KỶ YẾU KHÓA 8 CĐ SƯ PHẠM NÔNG LÂM SÚC SÀI GÒN(KHÓA 73 Knn ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT Tp HCM)2021BẢN THẢO
KỶ YẾU khóa 8TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NÔNG LÂM SÚC SÀI GÒN(Khóa 73 Knn ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật 1973 -1976)2021
MỤC LỤCTrangLỜI MỞ ĐẦUPHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ KHÓA 8 CAO ĐẲNG SƯ PHAM NLS( Khóa 73 KNN Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật)- Danh sách khóa 8 Sư phạm Nông Lâm Súc.- Danh sách hình Giáo sinh khóa 8 Sư phạm NLS Sài Gòn (Có liên lạc sau 1975)- Cao đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc Sài Gòn (Bài viết Thầy Châu Kim Lang)- Nha học vụ Nông Lâm Súc ( Trích Kỷ yếu Nha Học Vụ NLS 1974)- Giới thiệu khóa 8 Cao đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc (73KnnSPKT) (Bài viết Thầy Châu Kim Lang)PHẦN II: NHỚ VỀ THẦY CÔ- Kỷ niệm về đồng nghiệp xưa (Bài viết của Thầy Nguyễn Tuấn)- Thơ ghép tên Giáo sinh Cao đẳng Sư phạm NLS khóa 8 (Thầy Châu kim Lang)- Ban Canh Nông- Ban Thú Y Chăn Nuôi- Ban Công Thôn & Sinh Hoạt Gia Đình.- Chân dung Thầy Cô Khoa Nông Nghiệp qua phác họa của tôi. (Thái minh Dưỡng)- Thơ & Tranh “Thầy Tôi” (Thái minh Dưỡng)PHẦN III: KỶ NIỆM THỜI SINH VIÊN- Khóa 8 Cao đẳng Nông Lâm Súc theo trí nhớ của tôi. (Hoàng Quang Tuyến)- Thơ Hai Sợi Tóc (Thái Minh Dưỡng)- Lý do tôi chọn học ngành Nông Lâm Súc và cái duyên giữa tôi với trường TH Nông Lâm Súc Bảo Lộc (Tiêu Thành Khoa)- Thơ “ Sư Phạm Nông Lâm Súc” (Thái Minh Dưỡng)
Trang- Kỷ niệm vui trong chuyến dã ngoại của khóa 8 CĐSPNLS ở Thác Đam Rông - Bảo Lộc (Tiêu Thành Khoa)- Thơ “ Tuổi Già” (Thái Minh Dưỡng)- Chuyện bây giờ mới kể (Kiều Văn Xương)- Nhớ Mẹ ( Thơ Trần thị Vinh)- Tình Bạn (Trương Mỹ Long)- Ba Đứa ( Thơ Lê Thị Ngọc Anh)- Kỷ Niệm Bảo Lộc (Quách Anh Hào)- Ngày Xưa ( Thơ Lê Thị Ngọc Anh)- Người Đưa Đò (Thơ Thái Minh Dưỡng)- Ký ức theo thời gian (Thái Minh Dưỡng)- Tờ Lịch Cũ (Thơ Thái minh Dưỡng)- Khóa 8 và những ngày vui (Bài viết của Thầy Nguyễn Tuấn)- Bạn Già (Thơ Trần Thị Tuyết)- Bưng Sáu Xã ( Thơ Trần Thị Tuyết)- Chới Với (Thơ Trần Thị Tuyết)- Màu áo đất Bazan - Một chặng đường... ( Thành Kim Trọng)- Nhạc “ Ngày Hội Ngộ” (Thầy Nguyễn Tuấn)PHẦN IV: HỘI NGỘ 20 NĂM HỌP MẶT (2001 - 2020)- Link Video Họp Mặt Khóa 8 (2001-2016) (Trần Bình Đông thực hiện)- Họp mặt lần 1 : Hiệp Bình Chánh Thủ Đức (nhà bạn Lê thị Cúc)- Họp măt lần 2 : Bình Dương (Chi Cục Thú Y Bình Dương)- Họp mặt lần 3 : Quận 6 Tp HCM ( Bạn Lương thị Xuân Hoa)- Họp mặt lần 4 : Hiệp Bình Chánh Thủ Đức (nhà bạn Lê thị Cúc)- Trông hình (Thơ Lê Thanh Hần)- Họp mặt lần 5 : Tây Nunh(Bạn Văn Thị Thu Vân)- Họp mặt lần 6 : Cù Lao Thới Sơn, Tiền Giang
- Họp mặt lần 7 : Hiệp Bình Chánh Thủ Đức (nhà bạn Lê thị Cúc)- Họp mặt lần 8 : Biên Hòa, Đồng nai (Bạn Đoàn thị Ngọc Phượng)- Họp mặt lần 9 : Hốc Môn, Quận 12 (nhà bạn Nguyễn thị Hoa)- Họp mặt lần 10 : Hiệp Bình Chánh Thủ Đức (nhà bạn Lê thị Cúc)- Họp mặt lần 11 : Hiệp Bình Chánh Thủ Đức (nhà bạn Lê thị Cúc)- Họp mặt lần 12 : Tại Cồn Phụng, Tiền Giang (Bạn Kiều văn Xương)- Họp mặt lần 13 : Lái Thiêu Bình Dương (nhà bạn Trần văn Tường) - Họp mặt lần 14 : Lái Thiêu Bình Dương (nhà bạn Trần văn Tường)- Họp mặt lần 15 : Hiệp Bình Chánh Thủ Đức (nhà bạn Lê thị Cúc)- Họp mặt lần 16 : Hiệp Bình Chánh Thủ Đức (nhà bạn Lê thị Cúc) - Tiếc và Hẹn (Thơ Thanh Hần & Thu Vân)- Họp mặt lần 17 : Tại Tây Ninh (nhà bạn Tô kim Lang) - Thơ Dư âm ngày hội ngộ (Thái Minh Dưỡng)- Họp mặt lần 18 : Nhà Hàng Dìn Ký, Bình Dương (Bạn Trương văn Đức)- Họp mặt lần 19 : Câu Lạc Bộ Đoàn Viên Quận 1, Tp HCM (Bạn Đoàn thị Ngọc Phượng )- Họp mặt lần 20 : Tại Cai Lậy, Tiền Giang (Trung tâm Hội nghị Tiệc cưới,bạn Quách Anh Hào) - Thơ “HÔI NGỘ 20 (Thái Minh Dưỡng)PHẦN V: HÌNH ẢNH NGÀY XƯA - Nhớ thời Giáo Sinh (Thơ Lê Thanh Hần)LỜI KẾT Trang
LỜI MỞ ĐẦU(chưa có)Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Phần I TỔNG QUAN VỀKHÓA 8 CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NÔNG LÂM SÚC(KHÓA 73 KNN ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT)Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)DANH SÁCH KHÓA 8SƯ PHẠM NÔNG LÂM SÚC SÀI GÒN(Khóa 73 Knn ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT)1973 - 1976BAN CANH NÔNG STT HỌ VÀ TÊN CHUYỂN LÊN Nơi ở hiện nay Ghi chú SPKT (gốc TH NLS)1 Nguyễn Thị Thu An x Bảo Lộc NLS Huế2Nguyễn Thị Ngọc Anh x TP HCM NLS Bình Dương3Trần Văn Chính Nghỉ học Đã mất (NLS ST)4Dụng Đê x TP HCM NLS Bảo Lộc5 Nguyễn Thị Thúy Diệp x Pháp NLS Tây Ninh6 Hồ Thị Điệp x TP HCM NLS Bình Dương7Võ Khắc Đức Nghỉ học NLS Tây Ninh8Phạm Hoàng Em Nghỉ học Mỹ NLS Sóc Trăng9Nguyễn Minh Gẩm x Huế NLS Huế10Vương Kiều Hạnh x Bình Dương NLS Bình Dương11Nguyễn Trung Hiếu x Bình Dương NLS Bình Dương12Nguyễn Thị Hoa x TP HCM NLS Tây Ninh 13Lương Thị Xuân Hoa x Mỹ NLS Tây Ninh14Trần Kim Lan x NLS Bình Dương 15Tô Kim Lang x Tây Ninh NLS Tây Ninh16 Nguyễn Hoàng Lương x Úc NLS Bảo Lộc17Trần Thị Lý x TP HCM NLS Tây Ninh18Nguyễn Hoàng Minh x Cần Thơ NLS Cần Thơ 19Nguyễn Thị Mỹ x NLS Bảo Lộc20Lê Trọng Nghĩa Nghỉ học 21Nguyễn Thu Nguyệt x TP HCM NLS Tây Ninh22Trần Quang Ninh x Tây Ninh NLS Tây Ninh23Phạm Thị Sang x Bình Dương NLS Bảo Lộc24 Nguyễn Thế Tâm x Bình Dương NLS Bình Dương 25Đoàn Văn Thành Nghỉ học NLS Cần Thơ26Nguyễn Thị Thạnh x TP HCM NLS Tây Ninh 27Trần Xuân Thiện x NLS Bình Dương28Nguyễn Thị Tiến x Mỹ NLS Tây Ninh29Trần Thị Trị xĐã mất (NLS TN)30Nguyễn Văn Triệu Nghỉ học NLS Định Tường31Nguyễn Phước Trọng x Đã mất (NLS BD)32Thành Kim Trọng x Phan Rang NLS Ninh Thuận33Lê Minh Trung x TP HCM NLS Bình Dương
DANH SÁCH KHÓA 8SƯ PHẠM NÔNG LÂM SÚC SÀI GÒN(Khóa 73 Knn ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT)1973 - 1976BAN THÚ Y CHĂN NUÔI STT HỌ VÀ TÊN CHUYỂN LÊN Nơi ở hiện nay Ghi chú ĐH SPKT (gốc TH NLS)1 Lê Thị Ngọc Anh Nghỉ học Mỹ NLS Định Tường 2 Đặng Ngọc Bình x Đã mất (NLS CT)3 Đinh Hoàng Bình x Đồng Nai NLS Ninh Thuận4 Nguyễn Văn Chơi x Úc NLS Tây Ninh 5 Lê Thị Cúc x TP HCM NLS Cần Thơ6 Nguyễn Thị Diễm x Bảo Lộc NLS Bảo Lộc7 Trần Bình Đông x Bảo Lộc NLS Bảo Lộc8 Trương Văn Đức x Bình Dương NLS Bình Dương9 Thái Minh Dưỡng x TP HCM NLS Bình Dương10 Bùi Thị Công Gấm x TP HCM NLS Bảo Lộc11 Phan Văn Hai Nghỉ học Đã mất (NLS ĐT)12 Quách Anh Hào x Tiền Giang NLS Định Tường13 Trần Thị Huệ x Tiền Giang NLS Bình Dương14 Nguyễn Phi Hùng x Tiền Giang NLS Định Tường15 Nguyễn Hưng x Đã mất (NLS BL)16 Phương Thị Thanh Hương x Úc NLS Sóc Trăng17 Tạ Trọng Khang x Bình Dương NLS Bình Dương18 Tiêu Thành Khoa x Đồng Tháp NLS Cần Thơ 19 Đàm Văn Kỳ x Phan Rang NLS Ninh Thuận20 Nguyễn Thị Phương Loan Nghỉ học Tây Ninh NLS Tây Ninh21 Ka Long Nghỉ học NLS Bảo Lộc22 Nguyễn Thị Năm x Mỹ NLS Bình Dương23 Tạ Ngọc Phan x Pháp NLS Bảo Lộc24 Đoàn Thị Ngọc Phượng x Đồng Nai NLS Bảo Lộc25 Trương Thị Thúy Sương x Long An NLS Tây Ninh26 Đoàn Minh Tân x Đã mất (NLS CT)27 Bạch Đức Thục Nghỉ học NLS Huế28 Trần Văn Tường x Bình Dương NLS Tây Ninh29 Hoàng Quang Tuyến x Đan Mạch NLS Bình Dương30 Nguyễn Thị Thu Tuyết x TP HCM NLS Ninh Thuận31 Văn Thị Thu Vân x Tây Ninh NLS Tây Ninh32 Trần Thị Vinh x TP HCM NLS Định Tường33 Thiên Ve x Phan Rang NLS Ninh Thuận34 Kiều Văn Xương x Tiền Giang NLS Định TườngKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
DANH SÁCH KHÓA 8SƯ PHẠM NÔNG LÂM SÚC SÀI GÒN(Khóa 73 Knn ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT)1973 - 1976 BAN CÔNG THÔN STT Họ và tên Chuyển lên Nơi ở hiện nay Ghi chú ĐHSPKT (Gốc TH NLS)1 Lê Văn Bá x Mỹ NLS Bình Dương2 Hà Bình x TP HCM NLS Huế3 Nguyễn Văn Cần Nghỉ học NLS Bảo Lộc4 Nguyễn Mậu Chi x Huế NLS Huế5 Hoàng Xuân Danh Nghỉ học Đã mất (NLS Huế)6 Nguyễn Hồng Đơn x Cần Thơ NLS Cần Thơ7 Lê Thanh Hần x Phú Yên NLS Bảo Lộc8 Nguyễn Văn Hùng x Đồng Nai NLS Huế9 Hà Quốc Lâm Nghỉ học - -10 Trịnh Đình Nam x TP HCM NLS Bình Dương11 Trần Văn Phát x Mỹ NLS Huế12 Vũ Văn Sáng x TP HCM NLS Bảo Lộc13 Đào Như Tâm Nghỉ học Úc NLS Bình Dương14 Nguyễn Phan Văn Thắng x TP HCM Đã mất (NLS Huế) 15 Huỳnh Văn Vinh Nghỉ họcNLS Bình Dương BAN SINH HOẠT GIA ĐÌNH Stt Họ và Tên Chuyển lên Nơi ở hiện nay Ghi chú ĐH SPKT (Gốc TH NLS)1 Hồ Ngọc Bích x Úc NLS Bảo Lộc2 Phạm Thị Ngọc Bích x TP HCM NLS Bảo Lộc3 Đặng Thị Cúc x TP HCM NLS Tây Ninh4 Trần Thị Kim Dung x Long An NLS Cần Thơ5 Trang Thị Việt Hồng x Mỹ NLS Tây Ninh6 Hà Thị Kim Huệ x Úc NLS Bảo Lộc7 Bùi Thị Khoai x Bình Dương NLS Bình Dương8 Huỳnh Thị Ngọc Liêng x Bình Dương NLS Bình Dương9 Trương Mỹ Long x TP HCM NLS Sóc Trăng10 Trần Thị Thắm x TP HCM NLS Bình Dương11 Lưu Thị Thanh x Mỹ NLS Bảo Lộc12 Phạm Thị Thành x Bình Dương NLS Bình Dương13 Lữ Thị Thu x TP HCM NLS Định Tường 14 Huỳnh Thị Ngọc Thủy Nghỉ học Long An NLS Tây Ninh15 Trần Thị Tuyết x TP HCM NLS Bảo LộcKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
BAN THÚ Y CHĂN NUÔIKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Nguyễn thị NămHoàng Quang TuyếnThái Minh DưỡngTiêu Thành KhoaTrần thị HuệLê thị CúcTrần Bình ĐôngNguyễn thị DiễmVăn thị Thu VânKiều văn XươngĐoàn thị Ngọc Phượng Trương thị Thúy Sương
BAN THÚ Y CHĂN NUÔIKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Lê thị Ngọc AnhNguyễn thị Thu TuyếtTrần văn TườngPhương thị Thanh HươngTrần thị VinhĐàm Văn KỳQuách Anh HàoTrương văn ĐứcNguyễn Phi HùngĐinh Hoàng Bình
BAN CANH NÔNGKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Nguyễn Trung HiếuTrần thị TrịNguyễn Hoàng MinhNguyễn thị TiếnLương thị Xuân HoaTô kim LangVương Kiều HạnhHồ thị ĐiệpNguyễn Hoàng Lương Nguyễn thị Ngọc AnhNguyễn Thu NguyệtThành Kim Trọng
BAN CANH NÔNGKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Nguyễn văn GáiNguyễn Minh GẫmNguyễn thị ThạnhPhạm thị SangNguyễn thị Thu AnNguyễn Thị HoaTrần thị Lý
BAN CÔNG THÔNKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Nguyễn Mậu ChiNguyễn văn HùngLê thanh HầnTrịnh Đình NamNguyễn Hồng ĐơnVũ văn SángNguyễn Phan Văn ThắngHà Bình
BAN SINH HOẠT GIA ĐÌNHKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Đạng thị CúcHà Thị Kim HuệPhạm thị ThànhTrương Mỹ LongHuỳnh thị Ngọc LiêngTrần thị TuyếtTrần thị Kim DungLữ Thị ThuTrần Thị ThắmHuỳnh thị Ngọc Thuỷ
Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc Sài GònThầy Châu Kim LangLời giới thiệu:Tốt nghiệp từ hệ phổ thông, chuyên khoa Sử Địa, Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, nhưng có lẽ do duyên nghiệp đưa đẩy nên cả đời Thầy Châu Kim Lang đã gắn bó với nền giáo dục chuyên ngành Nông Lâm Súc. Thầy đã góp công rất lớn trong công việc đào tạo giáo chức cho nhu cầu phát triển của ngành vào những năm 1970-1975.Thiết nghĩ chúng ta, nhất là quý anh chị, một thời đã được đào tạo và tham dự vào công việc giảng dạy tại các trường Trung Học NLS trên toàn miền Nam, trân trọng và thật biết ơn cho công khó của Thầy đã sưu tầm, biên khảo về Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc. Xin trân trọng giới thiệu cùng Quý Thầy Cô và các anh chị tài liệu quý giá sau đây. oOoTừ năm học 1963-1964, năm đầu tiên của chương trình trung học NLS đến năm học 1973-1974, số trường trung học Nông Lâm Súc tăng từ 3 lên 12 trường đệ nhị cấp, 28 trường đệ nhất cấp, và 3 trung tâm canh mục sắc tộc. (Nha Học Vụ NLS tiếp nhận 12 TT canh mục sắc tộc, đến năm học 73-74, một số TT trở thành trường TH NLS đệ nhất cấp, chỉ còn 3 TT CMST).Trong giai đoạn đầu, phần lớn giảng viên trường Nông Lâm Súc là những kỹ sư hoặc kiểm sự chưa được huấn luyện sư phạm tại các trường đào tạo giáo chức. [1]Để cung cấp giáo sư chuyên nghiệp cho các trường trung học NLS, từ năm học 1966-1967 Nha Học Vụ Nông Lâm Súc hằng năm mở các khóa cấp tốc đào tạo giáo sư đệ nhất cấp, và từ năm học 1970-1971 mở các khóa cấp tốc đào tạo giáo sư đệ nhị cấp.I. Đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp Nông Lâm SúcKhóa đầu tiên mở vào năm học 1966-1967, theo nghị định số 472 – GD/PC/NĐ ngày 22-3-1967 gồm các ban: canh nông, mục súc, thủy lâm, ngư nghiệp, công thôn, và sinh hoạt gia đình. Thí sinh dự thi phải có tú tài 2 Nông Lâm Súc hoặc văn bằng tốt nghiệp kiểm sự. Thời gian đào tạo là 12 tháng, gồm 9 tháng học lý thuyết và thực hành, 2 tháng tập sự tại các cơ sở chuyên môn, 1 tháng thực tập tại các trường trung học NLS và vùng nông thôn liên hệ.Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Chương trình học gồm 2 phần:- Các môn chung về sư phạm và quản trị cho tất cả các ban: 300 giờ lý thuyết và 200 giờ thực hành, chiếm 40% tổng số giờ học.- Các môn chuyên môn riêng cho từng ban, chiếm 60% tổng số giờ học.Từ năm học 66-67 đến năm học 71-72 đã mở được 6 khóa, đào tạo 553 giáo sư trung học đệ nhất cấp NLS. Kể từ năm học 72-73, theo nghị định số 33 VHGDTN/NLS/NĐ ngày 10-01-1974 thời gian đào tạo là 2 năm.Điều kiện nhập học:- Quốc tịch Việt Nam- Nam phải hợp lệ tình trạng quân dịch- Có văn bằng tú tài nông lâm súc- Qua 2 kỳ thi: thi viết, thi khảo hạchQuá trình đào tạo:Giữa 2 năm học có kỳ thực tập hè. Tổng số giờ toàn khóa là 1.920 giờ gồm:- Sư phạm: 540 giờ ( 330 giờ lý thuyết + 210 giờ thực hành), chiếm 28%- Ngoại ngữ: 60 giờ- Khoa học cơ bản: 420 giờ- Chuyên môn: 900 giờSố giờ học lý thuyết và thực hành của các môn khoa học cơ bản và chuyên môn thay đổi tùy theo ban (theo chương trình đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp Nông Lâm Súc):BAN Khoa học Cơ bản Chuyên mônLý thuyết Thực hành Lý thuyết Thực hànhCanh nông 300 giờ 120 giờ 585 giờ 315 giờMục súc 300 giờ 120 giờ 525 giờ 375 giờCông thôn 300 giờ 120 giờ 435 giờ 465 giờSinh hoạt gia đình 270 giờ 150 giờ 360 giờ 540 giờCác lớp học được tổ chức ngay tại trụ sở Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, gồm một số phòng học lý thuyết, không có phòng thí nghiệm. Các nhân viên giảng huấn và hành chính gồm những nhân sự tại Nha Học Vụ NLS và một số giảng viên thỉnh giảng. (Tiêu chuẩn sư phạm, chương 4, tr 9.) [1]Điều kiện tốt nghiệp:Trong 2 năm học, giáo sinh có điểm trung bình các môn học từ 12/20, soạn 12 đề tài diễn giảng, bốc thăm thi thực hành một đề tài. Điểm tốt nghiệp tính theo điểm trung bình cả hai năm học, điểm tập sự và điểm thi cuối khóa.Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Học bổng: Giáo sinh được hưởng nguyệt cấp 1.800đ. và theo chế độ ngoại trú.Thống kê giáo sinh Ban Cao đẳng Sư phạm NLS Khóa học Số tốt nghiệp Ghi chú1 (1968-69) 252 (1968-69) 753 (1968-69) 1104 (1969-70) 1145 (1970-71) 1166 (1971-72) 1157 (1972-74) 85Năm 1974 đang học:Khóa CN MS CT SHGĐ Tổng cộng7 (năm thứ 2) 29 27 14 15 858 (năm thứ 1) 33 32 15 15 95Tổng cộng 62 59 29 30 180(thống kê theo Danh sách giáo sinh trong Kỷ yếu Nông Lâm Súc 1974. trang 12-13) [2]Số tốt nghiệp theo ban chuyên môn:Khóa GS TH Đệ I Cấp(tốt nghiệp CN TL MS NN CT KTGĐI 9 11 3II 30 8 29 8III 33 15 25 19 17IV 34 27 19 14 20V 30 29 17 19 21 Tổng Cộng 136 23 121 66 50 41 (Ban)Tổng cộng 437Ghi chú:GS TH ĐIC: Giáo sư trung học đệ nhất cấpCN: Canh nông; TL: Thủy lâm, MS: Mục súc, NN: Ngư nghiệp, CT: Công thôn, KTGĐ: Kinh tế gia đình [3](Đối chiếu với số thống kê ở Kỷ Yếu NLS 1974, có sai lệch nhỏ)Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Các Trưởng Ban Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc:--1966-68: Ô. Trần Thiện Chu, giảng sư, Ms. in Animal Husbandry- 1968-70: Ô. Nguyễn Thanh Vân, kỹ sư Súc khoa- 1970-72: Ô. Phạm Phi Hoành, giảng nghiệm viên, Bs in Agr. Engineering- 1972: Ô. Đặng Hữu Thạt, kỹ sư Điện tử.Ban giảng huấn:1. Cơ hữu:Ban Canh nông:- Cô Võ Thị Thúy Lan, giảng nghiệm viên, kỹ sư nông khoa- Ô. Nguyễn Hoàng Sơn, giảng sư, Master of Agriculture- Ô. Nguyễn Hoài Đỉnh, giảng nghiệm viên, Bs in Agri. Education- Ô. Vũ Quốc Dũng, Bs in Agri. Education- Ô. Lê Châu Long, giảng nghiệm viên, Bs in Agri. EducationBan Mục súc:- Ô. Vương Quan Phước, bác sĩ Thú y- Ô. Nguyễn Tuấn, bác sĩ Thú y- Ô. Trần Hiệp Nam, giảng sư, Ms in Animal Husbandry- Ô. Trần Thiện Chu, giảng sư, Ms in Animal Husbandry- Ô. Nghiêm Xuân Thịnh, giảng sư, Ms in Animal Husbandry- Ô. Huỳnh Kim Ngọc, giảng nghiệm viên, kỹ sư Súc khoa- Ô. Vũ Đình Chính, bác sĩ Thú y- Bà Dương Thị Tuấn Ngọc, kỹ sư Súc khoaBan Ngư nghiệp:- Ô. Hứa Văn Túc, giảng nghiệm viên, kỹ sư Thủy lâmBan Công thôn:- Ô. Đặng Hữu Thạt, kỹ sư Điện tử- Ô. Vũ Hùng Chương, kỹ sư Điện- Ô. Đặng Ngọc Sơn, kỹ sư Điện- Ô. Phạm Phi Hoành, giảng nghiệm viên, Bs in Agri. EngineeringBan Sinh họat gia đình:- Bà Đỗ Ngọc Liên, Bs in Home EconomicBan Khoa học cơ bản:- Ô. Nguyễn Trọng Khôi, dược sĩ- Ô. Lâm Quan Tườn, dược sĩ- Ô. Đinh Quang Trọng, dược sĩKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
2. Thỉnh giảng:- Ô. Bùi Như Hùng, kỹ sư, giảng sư Nông học- Ô. Châu Tâm Luân, PhD.- Ô. Nguyễn Kim Môn, kỹ sư Khí tượng- Ô. Đặng Quan Điện, bác sĩ Thú y- Ô. Vũ Ngọc Tân, bác sĩ Thú y- Ô. Hà Văn Mơí, kỹ sư Súc khoa- Ô. Đinh Khang Hoạt, Bs Mech. Eng.- Ô. Nguyễn Ngọc Châu, kỹ sư Nha Nông cụ- Ô. Hoàng Đình Gia, kỹ sư Nông cụ- Ô. Nguyễn Như Mộng, kỹ sư Nông cụ- Ô. Nguyễn Văn Hồng, Kỹ sư Nông cụ- Ô. Lý Thi Nghĩa, kỹ sư Thủy lâm- Ô. Lê Văn Đằng, kỹ sư Thủy lâm- Ô. Ngô Bá Thành, bác sĩ Thú y- Ô. Trần Văn Trí, cử nhân Luật- Ô. Huỳnh Trung Hạt, kỹ sư Súc khoa- Bà Nguyễn Thị Nữ, giáo sư trung học- Bà Phùng Thị Bách, giáo sư trung học- Bà Nguyễn Ngọc Anh, kỹ sư Canh nông- Bà Nguyễn Thị Tần, giáo sư trung học- Cô Trần Huệ Dung, giáo sư trung học- Ô. Nguyễn Sơn Hà, giảng nghiệm viên khoa học- Cô Nguyễn Thị Thanh Xuân, giảng nghiệm viên khoa học(Kỷ Yếu Nông Lâm Súc 1974, trang 10 – 13) [2]II. Đào tạo giáo sư trung học đệ nhị cấp Nông Lâm SúcKhóa cấp tốc mở vào năm học 1970-1971 tại Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, đào tạo giáo sư trung học đệ nhị cấp NLS. Khóa 2 và khóa 3 mở tại Trường Đại Học Nông Nghiệp Sài Gòn gồm các ban: canh nông, mục súc, ngư nghiệp, công thôn, thủy lâm, lý hóa nhiên. Thí sinh dự thi phải có văn bằng kỹ sư (đối với các ban chuyên môn) hoặc cử nhân giáo khoa khoa học (đối với ban lý hoá nhiên). Thời gian học là 12 tháng gồm 10 tháng học lý thuyết và thực hành, 2 tháng tập sự tại các trường trung học NLS và vùng nông thôn liên hệ.Chương trình học gồm 2 phần:- Các môn chung về sư phạm và quản trị cho tất cả các ban, chiếm 70% tổng số giờ học.- Giảng dạy bộ môn (riêng từng ban) chiếm 30% tổng số giờ học.Nội dung Lý thuyết Thực hànhCác môn sư phạm và quản trị 420 giờ 290 giờGiảng dạy bộ môn 200 giờ 100 giờ(Tiêu chuẩn sư phạm, chương 4, tr 9, phần Phụ đính) [1]Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Ngoài 3 khóa cấp tốc, từ năm học 1972-1973, chương trình đào tạo 4 năm bắt đầu thực hiện tại Trường Đại Học Nông Nghiệp. Thí sinh dự thi phải có tú tài 2 phổ thông hoặc nông lâm súc. Năm học 1974-1975 tuyển sinh vào năm thứ nhất tại trường Đại Học Giáo Dục, (sau năm 1975 đổi tên là Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật) thuộc Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả giảng viên ban sư phạm nông lâm súc tập trung về Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức, cùng với các giáo sinh sư phạm NLS của các lớp khóa 8 chưa tốt nghiệp.TÀI LIỆU THAM KHẢO[1]. Hội đồng phát triển giáo dục: Tiêu chuẩn sư phạm, quyển 2. Bộ Giáo Dục Saigon, 1973. Chương 4, tr 2.[2] Nha Học Vụ Nông Lâm Súc: Kỷ yếu Nông Lâm Súc 1974.[3] Trần Hiệp Nam: A Model for an Agricultural Education Program in South Viet Nam. A dissertation presented to the graduate Council of the University of Florida, in partial fulfillment of the requirement for the Degree of Doctor of Philosophy. University of Florida, 1974. (Table 6, p. 87 )Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)https://m.youtube.com/watch?v=H50le4Jkc-MVần Thơ Dạy Học ( Thơ Châu Kim Lang, Nhạc Nguyễn Tuấn)---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
NHA HỌC VỤ NÔNG LÂM SÚC. (Trích theo kỷ yếu nha học vụ NLS 1974) Việt Nam là một quốc gia có sở trường về Nông Nghiệp với những tài nguyên thiên nhiên: Nào là vựa lúa miền đồng bằng sông Cữu Long, với hàng trăm ngàn cây số sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, hơn 2.200 cây số bờ biển và hằng triệu mẫu rừng thuộc miền cao nguyên Trung phần, là những kho tàng quí giá để nuôi sống dân tộc.Trên đường xây dựng đất nước, chánh phủ đã và đang đặt trọng tâm vào công cuộc sản xuất với nền tảng là Nông nghiệp đóng góp một phần quan trọng vào việc phục hưng phát triển kinh tế trong giai đoạn sau chiến tranh. Dân VN vốn hiền hòa, nhẫn nại,có tinh thần cầu tiến, dễ thích ứng với kỹ thuật Nông nghiệp tiến bộ, Để phổ biến đến đại chúng các kỷ thuật sản xuất Nông nghiệp, ngành giáo dục NLS bậc Trung học đã được Nha Học vụ NLS thuộc BỘ VHGDTN phát triển mạnh mẽ trên toàn quốc, đáp ứng nhu cầu thiết thực của nông dân, các con em của nông dân và thanh thiếu niên nông thôn. Ngành học vụ NLS đã trải qua những giai đoạn thăng trầm của đất nước, hãnh diện với vai trò đóng góp nhân lực cho nền kinh tế nông nghiệp nước nhà. Trước Thế chiến thứ 2 (I939-45) số nhân viên chuyên môn về các ngành hoạt động NLS tạm đủ để ứng phó với nhu cầu của các công sở và một số cơ sở khai thác tư nhân.Những trường hay nói cho đúng là những khóa huấn luyện đào tạo công chức cho các ngành này chỉ là những trường chuyên nghiệp đào tạo nhân viên cấp thừa hành gồm có:-Một trường Cao đẳng Nông Lâm và một trường Cao đẳng Thú y.-Hai trường Nông Lâm Thực hành: một trường ở Tuyên Quang (Bắc Việt) và một trường ở Bến Cát (Nam Việt).-Một trường Nông Nghiệp Thực Hành ở Xà No (Cần Thơ), lúc đó người ta quen gọi là Trường Lúa Gạo Cần Thơ. Đến Thế chiến thứ 2 bùng nổ, để giúp số thanh niên trí thức có cấp bằng Tú Tài có cơ hội tiến thân nhà cầm quyền đương thời đã mở thêm nhiều ngành đại học như: Khoa học, Công chánh, Nông Lâm Mục và qua mấy năm sau cải danh thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Mục có 2 Ban Pháp và Đông Dương. Trường này mở được tất cả là 6 khóa. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1955 ngành học này đã ngưng hẳn trên mọi cấp.- Năm 1955 Bộ Canh Nông đã chính thức thành lập Nha Học Vụ Kỷ thuật Canh Nông với các trường trực thuộc chung cho 3 ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Mục Súc theo diễn tiến như sau:- Năm 1955 thành lập Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục B’Lao với cấp Trung đẳng đào tạo tạo cấp Kiểm sự.- Năm 1957 thành lập Trường Canh Nông Thực Hành ở Cần Thơ.Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
- Năm 1958 thành lập Trường Canh Nông Thực Hành Huế đào tạo cấp Huấn Sự.- Cuối năm 1959 thành lập cấp Cao đẳng tại Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc đào tạo Kỹ sư các ngành NLS ( ngày nay trở thành Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp và sẽ được chuyển về Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức). Ngoài ra còn có những lớp ngắn hạn huấn luyện nông dân về kỷ thuật nông nghiệp, những lớp huấn luyện cán bộ như TÁ SỰ THÚ Y, CÁN BỘ KHUYẾN NÔNG…do các cơ quan Bộ Canh Nông tổ chức. Đến cuối năm 1961 tất cả cơ sở giáo dục nông nghiệp trên được chuyển qua thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc Gia Giáo Dục với danh xưng mới là NHA HỌC VỤ NÔNG LÂM SÚC đặt tại số 9 Mạc Đỉnh Chi Sài Gòn và tổ chức các cấp học được sửa đổi do 3 Nghị định ngày 24/6/1963 như sau:- Cấp Cao đẳng Trường QGNLM đổi thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc đặt tại số 45 đường Cường Để Sài Gòn (khu thành Cộng Hòa cũ).- Cấp Trung đẳng Trường QGNLM Bảo Lộc Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Nông Lâm Súc Bảo Lộc..- Hai Trường Canh Nông Thực Hành Cần Thơ và Huế đổi thành hai trường trung học đệ Nhị cấp NLS Cần Thơ và NLS Huế. Trong các trường THNLS này còn có các lớp đào tạo Kiểm sự, Huấn sự các lớp bán thì, ngay cả các lớp huấn luyện ngắn hạn theo mùa. Đến niên khóa 1973-74 Nha Học Vụ NLS quản trị 40 trường THNLS gồm 23 Trường Trung học NLS đệ Nhị cấp và 17 Trường Trng học đệ Nhất cấp gồm 267 lớp (từ cấp 8 đến cấp 12), 1128 Giáo sư, 11.414 học sinh> Ngoài ra còn có 6 Tư Thục NLS thu nhận 1138 học sinh tư thục NLS. Dến niên khóa 1974-75 lần lượt Nha sẽ mở ra 2 Trường THNLS Kiểu Mẫu An Lạc , Trường Trung học NLS Trà Canh ngoài những lớp thông thường còn có những khóa huấn luyện Nông cụ cơ giới và 2 Trung Tâm lớp đêm THNLS Bà Triệu (Chợ Lớn) và Đồ Chiểu (Tân Định). Ban cao đẳng Sư phạm NLS hiện tại có 182 Giáo sinh và tại các Trường Trung học NLS đệ Nhị cấp Cần Thơ, Bảo Lộc, Huế, Bình Dương có 256 sinh viên lớp đào tạo chuyên viên Cao đẳng các ngành Túc Mễ, Rau Hoa, Hoa Màu Phụ, Nông Cơ, Kinh tế Nông thôn, Nuôi heo và Ngư Nghiệp. Trên các trường THNLS toàn quốc đã có 68 chi đoàn Nông Gia Tương Lai qui tụ trên 1.000 đoàn viên NGTLVN. Với những diễn tiến hoạt động vừa nêu trên thiết nghĩ ngành Giáo dục NLS bậc Trung học đã đáp ứng theo đường hướng phát triển ngành Giáo dục Nông Nghiệp của Chính phủ. Việt Nam là một nước Nông Nghiệp. Trong công cuộc phục hồi và tái thiết xứ sở sau chiến tranh, Nông nghiệp vẫn là chìa khóa căn bản để giải quyết mọi vấn đề. Do đó việc đào tạo chuyên viên , cán bộ Nông Nghiệp và huấn luyện Nông Gia giỏi, tiến bộ là công việc tối cần thiết cho chương trình trực tiếp hoặc gián tiếp yểm trợ tăng gia sản xuất và hoàn tất các dự án phát triển quốc gia và là một trong bốn công tác lớn mà Chính Phủ đã chính thức đề ra cho năm 1974.Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
TIẾN TRÌNH GIÁM ĐỐC NHA HỌC VỤ NÔNG LÂM SÚC:1- Ông Lâm Văn Vãng.2- Ông Lương Sĩ Chương.3- Ông Đỗ Thúc Vịnh4- Ông Đặng Quan Điện.5- Ông Hà Văn Thân.TỔ CHỨC NHÂN SỰ NHA HỌC VỤ NLS DƯỚI ĐỜI GIÁM ĐỐC HÀ VĂN THÂN;1- Ông Hà Văn Thân, Giám Đốc.2- Ông Hứa Văn Túc, Chánh sự vụ Hành Chánh và Học vụ.3- Ông Vương Quan Phước, Thanh tra viên.4- Ông Vũ Quốc Dũng, Thanh tra viên.5- Ông Trần Đắt Quới, Chủ sự phòng Hành chánh và Tài chánh.6- Ông Châu Kim Lang, Chủ sự phòng Học vụ và Khảo thí.7- Ông Phạm Hồng Hải, Trưởng Ban Khảo thí.8- Ông Vũ Minh Yên, trưởng Ban Học vụ.9- Cô Trần Kim Thạnh, Trưởng Ban đặc trách về các lớp chuyên viên và Cộng đồng.10- Cô Trang Kim Phụng, Trưởng Ban Văn thư.11- Ông Nguyễn Ngọc Khôi, Trưởng Ban Lương bổng.12- Ông Đỗ Hữu Kinh, Trưởng Ban Hành chánh.13- Và Ông Phạm Đắc Tường, Trưởng Ban Tư thục.BAN GIẢNG HUẤN CƠ HỮU:Từ trái sang phải:Hàng 1: Ô Hà văn Mới, Ô. Nguyễn Tuấn, Ô. Lê Châu Long, Ô. Vũ đình Chính, Ô. Hà văn Thân (Giám đốc Nha HV NLS) Ô. Nguyễn ngọc Điệp, Ô. Vũ hùng Chương,và Ông Nguyễn Trọng KhôiHàng 2: Ô. Đặng hữu Thạt (Trưởng ban Cao Đẳng Sư phạm NLS), Ô. Lâm Quan Tường, Ông Đinh Quan Trọng, Ô. Vương Quan Phước, Ô. Đặng ngọc Sơn, Bà Dương thị Tuấn Ngọc và Ô. Vũ quốc Dũng. Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
1- Ông Hà Văn Thân, Giám Đốc.2- Ông Hứa Văn Túc, Chánh sự vụ Hành Chánh và Học vụ.3- Ông Vương Quan Phước, Thanh tra viên.4- Ông Vũ Quốc Dũng, Thanh tra viên.5- Ông Trần Đắt Quới, Chủ sự phòng Hành chánh và Tài chánh6- Ông Châu Kim Lang, Chủ sự phòng Học vụ và Khảo thí.7- Ông Phạm Hồng Hải, Trưởng Ban Khảo thí.8- Ông Vũ Minh Yên, trưởng Ban Học vụ9- Cô Trần Kim Thạnh, Trưởng Ban đặc trách về các lớp chuyên viênvà Cộng đồng.10- Cô Trang Kim Phụng, 11- Ông Nguyễn Ngọc Khôi, 12- Ông Đỗ Hữu Kinh, 13-Ông Phạm Đắc Tường, Trưởng Ban Văn thư. Trưởng Ban Lương bổng Trưởng Ban Hành chánh. Trưởng Ban Tư thục.NHÂN SỤ NHA HỌC VỤ NÔNG LÂM SÚCKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Giới thiệu khóa 8 CĐSP NLS Sài Gòn (73knn ĐHSPKT)Bài viết: Thầy Châu Kim LangTrước năm 1975 ở Miền Nam có ngành giáo dục trung học Nông Lâm Súc (1963-1975). Để tạo đội ngũ giáo viên cho các trường trung học NLS, Nha Học vụ NLS đã tổ chức 8 khóa đào tạo “giáo sư trung học đệ nhất cấp NLS” và 2 khóa đào tạo “giáo sư trung học đệ nhị cấp NLS”.Khóa đầu tiên mở vào năm học 1966-1967, theo nghị định số 472 – GD/PC/NĐ ngày 22-3-1967 gồm các ban: canh nông, mục súc, thủy lâm, ngư nghiệp, công thôn, và sinh hoạt gia đình. Thí sinh dự thi phải có tú tài 2 Nông Lâm Súc hoặc văn bằng tốt nghiệp kiểm sự. Thời gian đào tạo là 12 tháng, gồm 9 tháng học lý thuyết và thực hành, 2 tháng tập sự tại các cơ sở chuyên môn, 1 tháng thực tập tại các trường trung học NLS và vùng nông thôn liên hệ. Đến khóa 7, thời gian đào tạo là 2 năm, bổ sung nhiều môn sư phạm.Khóa 8 đang học năm thứ hai sắp sửa ra trường thì ngày 30 tháng 4 đến… nên phải tiếp tục học ở Đại học sư phạm kỹ thuật Thủ Đức, với tên gọi khóa 73 KNN.Khóa 8 CĐSP NLS (thống kê năm 1974) có 4 ban:Canh nông : 33, Mục súc: 32; Công thôn: 15; Sinh hoạt gia đình: 15 Tổng cộng: 95 giáo sinh (thống kê theo Danh sách giáo sinh trong Kỷ yếu Nông Lâm Súc 1974. trang 12-13)Tôi tham gia giảng dạy khóa 8 với môn”Khảo hạch và thi cử” Sau hơn 40 năm nhiều mất mát, hiện tôi còn lưu giữ để làm kỷ niệm bài làm của 3 nhóm:-Phạm Hoàng Em, Trần Văn Chính, Nguyễn Thị Mỹ, Phạm Thị Sang: “Kết quả miễn thi tú tài II NLS Trường TH NLS Bảo Lộc từ 1965-1974” -Nguyễn Hoàng Minh, Đoàn Văn Thành: “Kết quả miễn thi tú tài II NLS Trường TH NLS Cần Thơ từ 1968-1974” -Lương Thị Xuân Hoa, Nguyễn Thị Thu An, Võ Khắc Đức, Dụng Đê: “Kết quả miễn thi tú tài II NLS Trường TH NLS Tây Ninh từ 1971-72 đến 1973-74”.– Buổi họp mặt năm nay (22/11/2015) của khóa 8 CĐSP NLS còn vỏn vẹn 20 giáo sinh, gặp lại bao vui buồn lẫn lộn giữa hiện tại và quá khứ…Châu Kim LangKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Phần II NHỚ VỀ THẦY CÔKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Nhớ Về Đồng Nghiệp XưaBài viết của Thầy Nguyễn Tuấn Sau mấy năm “tu học” ở chân núi Bà Đen, tôi trở về đời sống dân thường với nghề cầm phấn như cũ. Vật đổi sao rời, Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc Sài Gòn (CĐSPNLS) nay đã trở thành Khoa Nông Nghiệp của trường Đại Học Sư Phạm Kỹ thuật Thủ Đức (ĐHSPKTTĐ). Từ đó đến nay đã gần 40 năm trôi qua. Các thầy cô trong khoa, người kiên trì ở lại, người phiêu bạt ra nước ngoài và ở đâu cũng có kẻ còn người mất. Không nhiều thì ít, tôi đã có những kỷ niệm với các đồng nghiệp trong khoa nay đã vĩnh viễn ra đi khỏi cõi trần này…1-Thầy Vũ Đình Chính.Tôi dạy ở CĐSPNLS Sài Gòn từ 1973 và bác sĩ Vũ Đình Chính cũng dạy ở đấy nhưng tôi ít tiếp xúc với thầy, chỉ thỉnh thoảng thấy thầy lái chiếc Mazda xinh xắn đi dạy. Qua năm 74 thầy được cử làm khoa trưởng phân khoa Nông Nghiệp thuộc Đại Học Canh Nông Minh Đức. Thầy mời tôi dạy thực tập môn Mô học (Histology) và từ đó thầy và tôi gần gũi nhau hơn. Đầu năm 78 khi tôi trở về ĐHSPKTTĐ thì thầy đang là trưởng khoa Nông Nghiệp. Gặp lại nhau sau cuộc đổi đời, thầy nhìn tôi với tia nhìn thăm dò, ngần ngại. Tôi hiểu ý và … sau”ván bài lật ngửa” thầy thông cảm tôi hơn...Một buổi trưa thứ bảy tôi đang dạy thì có học trò đến nhắn là thầy khoa trưởng mời về khoa gặp thầy ngay sau khi hết giờ dạy. Tôi tưởng là có chuyện gì quan trọng ở khoa nhưng không phải. Thầy chỉ muốn mời tôi đi ăn cơm trưa. Khi biết tôi có mang lon guigoz cơm theo rồi thì thầy rủ tôi đi uống cà phê. Nói chuyện lòng vòng một hồi, thầy ngỏ ý nhờ tôi đến chữa bệnh cho một con heo của một “chức sắc” trong làng đại học. Lúc ấy tôi đang hành nghề chích dạo nên lúc nào cũng mang theo túi đồ nghề với thuốc men cần thiết. Con bệnh là một heo nái to đùng nằm lừ đừ. Nhìn con heo tôi hiểu tại sao thầy nhờ tôi. Thầy đã có tuổi, dáng người hơi nặng nề và chậm chạp thì làm sao nhảy vào chuồng trị cho con heo này được. Sau khi khám bệnh và chích thuốc ngay hôm ấy và thêm 2 lần nữa con heo khỏi hẳn.Từ đó thầy hay trò chuyện, tâm tình với tôi bên ly cà phê đen đậm quánh. Lạ một điều là thầy uống cà phê càng đậm càng ngủ ngon! Thầy rủ tôi đến các bạn quen của thầy ở Sài Gòn và thỉnh thoảng thầy đi xích lô đến thăm tôi mỗi khi thầy có quen bà bạn nào mới. Thầy nói Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
chuyện với các bà ngọt lắm và hấp dẫn lạ khiến tôi lúc nào cũng say mê nghe…Vào ngày mùng một tết một năm thuộc thập niên 80 tôi đang lo cúng kiến ở bàn thờ thì nghe tiếng pháo nổ vang ở cửa. Tôi quay ra thì thấy khói pháo mù mịt và rất ngạc nhiên khi thấy thầy Chính đang đứng ngay trước cánh cửa sắt khép hờ. Tôi vội chạy ra mở cửa thì thấy ca- vát và cổ áo vest của thầy bị ám khói. Thì ra thầy đến chúc tết và muốn làm tôi ngạc nhiên nên đã mang theo phong pháo rồi treo vào cửa sắt đốt, chẳng may pháo nổ nhanh quá, thầy chạy không kịp! May là thầy không bị thương tích nào, chỉ bị hư hao ve áo.Sau đó ít lâu thầy rủ vợ chồng tôi đi theo tour lên Đà Lạt cùng bà bạn của thầy. Chúng tôi ở chung khách sạn, ăn uống chung và cùng đi ngoạn cảnh . Khi đến Thung Lũng Tình Yêu, mới xuống dốc được một quãng trước thầy vài bước thì thầy gọi và nói tôi cứ xuống còn thầy ngồi chờ ở trên. Tôi ngước lên nhìn thầy và chợt thấy vẻ mệt mỏi ẩn tàng nỗi buồn lực bất tòng tâm.Ngày tháng qua nhanh, thầy được xuất ngoại xum họp với gia đình bên Mỹ. Tôi đã hẹn sẽ ra phi trường tiễn thầy nhưng trên đường từ Thủ Đức về xe tôi cán phải đinh. Lết được đến chỗ vá và về đến Sài Gòn thì trễ giờ quá rồi. Về sau tôi được biết thầy chờ tôi khá lâu, đến phút chót mới vào trong để làm thủ tục. Tôi cứ áy náy mãi về chuyện thất hẹn này.Chỉ một thời gian ngắn sau khi qua Mỹ thì thầy từ trần. Ít lâu sau tôi cũng được định cư ở xứ cờ hoa. Tôi đã bay sang San Francisco gặp người bạn cũ của thầy hỏi thăm về những ngày cuối của thầy nhưng người bạn ấy cũng không biết gì hơn.Bác sĩ Chính ơi, bác sĩ đã cho tôi xem một số bài thơ của ai đó. Tôi thích một số câu rồi hình thành giai điệu. Qua đây có điều kiện thuận tiện hơn tôi đã hoàn chỉnh thành ca khúc nhưng bác sĩ không còn nữa để hỏi tác giả lời thơ là ai nên đành phải ghi “khuyết danh” nhưng tình cảm của tôi với bác sĩ và các bạn vẫn “Còn đó chưa quên” đâu bác sĩ Chính ạ.2- Thầy Nguyễn văn Hạnh.Thầy Nguyễn văn Hạnh tốt nghiệp kỹ sư trước tôi hai khóa. Thầy đã từng làm hiệu trưởng của mấy trường trung học nông lâm súc lớn nhất Việt Nam. Khi tôi về lại khoa thì thầy đang là trưởng bộ môn Trồng Trọt. Thầy có nước da trắng trẻo, khá đẹp trai, rất năng nổ và ăn nói lúc nào cũng nhẹ nhàng, làm vui lòng mọi người .Thầy và tôi có một điểm chung là thích văn nghệ. Thầy hay lên sân khấu còn tôi thì chỉ ngồi dưới đóng vai vỗ tay tán thưởng. Hồi ấy ở khoa nông nghiệp cứ khoảng 12 giờ trưa là các cửa sổ và cửa ra vào đều được khép lại và ai cũng… leo lên bàn nằm nghỉ(!). Tôi cũng vậy. Ngả lưng xong tôi hay nghêu ngao vài câu nhạc cũ như “Em không nghe mùa thu, lá thu rơi xào xạc..” Thường tôi chỉ hát xong câu đầu là thầy Hạnh đi bè các câu sau ngay để rồi cùng vào cõi mộng lúc nào không hay.Thầy Hạnh có mấy cháu đều đẹp giai , đẹp gái, học giỏi và có cháu vẽ rất tài. Cháu đã vẽ trước mắt tôi cảnh hai võ sĩ đấu kiếm với dáng vóc linh hoạt trông như thật. Tôi thỉnh thoảng cũng đưa hai con nhỏ lên trường và mấy cháu chơi chung với nhau rất vui. Vì thế tôi với thầy Hạnh khá thân. Vào thời buổi khó khăn về kinh tế lúc ấy ai cũng phải bương chải để kiếm sống. Bà xã tôi thì “cắm dùi” ở khu chơ Tân Định. Thầy Hạnh đề nghị cho bà xã thầy cùng ra chợ Tân Định với bà xã tôi kiếm sống qua ngày nhưng chỉ sau vài tháng thì bà xã thầy rút lui có lẽ vì vất vả quá.Thầy thực hiện việc trồng mía trong trường. Vườn mía phát triển tốt, cây lá xanh um trông thật mát mắt. Khi thu hoạch thì thật bất ngờ: mãi sâu trong vườn mía có nhiều bã mía. Thì ra vì vườn mía tốt tươi rậm rạp quá khiến trong đêm trăng thanh vắng chắc đã có ai đó Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
vào sâu bên trong “thu hoạch” một phần nào trước rồi! Thầy cũng thành lập vườn lan cấy mô. Thỉnh thoảng trên đường vào khoa tôi đã thấy các nhánh lan trổ bông tím trông thật đẹp mắt. Thầy Hạnh có tài tổ chức nên sau khi nghỉ ở trường khoảng cuối thập niên 80, thầy vẫn năng nổ hoạt động và làm giám đốc cho một công ty xuất cảng nông sản mà trụ sở gần bệnh viện Từ Dũ. Tôi thỉnh thoảng vẫn ghé thăm thầy, cùng thầy hàn huyên bên ly cà phê và đôi khi cũng tham gia họp bạn văn nghệ.Rồi tôi được định cư bên Mỹ. Sau đó mấy năm thầy cũng có dịp sang Hoa Kỳ. Chúng tôi đã liên lạc để gặp nhau nhưng thầy kẹt chuyện bất ngờ và không thể đến tôi được. Bẵng đi một thời gian khá lâu tôi không có tin tức gì về thầy. Thì ra thầy bị bạo bệnh và sau đó đã ra đi để lại bao luyến tiếc cho bạn bè và các môn sinh cũ.3- Thầy Nguyễn Thanh Vân.Thầy Nguyễn Thanh Vân học cùng khóa với thầy Hạnh ở trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài gòn. Thầy cũng đã làm hiệu trưởng hoặc giám học ở một số trường trung học nông lâm súc, rồi trưởng ban CĐSPNLS trước khi về làm chủ nhiệm bộ môn thú y & chăn nuôi thuộc khoa nông nghiệp ĐHSPKTTĐ. Thầy chịu khó viết sách và đã có những đầu sách được xuất bản để dùng cho các trường trung học.Hàng năm tôi và thầy đều cùng ngồi gần nhau chấm thi tuyển sinh môn sinh vật và đôi khi cả môn hóa khi thiếu người. Thầy đã làm ở các hội đồng thi nhiều lần và chấm thi lâu năm với nhiều kinh nghiệm nên thầy chấm bài thi rất nhanh. Mỗi khi lãnh tiền chấm thi tôi thường cùng thầy ra quán trước cổng trường ăn uống, cà phê thuốc lá…Thầy Vân tính tình xuề xòa, ít nói, ít cười và dường như có nỗi buồn sâu lắng bên trong nhưng tôi không đủ thân để thầy tâm sự. Hình như thầy thân với các sinh viên hơn là các đồng nghiệp. Có lần ngồi cùng băng ghế trên xe từ trường về Sài Gòn tôi thấy thầy lừ đừ mệt mỏi quá nên đã xuống xe cùng trạm với thầy để đưa thầy về nhà ở khu nhà thờ Tân Dịnh. Tôi dìu thầy lên cầu thang vào nhà thì thầy xua tay từ chối và nói nhỏ nhẹ: “Đừng để bả thấy, bả rầy!” Tôi trông chừng tấm thân gầy guộc, xiêu vẹo lên hết cầu thang mới dám quay đi. Tôi bỗng thấy xót xa và tội nghiệp thầy quá.Có lần thầy bị bệnh. Tôi phải đem tiền lương đến cho thầy lúc đó đã chuyển sang khu cư xá Thanh Đa. Đến thật sớm nhưng thầy không có nhà.Bà xã thầy chỉ xuống cái quán ở dưới tầng trệt. Tôi xuống thì thấy thầy đang ngồi bất động, mắt nhìn xa xăm và trên bàn chỉ có cái ly nước nhỏ và vài quả cóc. Tôi định ngồi lâu để có dịp nghe thầy tâm sự nhưng sau khi nhận lương, thầy nói cám ơn và bắt tay giã từ. Thế là tôi lên xe về và chẳng có dịp nào để thầy thổ lộ tâm tình nữa.Sau đó tôi định cư bên Mỹ và không được tin tức gì về thầy. Cuối cùng được tin thầy đã mất, không rõ năm nào. Cầu mong thầy đang được an vui ở một cõi lành.4- Cô Võ Thị Thúy Lan.Cuối năm 1967 tôi cầm sự vụ lệnh lên trường trung học NLS Bảo Lộc để nhận việc. Lúc ấy cô Võ Thị Thúy Lan đã dạy ở đó rồi. Chưa được thu xếp giờ dạy thì xẩy ra biến cố Tết Mậu Thân, tôi phải nhập ngũ và năm 1969 mới trở lại trường.Cô Lan ra trường trước tôi hai khóa và chuyên dạy môn Côn Trùng Học. Cô có dáng người thanh thoát, dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ và am hiểu đạo Phật. Cô cùng cô Tuấn Ngọc ở chung trong một villa xinh xắn trong trường.Thỉnh thoảng tôi ghé thăm hai cô và thường được đãi món chè nóng. Ở xứ lạnh Bảo Lộc mà được thưởng thức ly chè nóng thì thật là tuyệt… Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Sau khi rời Bảo Lộc cô về Sài Gòn dạy ở CĐSPNLS và sau đó là khoa Nông Nghiệp ở Thủ Đức.Điểm đặc biệt là học trò của cô từ trung học lên đến cao đẳng hay đại học đều rất kính trọng, quí mến cô vô cùng do cô rất dịu dàng và tận tụy với học trò. Về sau một bạn thân của tôi lập gia đình với em gái của cô nên không những tôi gặp cô tại trường mà còn gặp cô thêm tại nhà thành thử tôi ngày một thân với cô hơn. Tôi rất hợp với cô khi đàm đạo về Phật pháp. Đầu thập niên 90 cô qua Hoa Kỳ và định cư ở tiểu bang Colorado. Thỉnh thoảng tôi vẫn điện thoại cho cô để nói chuyện về Phật pháp.Cô tu tập nghiêm chỉnh lắm chứ không …lè phè như tôi! Về sau cô không được khỏe có lẽ do bệnh suyễn kinh niên nên phải vào nhà dưỡng lão để việc chăm sóc được đầy đủ hơn. Từ đó tôi ít liên lạc với cô. Khi được biết nhóm cựu học sinh NLS Bảo Lộc rất mong gặp lại cô, tôi đã cho số phone để liên lạc. Cuối cùng thầy trò đã gặp nhau sau 40 năm xa cách.Cô Lan cứ yếu dần vì bệnh suyễn và đã từ giã cõi đời vào năm 2010.Có lẽ cô đang vui sống và tu tập ở cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà.5- Thầy Trần hiệp Nam.Khi tôi bắt đầu dạy ở CĐSPNLS Sài Gòn thì thầy Trần Hiệp Nam cũng dạy ở đấy đồng thời kiêm nhiệm chức Chánh sự vụ của Nha Học Vụ NLS.Trong thời gian này tôi ít gặp thầy, khi trở lại khoa Nông Nghiệp tôi mới tiếp xúc với thầy nhiều hơn.Thầy Nam tốt nghiệp PhD. ở Hoa Kỳ, người tầm thước, dáng đẫy đà, đeo kính cận và trông rất nghiêm nghị. Thầy đón xe lên trường cùng một trạm với tôi nên mỗi khi chờ xe tôi thường nói chuyện vãn với thầy, toàn là những chuyện nghiêm chỉnh vì dường như thầy không thích nói đùa.Thầy chỉ dạy ở khoa Nông Nghiệp khoảng 4 năm thì thầy và gia đình tìm đường vượt biên.Thầy không thoát.Tôi được khoa giao nhiệm vụ dạy môn Sinh lý Động Vật thay cho thầy ở khoa Nữ Công.Một thời gian sau thầy được về nhưng mất hộ khẩu. Một hôm tôi đang ở khoa thì con gái thầy tới tìm ngỏ ý nhờ tôi hướng dẫn xin giấy chứng nhận thầy đã dạy ở trường . Tôi lên văn phòng trường và đã xin được giấy ấy để bổ túc hồ sơ xin hộ khẩu cho thầy và gia đình. Chắc cuộc sống lúc bấy giờ khó khăn quá nên ít lâu sau thầy lại đi và lần này thì thoát được sang Mỹ.Tôi mất liên lạc với thầy từ đấy. Sau này khi qua Mỹ tôi được biết thầy đã từ trần vì đau yếu và cũng không biết thầy mất năm nào, gia đình thầy bây giờ ra rao. ****Có người cho rằng cõi trần này là cõi tạm, là nơi thử thách, là nơi thực tập để mỗi người có những thăng tiến về tâm linh. Cũng có người cho rằng cuộc đời là một tấn tuồng mà mỗi chúng ta là một diễn viên với các vai khác nhau. Khi màn nhung kéo khép lại, vở tuồng đã hết thì vai trò của diễn viên cũng hết, chấm dứt cuộc đời. Người khác lại so sánh cõi trần này với một chuyến xe lửa: luôn có người lên và kẻ xuống ở mỗi trạm. Chuyến xe lửa cuộc đời này mang nhiều niềm vui và nỗi buồn, chia ly và đoàn tụ.Có lẽ ai cũng đúng cả! Chúng ta đã có duyên gặp một số người trong một khoảng thời gian nào đó trong cuộc sống và rồi bỗng chia tay. Tôi đã dạy ở khoa Nông Nghiệp khoảng 14 năm, đã quen biết nhiều đồng nghiệp và đến nay một số đã vĩnh viễn ra đi. Các vị ấy đều để lại trong tôi những kỷ niệm đẹp, khó phai. Tôi không tin chết là hết mà chỉ là khởi đầu của một cuộc sống mới. Cầu mong tất cả những đồng nghiệp đã khuất đều đang có cuộc sống mới tốt đẹp hơn ở một cõi an lành. Nguyễn Tuấn Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Thái Minh DưỡngChân dung Thầy Cô Khoa Nông Nghiệp ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật qua phác họa của tôiThầy Vũ Đình Chính(Khoa Trưởng)Thầy Trần Vinh Quang(Khoa phó)Thầy Châu kim Lang (SP)Thầy Nguyễn Tuấn (TYCN)Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Chân dung Thầy Cô Khoa Nông Nghiệp ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật qua phác họa của tôiThái Minh DưỡngThầy Nguyễn văn Hạnh (CN)Cô Nguyễn thị Diệu Hồng (CN)Thầy Phạm phi Hoành (CT)Cô Võ Thúy Lan (CN)Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Thái Minh DưỡngChân dung Thầy Cô Khoa Nông Nghiệp ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật qua phác họa của tôiCô Dương thị Tuấn Ngọc (TYCN)Thầy Nguyễn Thanh Vân (TYCN)Thầy Hà Văn Mới (TYCN)Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Thầy Hà văn Thân (GĐ Nha học Vụ NLS)
Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)THƠ GHÉP TÊN GIÁO SINH CĐ SƯ PHẠM NLSThầy Châu Kim Lang
Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)THƠ GHÉP TÊN GIÁO SINH CĐ SƯ PHẠM NLSThầy Châu Kim Lang
Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)THƠ GHÉP TÊN GIÁO SINH CĐ SƯ PHẠM NLSThầy Châu Kim Lang-Thiên Ve
Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)THƠ GHÉP TÊN GIÁO SINH CĐ SƯ PHẠM NLSThầy Châu Kim Lang
Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)THƠ GHÉP TÊN GIÁO SINH CĐ SƯ PHẠM NLSThầy Châu Kim LangD
Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)THƠ GHÉP TÊN GIÁO SINH CĐ SƯ PHẠM NLSThầy Châu Kim Lang
THẦY TÔI Thơ 5 chữ liên vậnTranh: Quán Bên Đường Thái Minh DưỡngKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Phần III KỶ NIỆM THỜI SINH VIÊNKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Mùa hè 1973, trúng tuyển vào Khóa 8 (K8) Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc (CĐSPNLS), đời tôi như đường rầy xe lửa đã đặt: 2 năm sau ra trường, đi dạy ở một trường trung học NLS nào đó trong 44 tỉnh của miền nam, rồi lập gia đình sanh con đẻ cái và ... chấm hết. Thế nhưng đâu dễ vậy, đúng lúc chúng tôi chuẩn bị ra trường thì 30 tháng 4 năm 1975 đến. Biến đổi này làm đảo lộn chương trình biết bao nhiêu cuộc đời, với tôi khúc quanh này làm tôi trật đường rầy, sau 2 năm nữa học tập chính trị và bổ sung các môn học để làm đề tài tốt nghiệp, tôi thành một cán bộ hệ Cao đẳng ngành chăn nuôi, được đưa về làm việc 2 năm ở tỉnh Cửu Long lúc đó (nay lại tách ra như cũ làm Vĩnh Long và Trà Vinh) rồi định mệnh đẩy đưa cuối cùng tôi mọc rễ tại vương quốc Đan Mạch này.Một lần Nông Lâm Súc, cả đời Nông Lâm Súc. 3 năm trung học áo nâu, thêm 2 năm K8, không dài so với tuổi đời đã ngoài 60, nhưng với tôi, chúng đã thành kho tàng kỷ niệm to lớn và quý giá nhất, là những bến bờ để nhìn lại với những trân trọng nhất. Những bến bờ mình đã sống quãng đời đẹp nhất với các thầy cô yêu kính và những bạn bè thân thiết nhất. NHA HỌC VỤ NÔNG LÂM SÚC (SÀIGÒN)Nha Học Vụ Nông Lâm Súc (NHVNLS), ngôi trường đầu tiên đón nhận K8 chúng tôi. Nha, ngoài căn nhà xây cao hơn đường vài bậc tam cấp dùng làm văn phòng, có cửa hông là nơi chúng tôi tháng tháng xếp hàng lãnh học bổng (le lắm chứ, lần đầu tiên trong đời \"làm\" ra tiền mà, 1800 đồng 1 tháng thì phải), có dẫy lớp 2 căn dọc theo hàng rào bên phía giáp với toà Đại Sứ Mỹ. Trước NHVNLS có cái sân nhỏ, ngăn phía đường lộ bằng một cổng chấn song, cạnh cổng phía trong một bên có một cái chòi gác nhỏ. Tại chòi gác này, nơi mà tôi và các bạn nam giờ nghỉ thường ngồi tán gẫu và ngắm người qua lại ngoài đường , nói cười thư giãn.KHÓA 8 CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NÔNG LÂM SÚC THEO TRÍ NHỚ CỦA TÔIHOÀNG QUANG TUYẾNKỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
THẦY CÔ Thầy Cô K8 chúng tôi thời đó là những giáo sư, nhà giáo đúng theo nghĩa truyền thống. Thầy Cô gọi chúng tôi là \"giáo sinh\". Thầy Cô chúng tôi không xem dạy học chỉ là một nghề mà là một thiên chức. Chúng tôi cảm nhận được điều này qua tình yêu thương và sự tận tụy của Thầy Cô.Thưa các Thầy Cô kính mến, kiến thức chúng em được các thầy cô truyền đạt đã thật hữu ích cho chúng em trên mọi nẻo đời, mọi nghề nghiệp. Nhưng quan trọng hơn nữa, thầy cô đã dạy dỗ cho chúng em cách sống mẫu mực của nghề Sư Phạm, Chúng em luôn nhớ Quý Thầy Cô. THỰC TẬP BẢO LỘCCuối năm 1973, vài, sau khi tập trung sinh hoạt đầu khóa học, chúng tôi được đưa đi thực tập ở nội trú TH NLS BL , thời gian hơn 1 tháng chung sống nội trú này đã cho chúng tôi biết bao kỷ niệm. Ngày đầu, sau chuyến xe đò đường dài Sài Gòn-Bảo Lộc, và sau khi đã nhận phòng, có lệnh đi lãnh đồ ngủ kịp trước khi trời tối. Thế là như ong vỡ tổ, con đường từ nhà kho ký đến ký túc xá nhộn nhịp với người khiêng, người vác, người khuân giường, chiếu ….về phòng. Nhiều bạn nam còn có dịp ga-lăng đỡ cho các người đẹp dù mình đã bở hơi tai. K8 chiếm 2 ký túc xá, nam một nữ một. Tôi với Nguyễn Trung Hiếu (CN-BD) được cử làm trưởng và phó KTX nam, tôi cũng không còn nhớ ai trưởng ai phó nữa.Đời sống thực tập bắt đầu và bao gồm các mục chính hằng ngày: ăn, học, phụ bếp và... chơi. Ăn thì ngày ít nhất 2 bữa, (tôi không còn nhớ có bữa sáng hay không) Học thì có lý thuyết trong lớp, có thực tập và đi thăm thực địa. Về thực tập của lớp MS, tôi chỉ còn nhớ thay phiên trực trại gà đẻ, nhặt, đếm trứng rồi ghi sổ, và một lần đi thăm trại nuôi heo để xem lấy tinh nhân tạo.Công tác phụ bếp thì có cưa, chẻ củi, khuân vác, bưng dọn và để các chị Sinh Hoạt Gia Đình (SHGD) “sai vặt!” Phần thưởng thường là cơm cháy nóng giòn rưới mỡ chấm nước mắm pha, ngon khỏi chê.Trong các bữa ăn trên căng-tin, các phần ăn được phát trên khay inox, có làm các chỗ lõm để chia riêng cơm và thức ăn, các món ăn thay đổi, trừ món thường trực là nước mắm pha. Các phần ăn được chiếu cố tận tình, khay thường được vét sạch bóng, không rửa chắc cũng không sao. Một phần nhờ các chị SHGĐ nữ công gia chánh có sách vở, có bài bản, phần khác chắc do khí hậu lạnh và mọi người đang trong tuổi \"nam thực như hổ, nữ thực hơn nam\".Màn tắm rửa mới ly kỳ chứ. Vài ba lần trong tháng, phòng chúng tôi rủ nhau ra hông château d'eau, nghiến răng xối nước cho lẹ rồi lập cập chạy về lưu xá. Cũng có hôm đụng các chị cũng ra tắm khuya, nhưng khôn hơn, mặc nguyên quần áo tắm cho đỡ lạnh .Cuối thực tập là vài ngày viết báo cáo và kết thúc bằng một tối lửa trại. Viết báo cáo, chúng tôi bận rộn suốt ngày viết cũng có, mà copy nhau phần mở kết cũng có, nam sinh dịp này được cho phép ra vào lưu xa nữ. Có ai tìm lại được những báo cáo này, chắc kỷ niệm ùa về cản không kịp. Thời gian viết báo cáo, ai cũng mệt mỏi vì căng thẳng và mất ngủ được đền bù bằng một đêm lửa trại ấm áp và vui. Các danh tài văn nghệ của khóa, lộ tài hay dấu tài, đêm hôm đó được \"moi\" ra hết. Các bài hát được các \"ca sĩ\" chọn lựa kỹ lưỡng để nhắn gởi đến người mình muốn nói. Cuộc vui kéo dài gần đến sáng mới chấm dứt trong sự tiếc nuối của mọi người, nhất là những cặp đôi đã bắt đầu lộ diện. Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
BẠN Trước hết phải kể đến những người bạn cùng phòng: Khang, Tường, Thục, Nam, Ninh. Tạ trọng Khang (MS) đã là bạn thân tôi từ thời trung học. Việc Khang và tôi thân nhau có một xuất xứ hơi buồn cười. Ba của Khang và má tôi đưa chúng tôi nhập học NLS BD. Ông bà trò chuyện với nhau chắc hợp, nên trên đường lúc về má tôi khuyên \"chơi với Khang, nhà nó tốt”.Trần văn Tường (MS-TN) biệt hiệu Tường \"Thành-phố-buồn\" vì khi chàng hát bản \"Thành phố buồn\" thì \"cua trong lỗ cũng phải bò ra\" mà ... cười. Tường có mái tóc trán gợn sóng, đầu nghiêng nghiêng, thật hiền. Mùa hè 1974, Tường rủ chúng tôi về quê TN chơi vài ngày. Nơi đây người ta kêu Tường là thầy Bẩy. Tại TN lần đầu tiên tôi được thử tát dìa, lội kéo lưới bắt cá dọc bờ sông Vàm cỏ, và làm quen với đỉa. Một hình ảnh, nhớ lại tôi vẫn còn bật cười: Thục đang mò cá dưới ruộng bỗng hét thất thanh và với một tốc lực kinh khủng vọt lên bờ ruộng, đó là lần đầu tiên chàng tiếp xúc với một con đỉa. Cuối ngày \"lao động\", mặt trời lặn, ngay trên ruộng khô, với cá tươi nướng và một bi-đông rượu đế cho ấm lòng, chúng tôi ngất ngưởng tưởng mình là những tiên ông.Bạch Đức Thục, là người Huế của thơ và mộng, thuộc nhiều thơ nhưng đắc ý nhất là \"em ơi lửa tắt bình khô rượu, đời vắng em rồi say với ai\". Thục bán trời không văn tự, có lần mượn giầy tôi đi đám cưới, hoài không thấy trả, hỏi ra thì Thục thú nhận đã đem bán xài hết rồi, và nhe răng cười trừ. Khi đang theo đuổi một người đẹp nào, Thục thường rên với tôi \"yêu quá mi ơi”.Trịnh Đình Nam, (CT-BD), nhà ở khu có nhiều chủ dệt giàu có gốc gác tỉnh Quảng Nam trên ngã tư Bảy Hiền. Nam thư sinh trắng trẻo, nhưng hay ấp úng nên thường bị bọn chúng tôi \"át giọng\". Nam học CT, để ý một người bạn gai lớp MS chúng tôi. Người bạn gái mà ai cũng biết này chắc cũng biết nhưng có lẽ Nam chưa thổ lộ trực tiếp nên kết thúc không \"có hậu\".Trần Quang Ninh (CN-TN) cao lênh khênh, dáng vẻ lừng khừng, nói chậm rãi và ít, chúng tôi đi đâu cũng đi, nhưng không chủ động món nghịch nào cả. Cả thời gian K8 không thấy để ý bạn gái nào, kín đáo, it nói khó \"khui\", mãi đến sau này tôi mới nghe nói người yêu cũ thời TH của Ninh đang học cùng lớp CN khóa 8.Ngoài ra còn một số bạn mà thời gian BL đã khiến tôi thân hơn hay mến mộ.Trước hết hãy kể đến các bạn cùng lớp MS:Trần thị Huệ (MS-BD): Hồi BD, chúng tôi hình như chỉ trò chuyện một lần. Người bạn này thường có những nhận xét sâu sắc, thời gian K8 dời về Thủ Đức, Trần Bình Đông làm lớp trưởng, người-một-thời-yêu-dấu của tôi làm phó, hay phải đi họp với nhau sau giờ học. Tôi thường ở lại chờ. Chờ chán tôi đâm cáu, bèn ghen tuông. Trần thị Huệ, lúc đó thân với Trần Bình Đông, có nói với tôi một câu, một câu thôi mà khiến tôi lấy lại tự tin quên đi vụ ghen tuông. Câu này có lẽ Huệ đã quên, nhưng tôi vẫn nhớ.Nguyễn thị Thu Tuyết (MS-PR), người được Khang cho chung danh hiệu \"xì-trum\" với Huệ, chắc vì cả hai cùng có dáng người nhỏ nhắn. Những ngày học ở (NHVNLS), có nhiều chiều trên đường về, cùng đường với Tuyết. Tôi chạy xe gắn máy một tay (có khi chở Thục đàng sau), tay kia đẩy xe đạp mini Thu Tuyết trên đường Công Lý. Hình ảnh Thu Tuyết lúc đó, giữa dòng xe cộ ùn ùn, mắt nhìn thẳng (không té chết làm sao) tóc dài bay Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
bay là hình ảnh rõ nét nhất trong trí nhớ của tôi về cô bạn xì-trum này.Văn Thị Thu Vân (MS-TN), chị điềm đạm, nói cười nhỏ nhẹ, là một trong những bạn gái được nhiều người chọn làm đối tượng nhất khóa. Tôi thân chị nhiều hơn lúc về TTYB2, và vẫn còn liên lạc thời gian đầu khi chị mới ra trường về TN. Khi mạng toàn cầu bắt đầu phổ biến, chị với Thái Minh Dưỡng, là 2 trong những đầu tàu tích cực nhất nối kết K8 với những trang mạng khóa, messenger và các lần tổ chức họp mặt hay thăm viếng các bạn ốm đau hoặc gia đình có tang.Nguyễn Văn Chơi (MS-TN), lúc đi làm ở Cửu Long, tôi về Sài Gòn thăm nhà mỗi tháng một lần. Thời gian này Nguyễn văn Chơi thỉnh thoảng có việc lên SG, thường ghé tôi để cùng ra một quán nào đó gần nhà, thường là quán \"nó đây rồi\" (cầy 7 món) để ngất ngưởng với 1-2 xị rượu thuốc. Chơi vừa người, tóc hơi xoăn, nói năng điềm đạm hay cười cười. Tôi mến Chơi lắm, thời gian về thực tập tại Trạm Thú Y B2 gần ngã tư Bảy hiền, Chơi còn là thợ cắt tóc bằng kéo rất \"vui lòng khách đến vừa lòng khách đi\" cho hầu hết nam cư dân chúng tôi.Kiều văn Xương (MS-ĐT) có biệt danh chú Sáu. Xương là một trường hợp đặc biệt khác với đa số chúng tôi: anh đã có vợ con. Kỷ niệm sâu đậm nhất tôi có với anh Xương là một chiều ghé Mỹ Tho thăm nhà anh. Xuống xe đò tôi nhớ đã chiều, anh chị Xương đã đãi chúng tôi một chầu nhậu \"nhớ đời\". Đó là lần đầu tiên tôi ăn canh chua cá vồ, ngon và nhậu bắt đến nỗi từ đó tới nay tôi không thấy cá nào nấu canh chua qua mặt được tô canh chua hôm đó, dù là với cá đồng dạng như cá bông lau, catfish hay cá ba-sa. Tình bạn thân mật trong khung cảnh yêu thương của gia đình anh, tôi vẫn nhớ như in. Lúc biết tin chị qua đời cách nay đã lâu, tôi ngậm ngùi. Cầu mong chị yên nghỉ. Cùng chuyến đi đó chúng tôi có ghé thăm nhà chị Trần thị Vinh và chị Lê thị Ngọc Anh , ấn tượng tôi còn là những bụi mía tím to bằng cổ chân.Quách Anh Hào (MS-ĐT), thân với Nguyễn Phi Hùng (MS), Tiêu Thành Khoa, Chơi. cuối căn lớp mà đuôi hướng ra đường tại NHVNLS, ngay cửa ra vào, giờ chơi có thể kéo bàn ping pong . Tôi nhớ như in giọng Quách Anh Hào rủ \"đi chơi bóng bàn đi\", với 2 chữ \"bóng bàn\" nhại giọng Bắc di cư của Trần Bình Đông và tôi. Tại bàn ping pong này Hào, Hai, Hùng, Chơi, Xương, tôi và nhiều bạn khác đã có biết bao nhiêu là giây phút giải trí lành mạnh Tiêu Thành Khoa có cùng sở thích lúc đó với tôi: thể dục. Khoa có bộ ngực \"gồ ghề\" mà chỉ đến khi cởi trần làm vệ sinh căn nhà riêng tại TTYB2 của chúng tôi trước khi dọn vào, chúng tôi mới khám phá ra. Khoa tập bằng dây tăng-xo. Bùi thị Công Gấm (MS-BL): Trước khi ra trường tôi có thời gian thực tập với chị Gấm tại nhà máy thực phẩm gia súc ở Bình Triệu . Khoảng cuối năm 1977, tôi đeo ba lô cầm giấy bổ nhiệm cùng với chị Gấm (đi theo ủng hộ tinh thần còn có người-một-thời-yêu-dấu), đến trình diện Ty Nông Nghiệp Cửu Long. Nhận xét đầu tiên ông Trưởng ty về tôi là không bằng lòng với mái tóc của tôi, bảo tôi về ... hớt tóc đã. Ba chúng tôi bèn đáp xe đò ngược Sài Gòn, tôi thì để đi cắt tóc rồi xuống Vĩnh Long lại hôm sau, Chị Gấm về trại gà thì phải?, còn tôi lang thang xã điểm chích ngừa trâu bò heo, và cuối cùng về trại heo Phước Thọ .Thiên Ve, Phan Rang (MS-PR) một danh tài văn nghệ, hát tân nhạc đã hay, xuống vọng cổ lại càng mùi. Thiên Ve luôn là tâm điểm của những buổi văn nghệ K8. Ve còn tiết lộ hay đi nhảy đầm, có lần còn bật mí là đã đi chung với bạn gái cùng khoá và dặn chúng tôi kín miệng. Chúng tôi đã giữ lời và kín miệng.Đàm văn Kỳ (MS-PR): nhân vật có biệt tài bình luận chính trị xã hội rất có duyên. Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Những lần ngồi chung \"hội luận\" nếu có Kỳ chúng tôi luôn bị hấp dẫn bới cách kể chuyện của Kỳ. Tôi nhớ nhất hai chữ \"ngu xuẩn\" Kỳ thường dùng với lối phát âm đặc trưng, luôn kèm theo nụ cười.Nguyễn Hưng (MS-BL): Anh là dân thể thao, đá banh xuất sắc, võ sĩ Teak won Do có hạng. Hay cười khoe hàm răng trắng và đều. Trong những kỷ niệm với Hưng, câu chuyện sau đây gây ấn tượng nhất với tôi. Do một truyền thống không mấy đẹp giữa NLSBD và NLSBL, mà tôi không biết bắt đầu ra sao và từ lúc nào: hễ có học sinh nam nào chuyển trường giữa 2 trường này, thế nào cũng bi một trận đòn ra mắt. Ngay tối đầu ở NLS BL cũng vậy, các bạn K8 gốc BL được tin \"tình báo\" sẽ có chuyện như thế xẩy ra. Lưu xá nam thành lập một nhóm bảo vệ, Nguyễn Hưng dẫn đầu đi sang \"bảo vệ\" Ký Túc Xá (KTX) nữ, đi một vòng không có gì, trở về KTX nam thì nhóm học sinh BL đã vào KTX nam tìm người BD rồi và hãy còn đang tụ tập phía trước. Nguyễn Hưng dẫn đầu tiến ra để đối thoại, bên kia biết Hưng nên hoảng, phải nổ súng chỉ thiên. Kết quả rồi cũng yên, nhưng việc cho thấy cá tính cương trực võ sĩ đạo của Nguyễn Hưng.Đến các bạn Công Thôn (CT)Phát \"Romeo\" (CT-H) một nhân vật xứ Huế khác, đẹp trai, nói cười nhỏ nhẹ nhưng nghịch ngầm. \"Romeo\" có lẽ vì Phát để tóc giống tài tử chính trong phim \"Romeo và Juliet\". Phát đàn giỏi hát hay với bản ruột \"ngày nhà em pháo nổ, anh cuộn mình trong chăn, như con sâu làm tổ, trong trái vải cô đơn\" có lẽ hướng vào một đối tượng trong khóa. Bên CT còn có Bá (CT-BD) người không cao nhưng da mặt hồng hào dáng khỏe mạnh, cùng với Thục là một cặp nghịch tinh, Trong Không khí cao nguyên lành lạnh sương khói, chúng tôi kéo kín cổ áo, chia nhau các điều thuốc lá thật ấm, thật thơm, và đùa giỡn với nhau đủ thứ chuyện trên trời, dưới đất.TÌNH YÊUSau tháng thực tập, có bạn đã thành đôi, và sau này có những đôi đó đã thành bạn đời. Riêng tôi, chuyến đi đó đi không lại về không. Về lại Sài Gòn ,Thời gian này, K8 mượn chỗ thực tập cơ thể học của Đại Học Nông Nghiệp trên đường Cường Để đối diện Văn Khoa và nối với trường Dược. Nơi chúng tôi thực tập có mấy cái hồ formol ngâm mấy chú \"cầy\" đã \"hiến thân\" cho khoa học. Cắt cắt mổ mổ, không khí chứa formol cay xè, nhiều khi xong trời đã nhá nhem tôi. Cũng trong sân trường này, một chiều tối như thế tôi, đến phiên tôi, đã run run thu hết can đảm mà cũng chỉ ngập ngừng nói nhỏ như muỗi kêu \"Tôi thương\", dở ẹt, chữ \"yêu\" cũng ngượng không dám dùng. Đối phương im lặng, có lẽ vì biết mình đã là \"bên thắng cuộc\" nên kéo dài thời gian \"say men chiến thắng. Tôi thì chủ quan cho rằng \"không từ chối đã là một thắng lợi rồi\". Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn còn \"nhìn\", \"nghe\", \"ngửi\" và \"cảm\" thấy giây phút đó với đầy đủ hình ảnh, mầu sắc, hương vị, không gian, thời gian và cảm xúc. Với \"biến cố\" đó, lịch sử đã sang trang. Tôi không còn phải chạy đua vất vả nữa, cuộc đua mà không phải mình tôi độc diễn. Khi chiến cuộc đã ngã ngũ, tôi đã có một cuộc đối thoại \"thẳng thắn\" với đối thủ đáng e dè nhất của tôi, và hai chúng tôi chia tay lành lặn, không đổ máu chết chóc.Từ đó tôi cũng được như người ta, yêu và được yêu, và cũng như người ta, chúng tôi nhìn đâu cũng chỉ thấy nhau (có lẽ hơi quá tự tin nhưng it ra phần tôi là như vậy). Trong một giờ thầy Vân, chúng tôi đã không nhìn thấy cả thầy, buộc thầy phải ngưng giảng mà cười cười bảo chúng tôi ngưng \"thủ thỉ\" (chữ cúa thầy). Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
ĐẠI HỌC GIÁO DỤC THỦ ĐỨC (ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT)Ngày ra trường năm 1975 tới gần, chúng tôi sửa soạn thi cử và chọn nhiệm sở, nhưng 30/4-75 tới trước. Những ngày gần 30/4-75 các bạn ở xa hoang mang lo lắng cho gia đình với tin chiến cuộc dồn dập. Sau 30/4 có bạn bỏ học về nhà khi có thể về được. Số còn lại chúng tôi được đưa đi làm các công tác xã hội như dọn vệ sinh Thanh phố, bài trừ tệ nạn xã hội……, trong SG và các vùng phụ cận .Vài tháng sau, chúng tôi được đưa lên ĐHGD Thủ Đức, Trường do Chính phủ Nhật xây tặng , khang trang rộng rãi ,đẹp và đầy đủ tiện nghi.Đa số các bạn ở xa được vào nội trú, tôi thuê căn gác lửng bên kia đường đối diện trường, với Ninh Khang và Tường. Bọn ngoại trú chúng tôi chiều đến thường vào đánh vũ cầu trong khoảng sân giữa 2 nhà kỳ túc xá, riêng tôi cũng là dịp cảm thấy gần gũi với người kia, cũng ở nội trú. Thường thì mãi đến khi trường đã đóng cổng chúng tôi mới chui qua đáy cổng sắt mà ra để về nhà trọ. Cũng may thời đó thiếu ăn nên không cần ép bụng cũng chui ra được, (tại đây trong phòng của Hào, trong một bữa rượu chúng tôi đã được Hào trình diễn một màn múa bụng rất ngoạn mục.)Những chiều khác thì chúng tôi chơi bóng chuyền với Thầy Vân sân bên ngoài trường, đến tối mịt, đến nỗi bên nhận banh giao, phải ngồi sát đất nhìn lên nền trời còn tí ánh sáng bên trên lưới mới có thể thấy được banh giao sang. Làm gì có banh bóng chuyền, banh đá nặng thấy mồ, có khi trời mưa lại trơn trợt nhưng thầy trò hể hả vui vẻ lắm, bên nào thua phải xòe tiền đãi chầu rượu thuốc. Chuếnh choáng thầy trò ai về nhà nấy, bốn chúng tôi đi bộ về nhà trọ cười nói huyên thuyên.TRẠM THÚ Y B2 (SÀIGÒN)Sau thời gian ở Thủ Đức, K8 Mục Súc chúng tôi được chuyển về Trạm Thú Y B2 để học thêm Kỹ Thuật xét nghiệm. Cùng học tại Trạm Thú Y B2 có một số sinh viên Khóa 13 Kỹ sư nông nghiệp của Trường Đại Học Nông Lâm . Tất cả chúng tôi được an trú trong một toà nhà lớn cũ, ngoại trừ Chơi, Hào, Khoa, Tường và tôi (có Khang hay không tôi không nhớ) được cho ở một căn nhà riêng, có cửa đóng lại đàng hoàng. Một tối, mưa lâm râm dai dẳng, cóc ếch ểnh ương kêu vang, sau khi đồng ý \"tẩm bổ\" thêm, chúng tôi túa ra thực tập màn vồ ếch, bùn sình không sâu nhưng trơn, vui lắm. Kết quả là một nồi cháo cóc ngọt lịm, chú Sáu Xương đã làm thật cẩn thận vì trứng cóc \"có thể độc lắm\". Nhắc lại chuyện này với chị Thu Vân, chị nhận xét: \"đêm đó các anh say lắm!”.Trong căn nhà riêng của bọn tôi, cũng có lần có chú mèo đi lạc và đã hiến thân cho nồi xào lăn thâm tình, hình như cũng nhờ bàn tay Xương hay chi Dân bên kỹ sư mà tôi không nhớ chắc. Thời gian này các anh Chương và Phước dẫn chúng tôi đi thực tập, riêng tôi 2 lần: một lần đi chích ngừa trong các buôn làng ở Phước Long đất đỏ, ngày cuối đã cùng ngồi ăn chè, giữa chợ An Lộc, mà bom đạn đã gần như san bằng. Lần khác ở trại bò Cầu Khởi ở TN . Trại này có ông trưởng trại , Chú Tám Thời yêu văn nghệ , với anh tài xế cao bồi tên Ruộng. Trước khi tới trại, tôi trở chứng, cắt tóc 3 phân. Ở trại, thấy tôi siêng gội đầu, chị Trần Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)
Thị Vinh thông minh đoán được, cười cười, \"chắc hối hận, gội cho tóc mau ra\".KẾTBậy giờ Nguyễn Hưng, Hai và vài bạn K8 khác cũng như có thầy cô đã ra người thiên cổ. Bây giờ Trần Quang Ninh, Thiên Ve đang hồi phục sau các cơn bạo bệnh. Bây giờ Văn thị Thu Vân, Trần thị Huệ, Trần văn Tường,.... đã mất đi bạn đồng hành trăm năm và đang đơn điệu trên đường đời. Bây giờ Bá, Phát, Thục và nhiều bạn khác đã mất liên lạc, không biết còn sống hay đã mất. Bây giờ có những bạn đang sống xứ người như tôi, Nguyễn thị Năm, Nguyễn văn Chơi, Lưu thị Thanh,.... Đa số các bạn đã về hưu, đã thành ông bà nôi ngoại, tuy còn bạn đeo đuổi tư doanh vẫn còn làm việc và đã trở thành những đại gia. Nhưng dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào tôi tin K8 chúng ta luôn gắn bó với nhau trong tâm tưởng, luôn mong muốn những gì tốt đẹp nhất cho nhau. Chúng ta đều đã không còn trẻ nữa và cuối cùng rồi cũng sẽ ra đi, nhưng ít ra cuộc sống này đã không uổng vì mình đã được biết nhau, đã có các kỷ niệm thật dễ thương với nhau để mà hồi tưởng.PHÂN BUAHồi mới nghe chi Văn thị Thu Vân đề cập đến việc làm Kỷ Yếu khóa, tôi hoan nghênh, với tôi, cuộc đời mỗi người đều hấp dẫn như một cuốn sách hay, và tôi đã tham lam muốn qua các bài viết của các bạn có thể tóm tắt cuốn sách đó để theo dõi bắt kịp những biến chuyển trong suốt hơn 40 năm qua nơi mỗi người. Nhưng, Chị Vân nói với tôi \"ai cũng thích đọc mà không muốn viết thì lấy gì mà đọc?\". Chị có lý, dĩ nhiên, nên tôi \"viết thì viết!\". Nói thì dễ, bắt tay vào mới thấy khó nuốt. Trí nhớ của mình còn đáng tin không?, chữ nghĩa thì đông đá vì ít dùng. Than khó với chị Vân, chị nói \"cứ viết như nói\". Bí thế, tôi đành cố \"viết như nói\" vậy. Ký ức con người lạ lắm, theo nghiên cứu mới nhất, nó khác những đoạn phim, những tấm hình chúng ta cất, lâu lâu lấy ra xem rồi cất lại, không suy suyển. Ký ức mỗi lần lấy ra cất lại thay đổi một chút. Trí nhớ kém dần, ký ức thay đổi, thêm 40 năm sống trong văn hóa Đan Mạch, nơi không đề tài nào được xem là kiêng kỵ, tôi đã nhiễm và rất có thể đã dời biên giới của những chuyện không nên kể, Tham gia lần này tôi chỉ muốn góp với các bạn những kỷ niệm vụn vặt ghi nhận qua ống kính của tôi và lưu trữ trong ký ức của tôi, không bảo đảm giống như của bạn, với hi vọng cùng bạn sống lại được vài khoảnh khắc đẹp xa xưa, ngày mà chúng ta tóc xanh, mắt sáng và tim còn loạn nhịp vì bóng hình ai đó./.Kỷ yếu khóa 8 SPNLS Sài Gòn (73knnSPKT)Dại học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp HCM
Search
Read the Text Version
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
- 36
- 37
- 38
- 39
- 40
- 41
- 42
- 43
- 44
- 45
- 46
- 47
- 48
- 49
- 50
- 51
- 52
- 53
- 54
- 55
- 56
- 57
- 58
- 59
- 60
- 61
- 62
- 63
- 64
- 65
- 66
- 67
- 68
- 69
- 70
- 71
- 72
- 73
- 74
- 75
- 76
- 77
- 78
- 79
- 80
- 81
- 82
- 83
- 84
- 85
- 86
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- 92
- 93
- 94
- 95
- 96
- 97
- 98
- 99
- 100
- 101
- 102
- 103
- 104
- 105
- 106
- 107
- 108
- 109
- 110
- 111
- 112
- 113
- 114
- 115
- 116
- 117
- 118
- 119
- 120
- 121
- 122
- 123
- 124
- 125
- 126
- 127
- 128
- 129
- 130
- 131
- 132
- 133
- 134
- 135
- 136
- 137
- 138
- 139
- 140
- 141
- 142
- 143
- 144
- 145
- 146
- 147
- 148
- 149
- 150
- 151
- 152
- 153