổ chức đổi với nhân sự. Chức nghiệp với tư cách là đối tượng mô tả của Mục trong Quốc chí có mối quan hệ mật thiết với loại Mục về nhân vật, về nghề nghiệp. Mục về Chức nghiệp được xác định trong mối quan hệ với tổ chức (cụ thể là chức năng, nhiệm vụ của tổ chức...). Mục về nghề nghiệp được xác định trong bối cảnh của hoạt động nghề nghiệp (cụ thể là đối tượng hành nghề, công cụ hành nghề, quy trình hành nghề ...). Mục về nhân vật được xác định trong hình ảnh của con người cụ thể, mang đặc trưng và đại diện cho một lựa chọn của tổ chức hay cộng đồng thông qua cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật đó. Với quan điểm trên, Mục về chức nghiệp được triển khai theo các nội dung sau: - Tên Mục: ghi rõ tên chức nghiệp, ví dụ, Thư viện viên. - Thời gian: để làm rõ tính đương hiện, cần mô tả chức nghiệp trong hệ thống cơ quan, tổ chức, đơn vị mà chức nghiệp đó hoạt động. Chẳng hạn, với vị trí thư viện viên, cần mô tả hoạt động của chức nghiệp này trong hệ thống thông tin, thư viện đương hiện. - Không gian: phạm vi khồng gian của chức nghiệp là cơ quan, đơn vị, môi trường công việc mà chức nghiệp đó hoạt động. Mục cần có sự bao quát các phạm vi không gian mà một chức nghiệp có thể hoạt động. Ví dụ, thư viện viên có thể làm việc ở Thư viện Trung ương, Thư viện trường Đại học, Thư viện tư nhân...Mỗi một không gian, chức nghiệp này có những yêu cầu riêng trong việc thế hiện chức trách của mình. - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nổi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện 81

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Dấu hiệu nhận biết về chức nghiệp thể hiện ở người thực hiện chức nghiệp đó, trang phục, cử chỉ, công việc đặc trưng, động tác quen thuộc, vai trò của chức nghiệp trong hệ thống, tương tác của chức nghiệp đối với hệ thống và đối với nhũng người chịu tác động của chức nghiệp. Ví dụ, thư viện viên có đồng phục không, công việc đặc trưng là gì (phân loại sách, giới thiệu sách, cho mượn sách, vào sổ...) có vai trò trong thư viện thể hiện ở công tác thông tin, thư viện. Thư viện viên tuân thủ chỉ đạo của thủ trường cơ quan, có mối quan hệ với bạn đọc, có mối quan hệ với việc xây dựng hệ thống thư viện... - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng Cung cấp thông tin để hiêu rõ sự xuất hiện của chức nghiệp trong hệ thống nói riêng, trong đời sống xã hội nói chung. Chắng hạn trước đây, khi chưa có hệ thống thư viện, chưa có thư viện viên thì đã có người làm công tác thống kê sách, cho mượn sách chưa. Những người đó được gọi là gì, họ hoạt động trong môi trường nào. Từ bao giờ có hệ thống thư viện ở Việt Nam? Hệ thống thư viện và chức nghiệp thư viện viên đã thay đổi qua các thòi kỳ, khác biệt ở các loại thư viện như thế nào? Việc mô tả này cần lồng vào các câu chuyện để mạch chuyện được sinh động. - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến của người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về chính sách văn hoá, người viết Mục không khẳng định văn hoá có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự phát triền mà chỉ cần dẫn câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “vãn hoá soi đường cho quốc dân đi”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục 82

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bẳt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sể được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 3.6. Cấu trúc Mục chung Nghề nghiệp (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Nghề nghiệp là công việc được xã hội chấp nhận, tạo nên thu nhập cho bản thân và đem lại giá trị cho cộng đồng. Có thể kể đến nhiều nghề nghiệp khác nhau như bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, thợ mộc... - Tên Mục: ghi rõ nghề nghiệp của từng lĩnh vực (Tập) đã được phê duyệt. - Thời gian: Mô tả nghề nghiệp tại thời điểm hiện tại. Chẳng hạn, nghề xe ôm được mô tả tại thời điểm hiện tại, về cơ bản là xe ôm công nghệ. Vì thế, mục chí “Xe ôm” phải mô tả nghề xe ôm này từ các ứng dụng công nghệ của người chạy xe và khách hàng chứ không phải là các hình thức xe máy chở khách như trước đây. - Không gian: Nghề nghiệp được mô tả trong không gian mà nghề nghiệp đó hoạt động. Chẳng hạn, không gian mà nghề xe ôm hoạt động chủ yếu là thành phố, tuy nhiên, các hình thức xe ôm khác có ở nông thôn, ở các khu du lịch; mục tiêu có thể là khách đi đường, có thể 83

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam là khách du lịch, có khi là chở hàng như các phương tiện chở hàng bằng xe máy khác. - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nổi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Dấu hiện nhận biết rò nhất về nghề nghiệp là trang phục (ví dụ, nghề y, nghề dược với áo blouse; trang phục của phi công lái máy bay), các công cụ/dụng cụ mà nghề đó sử dụng (ví dụ, xe máy đối với nghề xe ôm, ống nghe của bác sĩ, máy bay đối với phi công, bút và bảng đối với giáo viên...); các đối tượng tương tác của nghề (ví dụ, bệnh nhân đối với bác sĩ, khách đi xe với người lái xe ôm, học sinh với nghề giáo...); mối quan hệ giữa nghề với sản phẩm và thị trường (ví dụ, giảng viên với sản phấm giáo dục và thị trường giáo dục; nghề phi công với sản phẩm là các chuyến bay và thị trường vận chuyển hành khách đường hàng không...). - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng Mục cần cung cấp thông tin về sự hình thành, các bối cảnh lịch sử-xã hội hình thành nghề; sự thay đối của nghề theo thời gian dẫn đến hiện trạng nghề trong thời điểm hiện tại. Ví dụ, nghề xe ôm xuất hiện từ sau đổi mới, khi mọi người có nhu cầu di chuyển cao, xe máy xuất hiện nhiều; dần dần, nghề này không còn được ưa chuộng do mọi người đều có xe máy, nhu cầu đi lại bang taxi tăng lên... - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến của người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bố sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về nghề giáo, người viết Mục không khẳng định giáo viên có vai trò quan trọng như thế nào đối với xã hội mà chỉ cần dẫn câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích 84

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam mười năm thì phải trồng cây, Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chẳc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 3.7. Cấu trúc Mục chung Sự vật (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Mục về “Sự vật” trong Quốc chí có hàm nghĩa rộng, có thế chỉ các sản phẩm vật thể (ăn, mặc, ở), những biểu hiện thiên nhiên (cây cối, ao hồ, con đường, rừng cây...), ngoài ra, còn là các từ chỉ khái niệm trừu tượng (quan điềm, thói quen...) hay các hiện tượng xã hội (chiến tranh, nghèo đói)... - Tên Mục: ghi rõ tên sự vật như trong thuyết minh đã được phê duyệt. - Thời gian: Mô tả sự vật ở điếm nhìn đương hiện. Chẳng hạn, với trang phục quan họ, cần mô tả áo, khăn, váy, nón, mũ, giày...ở thời điểm hiện nay. - Không gian: 85

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Cần chỉ rõ tính địa vực, không gian tồn tại của sự vật. Chẳng hạn, trang phục quan họ tạỉ các làng quan họ Bắc Ninh, Bắc Giang. Tuy nhiên, lại cần chỉ ra sự lan toả trang phục này ra các không gian khác có hát quan họ. Hoặc với sự vật Hồ Gươm, cần chỉ ra tính địa vực của nó ở trung tâm Hà Nội, sông Hương ở Huế.. .Việc chỉ ra tính địa vực phải gắn liền với tính đương hiện (sự tồn tại hiện nay). - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nồi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Chỉ ra các dấu hiệu đặc trưng: màu sắc (trang phục), kiểu dáng (trang phục), mùi vị (món ăn), biểu hiện (sự vật là hiện tượng thiên nhiên).. .Chẳng hạn, váy tứ thân và áo mớ ba mớ bảy của quan họ có màu sắc và kiểu dáng khác hẳn với áo dài; sông Hương có màu nước và dòng chảy khác hẳn sông Hồng... Ngoài ra, dấu hiệu đặc tiling cần chỉ ra sự tương tác giữa sự vật và chủ thể: liền anh, liền chị với quan họ; người đi lại buôn bán, đánh cá, khai thác cát... trên sông Hồng và người hát nhã nhạc trên dòng sông Hương.. .Những dấu hiệu đặc trưng của sự vật chính là đời sống của sự vật ở thời điểm hiện tại. - Sự phát sinh, biển đổi, phát triển của đối tượng Mục cần cung cấp thông tin để hiểu bối cảnh ra đời, phát triển của sự vật và sự hiện tồn của sự vật. Chẳng hạn, trang phục áo dài, trang phục quan họ xuất hiện từ khi nào, đã qua những lần thay đổi và cách tân gì.. .Sông Hồng bắt nguồn từ đâu, dòng chảy thay đối thế nào, hiện nay đã thay đổi ra sao, tại sao thay đổi, ảnh hưởng của nó tới đời sống con người thế nào... - Việc tham khảo tài liệu, trích dần ý kiến của người khác: 86

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã hội thừa nhận?’ - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đàm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 3.8. Cấu trúc Mục chung Địa danh (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Địa danh là loại Mục phản ánh tên gọi của vùng lãnh thổ, tên sông, tên núi, công trình xây dựng, đơn vị hành chính, tên nơi cư trú,.... được con người đặt ra. Nghiên cứu, mô tả về địa danh là đối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học như lịch sử, địa lý, văn hóa, ngôn ngữ, giao thông vận tải, du lịch ... Một địa danh có thể xuất hiện ở nhiều Tập, việc biên soạn Mục cần dựa trên giới hạn nội dung mà Tập phản ánh để đảm bảo tính đầy đủ và bao quát về thông tin. - Tên Mục: ghi rõ tên địa danh trong Thuyết minh được phê duyệt 87

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam - Thời gian: Mô tả địa danh tại thời điểm đương hiện. - Không gian: Đặt địa danh trong tính địa vực (vùng, tiểu vùng). Chẳng hạn, đèo Cả là con đèo nằm giữa Phú Yên và Khánh Hoà. cần mô tả để thấy được đặc điểm địa lý của con đèo này. Hoặc với Tứ đại đỉnh đèo vùng Tây Bắc (Mã Pí Lèng, Khau Phạ, Ồ Quy Hồ, Pha Đin), cần mô tả để thấy cảnh đẹp đặc sắc của vùng Tây Bắc qua ngôn ngữ mô tả trung tính nhất. - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nối bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Mục cần mô tả dấu hiệu đặc trưng của địa danh thể hiện ở các khía cạnh: - Đặc điểm địa lý: sông Hồng màu nâu đỏ (phù sa), sông Đà màu xanh đen (do độ sâu)... - Đặc điểm lịch sử: ví dụ, địa đạo Củ Chi cỏ đặc điểm lịch sử gắn với căn cứ địa thời chống Mỹ; - Đặc điếm văn hoá: đồi Lim gắn với hội Lim tháng Giêng; hồ Gươm gắn với truyền thuyết trả gươm của Lê Lợi - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đốỉ tượng Cung cấp thông tin về sự hình thành của địa danh. Nếu là địa danh tự nhiên thì nêu nguồn gốc, ví dụ, hồ Gươm trước đây thông với sông Nhị Hà, trở thành hồ từ lúc nào; trong thời gian Pháp xây dựng Hà Nội cuối thế kỷ XIX và nửa đầu XX, hồ Gươm ra sao, hiện nay như thế nào? - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến của người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bồ sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện 88

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về sông Hương, người viết Mục không khẳng định sông Hương có vai trò quan trọng như thế nào đối với con người và văn hoá Huế mà chỉ cần dẫn câu nói của nhà thơ Thu Bồn: “Con sông dùng dằng con sông không chảy; Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 3.9. Cấu trúc Mục Tác phẩm (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Tác phẩm là loại Mục viết về các công trình nghiên cứu, tác phẩm sáng tác có nội dung về lĩnh vực biên soạn của Tập. Tác phẩm được lập Mục phải là tác phẩm tiêu biểu, có ảnh hưởng tới lĩnh vực biên soạn của Tập và được lựa chọn theo các tiêu chí được xác định trong Phàm lệ. Đóng góp quan trọng của các tác giả đối với lĩnh vực biên soạn của Tập nhưng không đủ tiêu chí lập Mục ở phàn Nhân vật thì công trình/sáng tác của họ sẽ được lập Mục ở loại Mục Tác phẩm. - Tên Mục: ghi rõ tên tác phẩm trong thuyết minh đã được phê duyệt. - Thời gian 89

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Nêu các mốc thời gian sau: thời gian xuất bản, thời gian lưu hành. Trong đó, thời gian đương hiện là quan trọng nhất, cần nêu rõ hiện tại tác phẩm đang tồn tại như thế nào (ở thư viện nào), tình trạng văn bản ra sao (bảo quản đến đâu, có nhiều bản không). Sau đó, mới viết về thời gian xuất bản tác phẩm. - Không gian Cần chỉ ra phạm vi ảnh hưởng (khồng gian xã hội) của tác phẩm tại thời điểm đương hiện: nhà trường, xã hội, chính trị, lịch sử, trong nước, ngoài nước. - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nồi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Cần chỉ ra các dấu hiện đặc trưng của tác phẩm: - Tác giả - Nội dung - Đối tượng độc giả - T Tác động xâ hội. Ví dụ, các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp như Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết với tư duy mới về lịch sử và tác động đến xã hội, đến cách viết tiểu thuyết như thế nào. - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng Cần cung cấp thông tin về sự hình thành tác phẩm: sự ấp ủ ý tưởng, sự xuất bản, các lần in, các tác động với dư luận, công chúng ở các thời kỳ. Ví dụ, bài Tình già là cái mổc đối với sự ra đời của Thơ mới như thế nào. - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến của người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính vàn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh giá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã 90

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về tác phẩm “Đề cương văn hoá Việt Nam 1943”, không khẳng định bản đề cương này có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự phát triển văn hoá mà chỉ cần dẫn lời phát biểu của nhà thơ Nguyễn Đình Thi khi đọc được bản Đề cương này về việc nhà thơ như thấy rõ ngọn đuốc soi đường cho mình đi trong đêm tối. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tàì liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phải điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 3.10. Cấu trúc Mục Nhân vật (cụ thể hoá Khung cấu trúc Mục trong Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam) Nhân vật được lập Mục riêng là người đã qua đời tối thiểu 05 năm (tính từ thời điểm lập Mục về nhân vật ấy), có vai trò và ảnh hưởng quan trọng trong lĩnh vực của Tập. Mỗi Tập có thể có tiêu chí riêng để xác định nhân vật lập Mục của Tập đó. Trong trường hợp một nhân vật được lập Mục ở các Tập khác nhau thì tiểu sử, hành trạng của nhân vật được mô tả tại Mục về nhân vật đó ở Tập Lịch sử. - Tên Mục: ghi rõ tên nhân vật trong Thuyết minh được phê duyệt. - Thời gian: 91

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Cần mô tả nhân vật từ góc nhìn đương hiện. Ví dụ, nhân vật Trần Hưng Đạo trong bối cảnh đương hiện là: a) được thờ cúng với tư cách là một anh hùng dân tộc; b) được học với tư cách là một tác gia văn học; c) được thờ cúng với tư cách là một vị thần trong tín ngưỡng Tứ phủ. Hoặc với đại tướng Võ Nguyên Giáp, cần viết về ông ở thời điểm ông đã mất hàng chục năm, nhưng công lao, ảnh hưởng của ông vẫn còn in đậm trong lịch sử, trong cảm xúc của người dân. - Không gian: Mô tả nhân vật trong không gian đương hiện. Ví dụ, với tác gia văn học, chẳng hạn Nam Cao, mô tả ông ở không gian nhà trường, không gian học thuật, không gian văn chương nước nhà, không gian quê hương. - Dấu hiệu nhận biết và đặc trưng nổi bật của đối tượng ở thời điểm đương hiện Cần mô tả dấu hiệu đặc trưng của nhân vật. Ví dụ, với Trần Hưng Đạo là thanh kiếm trận, là nhân vật nổi tiếng của thời đại nhà Trần; với nguyên phi Ỷ Lan chẳng hạn, là người con gái đứng dựa vào gốc cây lan, là người được đồng nhất với cô Tấm, là người điều hành chính sự, là người sám hối xây nhiều ngôi chùa sau khi mất như chùa Dạm, chùa Tư Kính, chùa Sủi... - Sự phát sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng Cần cung cấp thông tin về cuộc đời, hành trạng, đóng góp của nhân vật. - Việc tham khảo tài liệu, trích dẫn ý kiến của người khác: Khi biên soạn Mục, nếu cần bổ sung hoặc giải thích cho chính văn, có thể dẫn tài liệu ở chân trang; tuy nhiên, việc trích dẫn cần hạn chế tối đa. Đặc biệt, khi cần đưa một đánh gìá, để tránh thể hiện thái độ chủ quan, có thể nêu đánh giá của người khác đã được xã 92

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam hội thừa nhận. Ví dụ, khi viết về nguyên phi Ỷ Lan, người viết Mục không khẳng định tầm vóc của nhân vật mà chỉ cần đoạn viết của Đại Việt sử ký toàn thư về việc người dân tôn bà là “Phật Bà Quan Âm”. - Từ khoá: tác giả biên soạn xác định 3 đến 5 từ khoá của Mục - Tên của tác giả biên soạn Mục: phần này là bắt buộc để thể hiện tính trách nhiệm của người biên soạn. - Tài liệu tham khảo: việc biên soạn Mục chắc chắn cần phải tham khảo một số tài liệu thì mới đảm bảo tính khách quan. Mỗi Mục sẽ được liệt kê các tài liệu tham khảo chính, số tài liệu tham khảo không quá 7 đơn vị. Các tài liệu do người biên soạn sưu tầm ở dạng phỏng vấn hoặc các tài liệu chép tay cần phảỉ điền vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu ở phần Phụ lục) 4. Dung lượng Mục Dung lượng của Mục tối thiểu là 700 chữ, tối đa là 3.500 chữ, tùy theo nội dung mô tả được xác định trong từng lĩnh vực của Tập, trò các trường hợp đặc biệt. 93

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam PHẦN II: QUY CÁCH TRÌNH BÀY 1. QUY CÁCH TRÌNH BÀY TẬP, QUYỂN, CHƯƠNG, MỤC 1.1 Bìa của Quyển 1.2. Mục lục Mỗi cuốn gồm có một hoặc một số Quyển, Mục lục sẽ đánh số theo thứ tự Quyển, Chương (thuộc Quyển) và Mục (thuộc Chương). Mục lục Quyển ở Mẫu biểu 3 ở Phụ lục. 1.3. Lời giới thiệu Lời giới thiệu của Chủ nhiệm Nhiệm vụ được in thống nhất trong tất cả các Tập, gồm các nội dung: sự hình thành, tầm quan trọng, mục tiêu của nhiệm vụ; nguyên tắc chung của việc biên soạn; cấu trúc nội dung, các sản phẩm của Nhiệm vụ; và danh sách Chủ nhiệm các Nhiệm vụ thành phần. 1.4. Lời cảm ơn Lời cảm ơn của Chủ nhiệm Nhiệm vụ thành phần đối với các cá nhân và các đơn vị, tổ chức đã hỗ trợ đáng kể (về tài chính, tư liệu, cơ sở vật chất,…) trong quá trình thực hiện, biên soạn và hiệu đính nội dung của Tập nhưng không có tên trong danh sách các tác giả biên soạn. Lời cám ơn để trước Mục lục, sau các trang bìa. 1.5. Phàm lệ Phàm lệ của Nhiệm vụ thành phần được in trong tất cả các Quyển của Tập (theo mẫu) 1.6. Danh mục từ viết tắt 1.6.1. Nguyên tắc viết tắt trong Quyển Các từ viết tắt trong Tập phải thống nhất; Chỉ được viết tắt những từ, cụm từ thông dụng, những từ thuộc ngôn ngữ tiếng Việt dễ hiểu. 94

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Đối với những từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần trong Tập thì có thể viết tắt; các chữ viết tắt lần đầu của từ, cụm từ phải được đặt trong dấu ngoặc đơn ngay sau từ, cụm từ đó. 1.6.2. Trình bày danh mục từ viết tắt Cần liệt kê đầy đủ các từ viết tắt trong Quyển. Các từ viết tắt phải xếp theo thứ tự A, B, C,… tính theo chữ cái đầu tiên của từ (có ở Phụ lục mẫu biểu). 1.7. Trình bày bảng, biểu, hình, ảnh, bản đồ Quy định chung: Bảng, biểu, hình, ảnh và bản đồ được đánh theo trình tự của chúng trong Chương (ví dụ Hình 1.1, Hình 2.1, Hình 3.1), trong đó số đầu là thứ tự Chương, số sau là thứ tự hình trong Chương. Chú thích bảng, biểu, hình, ảnh và bản đồ in nghiêng, đậm, cỡ chữ 11, phông chữ Time New Roman, chú nguồn ở dấu ngoặc vuông. Quy định về ảnh: Khuyến khích sử dụng ảnh trong các Mục, số lượng ảnh tùy theo nội dung Mục, do người biên soạn đề xuất, Chủ nhiệm Nhiệm vụ thành phần quyết định. Người biên soạn Mục đưa ảnh vào cơ sở dữ liệu của phần mềm biên soạn Quốc chí (theo quy định). Khuyến khích ảnh do tác giả chụp, nếu sử dụng ảnh của người khác chụp thì phải được phép và dẫn nguồn. Người sử dụng ảnh trong biên soạn Mục phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về vấn đề bản quyền ảnh. Chú thích ảnh để dưới ảnh, cỡ chữ 12, tên người chụp để trong ngoặc vuông. Quy định về bảng, biểu, hình và bản đồ: Bảng, biểu, hình và bản đồ phải trích dẫn nguồn; Tên bảng, biểu, hình và bản đồ in đậm cỡ chữ 12; Tên bảng để trên bảng, tên biểu, hình và bản đồ để dưới biểu, hình và bản đồ; Chữ trong bảng sử dụng co chữ 12, co chữ 11, phông chữ Time New Roman. 1.8. Trình bày nội dung Tập-Quyển-Chương-Mục 1.8.1. Trình bày Mục 95

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam Tập bao gồm nhiều Quyển. Nội dung phần chính văn trong các Quyển sẽ là các Chương thuộc Quyển, các Mục thuộc Chương. Mục của các Chương trong toàn Tập sẽ được đánh số từ 1 đến hết tính từ Quyển 1 đến Quyển cuối của Tập. Tập bao gồm nhiều Quyển. Nội dung phần chính văn trong các Quyển sẽ là các Chương thuộc Quyển, các Mục thuộc Chương. Mục của các Chương trong toàn Tập sẽ được đánh số từ 1 đến hết tính từ Quyển 1 đến Quyển cuối của Tập. 1.8.2. Chú thích ở chân trang (footnote) Để đảm bảo tính khách quan, việc biên soạn chí chú trọng tính trực tả, tính trần thuật bằng văn phong của người biên soạn, Mục chí cần giảm thiểu tối đa việc trích dẫn tài liệu. Trong một số trường hợp cần dẫn đánh giá của người khác để tăng tính khách quan, chú thích được sử dụng và trích dẫn ngay chân trang, kích thước chữ 11, theo thứ tự: Tên tác giả (in đứng), (năm xuất bản trong ngoặc đơn), tên tài liệu (tên sách in nghiêng, tên bài báo/tạp chí in đứng và để trong ngoặc kép, tên báo/tạp chí in nghiêng), tên Nhà xuất bản (viết tắt Nxb.), nơi xuất bản, số trang. 1.8.3. Tài liệu tham khảo Tài liệu tham khảo để ở cuối Mục (sau phần tên người biên soạn) xếp theo hai phần: công trình đã xuất bản và tài liệu chưa xuất bản (tài liệu điều tra, phỏng vấn., chép tay…). 1.8.3.1. Tài liệu tham khảo đã xuất bản được để cuối Mục, mỗi Mục liệt kê tối đa 7 tài liệu tham khảo. Cụm “Tài liệu tham khảo” dùng kiểu chữ in hoa, font Times New Roman, cỡ 12, đậm, để bên trái, có dấu hai chấm rồi xuống dòng. Nội dung tài liệu tham khảo sử dụng font Times New Roman, cỡ 12. Tài liệu tham khảo được xếp theo thứ tự abc tên tác giả theo trật tự: 96

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam - họ tên tác giả (viết hoa chữ cái đầu, in thường) - năm xuất bản để trong ngoặc đơn, - tên công trình (tên sách in nghiêng, tên bài báo/tạp chí in đứng và để trong ngoặc kép), - tên báo/tạp chí in nghiêng, - tên Nhà xuất bản in đứng (viết tắt Nxb.), - nơi xuất bản, - số trang. Thông tin về tài liệu tham khảo sử dụng cỡ chữ 12, phông chữ New Times Roman. II.1.8.3.2. Tài liệu chưa xuất bản (tài liệu chép tay, tài liệu điều tra, phỏng vấn, tài liệu khảo sát ảnh, video, lời kể, văn bản…do người khảo sát thu thập hoặc chưa được công bố), người biên soạn cần điền thông tin vào Phiếu mô tả đơn vị tư liệu (Mẫu biểu 1ở Phụ lục). Phiếu mô tả đơn vị tư liệu được điền riêng từng phiếu và tải lên phần mềm biên soạn Mục theo quy định của Phần mềm biên soạn Nhiệm vụ Quốc chí. 1.9. Chỉ mục (index) Index được lập cho từng Tập để tiện cho việc tra cứu và sử dụng Phần xây dựng bảng Index do nhóm biên soạn Tập thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm Nhiệm vụ Quốc chí. 1.10. Kiểu chữ và cỡ chữ chung cho cả Quyển-Tập-Chương- Mục Kiểu chữ và cỡ chữ trình bày các phần trong tập như sau: - Khổ giấy: A4, Portrait. 97

NVQC Bộ Quy chuẩn biên soạn Địa chí Quốc gia Việt Nam - Lề: Trên: 2,5cm, Dưới: 2,5cm, Trái: 3cm, Phải: 2cm. - Font: Times New Roman, Bảng mã Unicode với kích thước và sắp xếp như sau: - Cỡ chữ và trình bày: xem phần mẫu biểu Phụ lục 2. QUY TẮC CHÍNH TẢ 2.1. Trật tự bảng chữ cái và thanh điệu Trật tự bảng chữ cái: Dùng các chữ cái trong bảng chữ cái, bổ sung chữ f (sau e), chữ w (sau v), chữ z (sau y). Trật tự thanh điệu là: không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Dấu thanh sẽ được đặt ở nguyên âm chính, ví dụ: hòa, biển… Việc sắp xếp trong bộ Địa chí Quốc gia Việt Nam theo nguyên tắc: theo trật tự chữ cái trước, theo thanh điệu sau. 2.2. Quy định viết hoa: 2.2.1. Viết hoa trong câu Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của một câu hoàn chỉnh: Sau dấu chấm câu (.); sau dấu chấm hỏi (?); sau dấu chấm than (!) và khi xuống dòng. 2.2.2. Viết hoa tên người 2.2.1. Tên người Việt Nam a) Tên thông thường: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết của tên riêng chỉ người. Ví dụ: Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú,... b) Tên hiệu, tên gọi nhân vật lịch sử: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết. Ví dụ: Vua Hùng, Bà Triệu, Ông Gióng, Bác Hồ, Cụ Hồ,... 2.2.2. Tên người nước ngoài được phiên âm chuyển sang tiếng Việt 98


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook