Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore Sổ tay dân ca mường

Sổ tay dân ca mường

Published by Tran Khac Tu, 2022-01-10 14:19:53

Description: Sổ tay dân ca mường

Search

Read the Text Version

LỜI NÓI ĐẦU Từ xa xưa, hát dân ca được người dân VN nói chung, người Mường nói riêng coi đó là một loại hình giao tiếp, tâm sự, tỏ tình, thể hiện tâm tư, tình cảm, nỗi lòng của chính mình, là sự rung động từ trái tim của mỗi con người. Họ hát dân ca trong lúc lao động, trong các buổi lễ hội, trong ngày đón dâu, mừng nhà mới, ngày tết đến, xuân về, trong lúc ru con, khi nam nữ muốn làm quen... Có thể nói hát dân ca của Người Mường là thể loại âm nhạc dân gian giàu bản sắc văn hóa, có nhiều giá trị, là món ăn tinh thần không thể thiếu của nguời Mường cổ. Tuy nhiên, cùng với xu thế hội nhập, các bạn trẻ người Mường ngày càng bị thu hút với các loại hình âm nhạc hiện đại, sự hứng thú, niềm cảm hứng với nghệ thuật truyền thống ngày càng mai một. Đồng thời những nghệ nhân ngày càng có tuổi, những người Mường ngày càng ít dần việc hát dân ca. Đó là những yếu tố khiến các loại hình âm nhạc truyền thống ngày càng bị lãng quên. Làm thế thế nào để giới trẻ dân tộc Mường, đặc biệt là các bạn học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường hiểu, yêu thích và có ý thức lưu giữ những giá trị truyền thống. Làm thế nào để những bạn học sinh dân tộc Mường hiện đang ngồi trên ghế nhà trường nói riêng và giới trẻ dân tộc Mường nói chung tự tin thể hiện văn hóa của mình? Làm thế nào để phát huy các giá trị văn hóa âm nhạc trong bối cảnh hiện nay vừa hợp với xu hướng phát triển, vừa lưu giữ được những giá trị truyền thống? Đó là những câu hỏi chúng em luôn đau đáu. Sau cùng chúng em nhận ra rằng bản thân chúng em là những học sinh dân tộc Mường và chính những người trẻ những chủ thể văn hóa cần phải có ý thức, có trách nhiệm hơn trong việc lưu giữ các giá trị văn hóa của cộng đồng mình, Từ hiện thực đó nhóm chúng em đã thực hiện cuốn sổ tay dân ca Mường với mong muốn lan tỏa, khơi gợi cảm hứng và tinh thần tự giác, chủ động tới các bạn học sinh dân tộc Mường tiếp cận và sáng tạo trong lưu giữ, phát huy các loại hình âm nhạc truyền thống trong bối cảnh hiện nay. Hiện nay có một số quyển sách viết về dân ca Mường như quyển của tác giả Bùi Thiện nhưng quyển sách này rất dày, sưu tầm rất công phu về dân ca Mường tuy nhiên phần Viếng việt và Tiếng Mường riêng nên khó cho người đọc theo dõi, chưa kể số tiền để mua sách cũng khá cao. Chúng em nhận thấy trên thị trường hiện nay chưa có 1 cuốn sách nào viết về dân ca Mường phục vụ cho nhu cầu của học sinh. Từ đó chúng em gồm Bùi Khánh Ly và Bùi Linh Chi học sinh lớp 11K3 đã hình thành ý tưởng thiết kế sổ tay dân ca Mường cho học sinh tỉnh Hòa Bình”. Mở đầu cuốn sách là trang bìa được thiết kế công phu, có biểu tượng logo của nhà trường và được quét mã QR để người đọc dễ dàng sử dụng và truy cập khi 1

cần. Sau đó là lời giới thiệu đôi nét về cuốn sách và trang mục lục để người đọc dễ dàng truy cập phần nội dung mà mình muốn đọc. Tiếp theo là nội dung của cuốn sổ tay. Sổ tay có hai phần: Phần một chúng em trình bày những đặc điểm chung của dân ca Mường, phần hai chúng em sưu tầm một số bài hát dân ca. Trong đó chúng em đã sắp xếp theo 7 thể loại của dân ca Mường, có những bài dân ca bằng cả tiếng Mường và kèm lời dịch bằng tiếng phổ thông, để tiện cho cả những bạn học sinh không biết tiếng Mường có thể đọc và hát được. + Thể loại thứ nhất là Đồng dao, câu đố + Thứ hai Hát Ru bằng tiếng Mường có lời dịch + Thứ ba Hát thường rang (hay còn gọi là hát Lời Thương) + Bộ Mẹnh (Mẹng): có các đoạn trích bài Lời thương của miệng khác, Lời thương cửa miệng trong vùng, Lời thương cửa miệng xa lạ. + Hát Xéc bùa (hay còn gọi Xắc Bùa): + Hát Ví đúm: gồm 9 bài + Hát mo: chúng em khái quát về hát mo và cách sử dụng hát mo trong các hoạt động, một số đọan trích. Bên cạnh đó trong cuốn sách của chúng em sẽ có phần phụ lục có hình ảnh chúng em đi sưu tầm các bài hát dân ca, học sinh nhà trường trong các buổi học hát, trong hội thi tiếng hát dân ca, và phần giới thiệu một số cuốn sách cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về dân ca Mường. Ngoài ra còn có 1 file ghi âm một số bài hát dân ca chúng em sưu tầm được kèm theo cuốn sách: khách mua sách chỉ cần quyét mã QR sẽ cập nhật được file một số bài hát và có thể học hát theo một số bài hát đó. Trong cuốn sách chúng em sẽ có phần mục lục để người đọc có thể dễ dàng tìm các nội dung cần tìm 1 cách nhanh chóng nhất. Có phần tài liệu tham khảo để học sinh nếu muốn tìm hiểu sâu hơn về dân ca Mường thì có thể tìm các cuốn sách được giới thiệu. 2

PHẦN I MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VỀ DÂN CA MƯỜNG I. Khái niệm, nội dung, nghệ thuật dân ca Mường Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống. Mỗi dân tộc mang bản sắc văn hóa riêng, được tiếp biến, bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo nên những giá trị trường tồn. Trong đó, đồng bào Mường có dân số gần 1,5 triệu người, với những phong tục, tập quán giản dị, mộc mạc, góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hòa Bình là vùng đất sử thi huyền thoại “Đẻ đất, đẻ nước”, là miền đất âm vang của tiếng cồng, tiếng chiêng, với những nét truyền thống văn hóa vật thể và phi vật thể như: Di sản văn hóa Mo Mường, chiêng Mường…và đặc biệt là văn nghệ dân gian của người Mường. Có thể nói, nền văn nghệ dân gian của người Mường ở Hòa Bình không những phong phú, đồ sộ về khối lượng mà còn đa dạng về thể loại, là di sản quý báu của cộng đồng người Mường, góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hóa chung của dân tộc. Làm nên nét bản sắc rất riêng của văn nghệ dân tộc Mường ở Hòa Bình không thể không kể đến vai trò của các làn điệu dân ca dân tộc Mường. Từ xa xưa, hát dân ca được người dân Việt Nam nói chung, người Mường nói riêng coi đó là một loại hình giao tiếp, tâm sự, tỏ tình, là sự rung động từ trái tim của mỗi con người. Có thể nói dân ca của Người Mường là thể loại âm nhạc dân gian giàu bản sắc văn hóa, có nhiều giá trị, là thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người Mường cổ. Khi được hòa mình vào giai điệu và lời của các bài hát dân ca, đấy là lúc con người được thể hiện tâm tư, tình cảm, nỗi lòng của chính mình. Qua các bài hát dân ca ta thấy được vẻ đẹp muôn màu của tâm hồn người Mường nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung. Tìm hiểu về đặc trưng của dân ca Mường ở Hòa Bình chúng ta nhận thấy mặc dù được phân ra thành bốn vùng: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động, mỗi vùng có những nét đặc trưng riêng song dân ca Mường vẫn có những đặc điểm nổi bật chung sau: 3

1. Khái niệm, nguồn gốc, hình thức diễn xướng của dân ca Mường Dân ca Mường là bài hát, khúc ca do quần chúng nhân dân lao động người Mường sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Ban đầu bài dân ca đó do một người hát, lưu truyền theo hình thức truyền khẩu sau đó người này truyền người kia, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Theo lời truyền lại của người xưa, dân ca Mường xuất hiện rất sớm, từ thời “Đẻ đất đẻ nước”. “Đất khi xưa còn bạc lạc Nước khi xưa còn bời lời Lòng lõi khi xưa chưa có Ăn cơm uống rượu họ kể, học nói Nói hết bố Thường, mẹ Rang” Một số nghệ nhân cũng như nhiều người dân tộc Mường khi được hỏi về sự ra đời của dân ca Mường đều không thể trả lời được, chỉ biết rằng khi sinh ra đã có hát dân ca. Người Mường không có chữ viết nên tất cả những gì được gọi là văn hóa dân gian của dân tộc Mường đều được cha ông truyền miệng từ đời này sang đời khác. Dân ca Mường nói riêng cũng như dân ca nói chung sinh ra, tồn tại, phát triển trong cuộc quá trình lao động, sản xuất, sinh sống, học tập, vui chơi của người dân lao động. Trong khi phát rẫy, làm nương, đơm đó, xúc cá tôm, săn thú, bắn chim trên rừng, trên núi… họ hát lên, ngâm nga để vơi đi nỗi mệt nhọc, để giãy bày nỗi lòng, để thêm yêu cuộc sống, con người. Họ hát dân ca trong lúc lao động, trong các buổi lễ hội, trong ngày đón dâu, mừng nhà mới, ngày tết đến, xuân về, trong lúc ru con, khi nam nữ muốn làm quen, tỏ tình... Họ vừa lao động làm ra của cải, vật chất, vừa chiêm ngưỡng, thưởng thức thành quả lao động và vẻ đẹp của thiên nhiên ngay chính quê hương, làng bản của mình. Dân ca của người Mường cũng giống như dân ca Việt Nam nói chung theo suốt cuộc đời mỗi con người. Chào đón và nâng giấc cho các em là các bài hát ru đơn sơ, mộc mạc nhưng đong đầy yêu thương, ấm áp, để đưa trẻ vào giấc ngủ êm đềm. Chuyển sang tuổi ấu thơ các em lại được hát lên các bài hát đồng dao vừa giúp các em vui chơi, giải trí vừa 4

luyện cho trẻ quen tiếng nói vừa tiếp cận với thiên nhiên, tìm hiểu những vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Khi trưởng thành trai gái tụ họp nhau hát đố, hát giao duyên, làm quen, bày tỏ tình cảm. Cho dù không nên vợ nên chồng thì những buổi hát giao duyên đó vẫn là những kỉ niệm đẹp theo suốt cuộc đời mỗi người. Bên ta từ cánh nôi cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, dân ca trở thành người bạn tri kỉ, trở thành một mảnh hồn không thể thiếu của mỗi con người. Cùng với thời gian, ca dao dân ca tắm mát tâm hồn ta và giúp ta trưởng thành hơn lên bằng những bài học tình người, giản dị mà sâu sắc, chân thành mà thấm thía. Sức hấp dẫn của ca dao dân ca Mường còn thể hiện ở những hình thức diễn xướng, làm nên một không gian văn hóa nghệ thuật mang đậm tính dân tộc. Chúng ta bắt gặp những bài đồng dao cất lên vui nhộn, trong sáng giữa cánh đồng làng khi lũ trẻ chăn trâu hay trước sân rộng của nhà văn hóa xóm nơi trẻ con Mường tụ tập, nô đùa. Hát Xắc bùa thường diễn ra vào các dịp tết đến xuân về. Nhà nào cũng háo hức để nghe tiếng chiêng xắc bùa và nhận những lời chúc tốt đẹp đầu năm từ những lời ca, tiếng hát của phường bùa. Đây được xem là những lời chúc cho một năm mới vui vẻ, cầu cho một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu...Hát Thường Rang là thể loại dân ca được ca xướng trong các dịp vui như mừng nhà mới, được mùa, cưới xin, lễ, tết. Hát Thường Rang có nội dung ca ngợi công việc làm ăn, cách ứng xử giao tiếp, dạy bảo con cái, dặn người yêu, người thân. Hát Bộ Mẹng chủ yếu diễn ra bên bếp lửa bập bùng, bên vò rượu cần. Những câu hát Ví - Đúm (có nơi gọi hát lời thương) là lối hát giao duyên. Đó là những lời tỏ tình chân thật, mộc mạc của những đôi trai gái trao cho nhau. Trong các dịp vui, thanh niên, nam nữ thường hát đối thâu đêm, suốt sáng. Dân ca Mường, nhất là các bài hát đối giao duyên (hát Đúm) và Thường Rang, Bọ Mẹng ngoài các bài hát có sẵn được lưu truyền trong dân gian, còn lại phần đa việc hát luôn phải ứng tác - ứng khẩu - sáng tạo lời hát (ca từ), hát tức khắc một cách nhuần nhuyễn sao cho khớp với lối giai điệu, nhịp điệu có sẵn để đối đáp ngay tại chỗ. Bản chất hát dân ca Mường, nhất là hát đối đáp giao duyên thực chất là một cuộc làm thơ tức thì để đối đáp với bạn hát. Vì vậy người hát phải sưu tầm, học hỏi và lưu giữ một khối lượng lớn ngôn ngữ Mường, bao gồm cả 5

tiếng Mường cổ và tiếng Mường đương đại. Đây là kỹ năng quan trọng nhất trong khi hát. Đặc biệt khi hát còn đòi hỏi trí thông minh, vốn liếng về tiếng nói, sự sáng tạo đột xuất. Có một số nghệ nhân hiện nay có thể hát đối đáp liên tục trong hơn 10 tiếng đồng hồ mà không cạn lời, không cạn khả năng sáng tạo lời hát. Chính vì vậy mà số lượng các bài dân ca của người Mường vô cùng độ sộ, cùng với sự đóng góp tích cực của quần chúng nhân dân, dân ca Mường có sức sống mãnh liệt, là ngọn lửa “cháy sáng “trong nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên trong cuộc sống hôm nay, sự tồn tại ấy cũng đã thay đổi rất nhiều, vai trò của dân ca trong cuộc sống hiện tại đang dần mờ nhạt hơn trước, kèm theo đó là sự biến mất của nhiều bài ca dao, dân ca. Nhiều bạn trẻ dù là người Mường mặc dù hát rất hay những bài nhạc trẻ nhưng lại không thể hát được bài dân ca Mường. Một vài nghi lễ như nghi lễ cưới hỏi, nghi lễ đưa tang… đến nay cũng đã có những hình thức khác, không còn sử dụng những bài dân ca nghi lễ như xưa nữa. Những bài dân ca đó đến nay, chỉ còn là hình ảnh của một thời đã qua, được ghi chép lại trong sách vở. Những thay đổi rõ nhất có thể thấy được trong mảng dân ca Mường về sinh hoạt đời sống. Thời xưa con người hát dân ca trong mọi hoạt động. Họ hát giao duyên, họ hát để làm quen, hát để trêu ghẹo nhau, hát để trách móc, hát để mở đầu câu chuyện, trẻ em thì hát đồng dao trong những trò chơi, người mẹ, người chị, người bà thì hát con, ru em… Thời nay trong hoạt động đời sống dân ca trở nên vắng bóng hơn, các làn điệu dân ca của người Mường chỉ xuất hiện nhiều trong các lễ hội, trong những ngày tết, trong những cuộc vui. Điều này đòi hỏi chính những người trẻ -những chủ thể văn hóa, cần phải có ý thức, có trách nhiệm hơn trong việc phát huy, lưu giữ giá trị của loại hình âm nhạc truyền thống trong bối cảnh hiện nay. 6

Phần thi hát đối đáp trong lễ hội Khai hạ Mường Bi. Hát ví, đúm-hình thức hát giao duyên có giá trị văn hóa, lịch sử, nhân văn sâu sắc. 7

2. Nội dung, chức năng chủ yếu của dân ca Mường: Dân ca Mường nội dung rất phong phú, đa dạng, thể hiện những chức năng cơ bản của văn chương như chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ, chức năng nghi lễ, hướng con người đến vẻ đẹp Chân - Thiện- Mỹ. Dân ca Mường ca ngợi vẻ đẹp của bản làng, thôn xóm, dòng sông, con suối, cánh đồng. Qua các bài dân ca ta thấy tình yêu thiên nhiên đất nước một cách thiết tha, trìu mến của đồng bào dân tộc Mường. Họ đã yêu hơn bao giờ hết cảnh sơn thủy hữu tình, núi đá nên thơ, chợ búa đông đúc, đường đi lối lại, cầu qua sông, suối, cây đa rợp bóng mát… của quê hương mình. Và bởi vì yêu nên tất cả những hình ảnh bình dị đó đã nhẹ nhàng đi vào từng loại hình dân ca dân tộc Mường với những lời ca thật đẹp để ngợi ca cảnh sắc tươi đẹp, thơ mộng của bản làng, quê hương người Mường. Họ đặt vào lời ca những hình ảnh rất thiết thực, gắn liến với đời sống con người, như các hình ảnh: bù nhìn coi nương, sào vắt quần áo, gáo nước rửa chân…và ngay cả những việc rất đỗi bình thường như đi chợ, bắt gà, ngâm gạo…cũng xuất hiện trong dân ca. Họ cất lên câu hát ca ngợi đất Mường giàu có, trù phú, phong cảnh tươi đẹp, ruộng nương trùng điệp: Quêl ún hôộng chà, hôộng nương Mời eng vềl rôộng tỏ tường quêl ha. (Quê em rộng vườn rộng mường Mời anh về chơi tỏ tường quê ta) Hay Vềl ni ngó tất ngó mương Quêl ha Phoong Phú tồi nương tiệp tlùng (Về đây xem đất xem mường Quê ta Phong Phú đồi nương điệp trùng) Họ tự hào về dòng sông, con suối đầy ắp cá tôm, đất tốt, bông sai: Cá chép chín nắm trốc Cá khộc chín nắm vây Hay Đi phát nương cạnh bãi Đi phát vải cạnh sông Tràn lên trên đất đồng Đẹp đồng nhiều hỡi đồng Đẹp điền nhiều hỡi điền Đất tốt bông đồng tốt vải 8

Cây bông nên cột cái nhà Vỏ trái bông nên vại rửa chân Họ tự hào vê vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa. Đặc biệt hình ảnh núi Cột Cờ Mường Bi là món quà độc đáo mà thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất Tân Lạc đã được xuất hiện trong những truyền thuyết, trong những áng mo, trong những sáng tác văn thơ, nhạc họa về vùng đất Tân Lạc. Mương Pi có khụ cột cờ Tlrường Sơn mộôch dạy tôi pờ pến khu Pên pờ ngào ngạt nương dâu Sườn tồi nhám cỏ có tàn tờ lu péo tlòn Ai vềl tới tất Mương Pi Mà nhó phoong kẻng nơi ni tuyệt bời (Mường Bi có núi cột cờ Trường Sơn một dãy đôi bờ suối sâu Ven bờ ngào ngạt nương dâu Sườn đồi gặm cỏ có đàn trâu béo tròn Ai về tới đất Mường Bi Mà xem phong cảnh nơi ni tuyệt vời) Núi Cột Cờ Mường Bi đã trở thành biểu tượng văn hóa tâm linh tín ngưỡng của người dân Mường Bi từ bao đời nay. 9

Ngoài ngợi ca quê hương bản Mường thì một nội dung được đề cập đến khá nhiều của dân ca mường đó là tình yêu đôi lứa. Các câu thơ, câu hát dù ngắn, dài nhưng đã thể hiện được quá trình làm quen, chào mời, ướm duyên, tỏ tình, hứa hẹn để đi đến hôn nhân. Thể hiện những cung bậc tình cảm, cảm xúc sâu lắng, ngọt ngào, thủy chung, son sắt, thể hiện sự rung cảm của trái tim. Đó là lời chàng trai khen cô gái: Em như hoa đẹp trong rừng Mong em đứng lại ta cùng chuyện vui Hay Hẹn ún bớ lại hết năm Pền cùng kháng tận eng thăm đét khàng. \"Hẹn em vào dịp cuối năm Ngày cùng, tháng tận anh thăm em à Đó là lời chàng trai hẹn hò: Không chi trở lại về mường Bao giờ lúa chín lên đường cưới em Là lời cô gái: Em đã cúi lạy gật đầu Cùng nuôi bố mẹ làm giàu cho anh Để rồi hứa hẹn: Đôi ta đã hứa đã chào Cùng nhau giữ lấy lời thương dạt dào Giống như hát quan họ của người Kinh Bắc, hát ghẹo Vĩnh Phú, ví dặm của Nghệ Tĩnh, hát Sli, lượn của người Tày, Nùng Việt Bắc, Hát Ví - Đúm với mục đích trao đổi tâm tư, tình cảm, chủ yếu dành cho những chàng trai, cô gái Mường, bởi đó là giai điệu của tình yêu, thường diễn ra vào ngày hội xuân khi hoa mận, hoa đào khoe sắc khắp các bản Mường. Tlăm đăm mới có ngày may Eng ún ngòi lại có ngày làm bui (Trăm năm mới có hôm nay 10

Anh em ngồi lại có ngày làm vui) Hay Mơ chi ún pẻ đêng thằm Tể ăn chug lá tể nằm chung noong Mơ chi mơ chín mơ mười Mơ cho ún ở lại côồng pới eng (Ước gì em biến nên tằm Để ăn chung lá để nằm chung nong Mơ chi mơ chín mơ mười Mơ cho em ở lại cùng với anh) Dân ca Mường thể hiện rõ niềm lạc quan yêu đời, hướng về cuộc sống tươi đẹp trong tương lai, thể hiện những mong muốn sung túc, đầy đủ, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Họ hát mừng đám cưới, mừng nhà mới, mừng vụ mùa thắng lợi (thường là hát bên chĩnh rượu cần, bên mâm cơm, chén rượu), mọi người hát ca ngợi thành quả lao động, chúc nhau năm mới vịt, ngan đầy sân, trâu, bò đầy đàn: Anh em phường bùa chúng tôi Xin chúc bố trên cửa mẹ trên nhà Hết mùa năm cũ ra năm mới Ăn ngon nhàn rỗi nhà giàu sang Nuôi trâu, bò đẻ ra hàng đàn Nuôi vịt, ngan, đẻ ra đầy sân sướng Nuôi gà, lợn đẻ ra đầy sướng sân Một năm cấy hết chục thùng lúa nếp Một năm cấy hết trăm cốt giống lúa tẻ Đưa dâu về nhà chồng, họ chúc mừng hạnh phúc, dành cho cô dâu lời chúc tốt đẹp nhất: Con về năm nay Năm trước Tế cho nả cỏ chóc cỏ mèng Cỏ kèng pôông va Cho chúng tôi là chủ là tả Ản chơil ản dổ nớ cú bởi môống tàn tôi nớ! 11

Dịch Con về năm này Năm trước Mọc rễ đơm cành Đơm bông kết trái Chúng tôi là chú là cha Vui nhà vui cửa Nhờ phúc lộc cậu ngoại! Trong hát ru con, ru em không chỉ để trẻ dễ ngủ mà còn gửi vào đó ước mong cho bản làng lúa tốt, bông sai: Em ngủ sáng mai mới dậy Để bố được đi cày Để cho mẹ đi cấy Cầy cấy ruộng đồng ta Lấy chùm hoa chanh trắng hồng Ruộng mường ta tốt lúa sai bông Đồng mường ta nhiều phân đủ nước Được lúa mùa này sang mùa khác Với nội dung phong phú trên nên dân ca Mường có các chức năng sau: Chức năng giáo dục: Dân ca Mường góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước, giáo dục tình cảm và thẩm mĩ một cách khéo léo, tế nhị. Đó không bao giờ là những tri thức khô khan, giáo điều mà là những lời nhắn nhủ chân thành, gần gũi nhất. Đó là những bài học về lối sống, về cách nhìn nhận thế giới, nhận xét con người, cả những kinh nghiệm trong lao động, trong ứng xử đều thể hiện dưới những hình thức ngôn từ tinh tế, uyển chuyển. Đó là những điều hay lẽ phải, cách ứng xử giao tiếp với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, bạn bè và những người xung quanh để từ đó giúp ta sống đẹp hơn, tốt hơn, nhân văn hơn. Chức năng giao tiếp: Bởi những bài dân ca Mường được sinh ra trong quá trình lao động, sản xuất, trong những buổi hẹn hò, trong ngày lễ, tết, cho nên họ cất lên tiếng hát để bày tỏ tâm tư, nỗi lòng. Chức năng này làm cho dân ca có sức 12

mạnh và sức sống vượt ra ranh giới không gian, thời gian, tác động mãnh liệt vào trái tim con người. Chức năng lao động: Dân ca là một thể loại ca hát dân gian, chủ yếu bắt nguồn từ môi trường nông ngư nghiệp ở các vùng nông thôn. Cũng có thể bắt nguồn từ một cá nhân có năng khiếu dệt nhạc vào một bài ca dao (thơ dân gian). Từ môi trường nông ngư nghiệp đó, dân ca có nhiều chức năng trong các hoạt động của cuộc sống. Chức năng hỗ trợ các thao tác lao động trên cạn như: ru em, xay lúa, giã gạo, tát nước...làm bớt đi sự căng thẳng mệt mỏi trong quá trình lao động, đồng thời khiến cho tinh thần của người lao động hưng phấn hơn, giúp cho quá trình lao động được năng xuất hơn, đạt kết quả cao hơn. Chức năng nghi lễ: Dân ca nói chung và dân ca Mường nói riêng có một bộ phận lớn gắn liền với lễ hội. Người Mường có các lễ hội nông nghiệp như: hội xuống đồng, hội cầu mưa, hội đi săn, hội đánh cá, lễ rửa lá lúa, lễ cơm mới, lễ cầu mát, lễ nhóm lửa, lễ hội chùa kè… Để phục vụ cho nghi thức lễ hội, người Mường đã sáng tạo nên những điệu hát múa cho phù hợp. Tiêu biểu cho hệ thống dân ca nghi lệ là các bài mo do các thầy mo đảm nhiệm. Nhìn chung, dân ca Mường được xây dựng trên cơ sở phản ánh hiện thực cuộc sống, đề cập đến nhiều vấn đề về thiên nhiên, xã hội, con người, nói lên cách nhìn vũ trụ, nhìn cuộc đời của người lao động. Ta có thể tìm thấy triết lí cuộc sống, thấy cảm xúc chân thật, nguyện vọng chân chính của họ trong loại hát này. 3. Một số nét nghệ thuật của dân ca Mường Dân ca Mường có nhiều nét tương đồng với dân ca các dân tộc ở nước ta nói chung. Đó là dân ca Mường thường sử dụng nhiều thể thơ tự do, không cố định âm tiết trong một dòng, số lượng dòng trong một bài cũng không cố định. Trong mỗi thể loại dân ca Mường, tùy hứng, tùy cảm xúc và đối tượng, người hát có thể gia giảm tiết tấu, trường độ về âm nhạc. Vì vậy, nội dung lời bài ca trở nên phóng khoáng, ít bị gò bó, lệ thuộc vào giai điệu, song nó vẫn cho phép thể hiện sự nhịp nhàng và cân đối, hài hòa giữa âm thanh và tiết điệu. 13

Đó là kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình Mỗi loại hát có nhạc điệu riêng nhưng cơ bản là thống nhất, song cùng loại dân ca đó lại có nơi luyến láy và âm hưởng có khác, có khác biệt đó là do các vùng ngữ âm khác nhau. Cách hát tự do đã tạo cho việc đặt lời phóng khoáng lại được luật gieo vần lưng không quá chặt chẽ hỗ trợ nên đặt lời rất dễ dàng. Điều đó cũng khiến cho dân ca Mường không bị nhầm lẫn với dân ca miền đồng bằng hay dân ca của các dân tộc anh em khác. Cũng bởi thế mà bài ca nào cất lên cũng thấy tự nhiên, nhẹ nhàng, thoải mái và sáng sủa, ví như: Mơ chi ho pẻ đêng chim Tẻ ho păl tếnh ho thìm ún thương Mơ pẻ đêng điện khôông Đà Suốt ngày ún chạy pao nhà pới eng (Ước gì anh biến thành chim Để anh bay đến anh tìm người thương Ước biến nên điện sông Đà Suốt ngày em chạy vào nhà với anh) Thực tế cuộc sống đã làm cho cảnh vật luôn gắn bó, trở thành những hình ảnh quen thuộc, thân thương đối với con người. Do vậy việc cấu tứ thơ rất phong phú và khá độc đáo. Chỉ một hiện tượng thiên nhiên như cơn gió, trận mưa, hay trăng, sao...hoặc một sự vật trong đời sống như đóa hoa, dòng sông, con suối cho đến mọi sự vật xung quanh đều là những đề tài mà họ nảy ra tứ thơ từ đó. Họ mượn nó làm cơ sở để ví von, diễn tả tâm tư, tình cảm của con người. Và điểm lí thú là cùng là một sự vật nhưng dân gian lại có cách miêu tả bằng cảm xúc và tâm trạng của mình theo các khía cạnh khác nhau, cho nên ta thấy tứ thơ, lời bài ca cũng được thể hiện rất khéo. Ví dụ, cùng là nói về chùm hoa mát: Thương ơi hỡi chùm hoa mát Nghe ngáo ngát con người đóng xe Đóng xe quay liền, quay luôn kẻo được cát Chặt nứa làm lạt, vát nứa làm lôi 14

Đẹp đôi bố nhà em không gả… Hay: Thương ơi hỡi chùm hoa mát Ai rắc cát sao cho thành bùn Ai dùn (lấp) khúc sông sâu sao nên con suối cạn Hoặc: Thương ơi hỡi chùm hoa mát Ngao ngát con người đóng xe Đóng xe bằng bè cây trúc ngọt Nhạt lòng bố mẹ còn lòng đôi ta. Phong cách sinh hoạt của người Mường thường chân thành, giản dị, giàu tình cảm cho nên không lấy gì làm lạ khi thấy thơ ca thể hiện mộc mạc, đơn sơ nhưng chính nó lại mang phong cách kín đáo, trong sáng, hàm xúc, tế nhị, không tục tằn. Ví như trong trường hợp hát đối, một cô gái nhà làm cơm trả công dân làng, hôm đó rất bận nhưng cô ấy không bỏ được hát, vẫn đến hát đối một hai bài lại bỏ cho người khác hát tiếp để mình về dọn dẹp. Khi xong việc, lại đến hát. Thấy thế, bên nam, ngoài lời hát chính còn đặt thêm các câu: Thương ơi hỡi mẹ gà ải mái gà kì Nó đi ăn chốn đức bên Đông đằng ấy Hay đi ăn ở đạo bên Đông đằng nào Thấy ra vào, ăn no, nó trở lại Ý nói cô con gái có người con trai ở bên ngoài khi gặp đã thực hiện được lời hẹn ăn no rồi trở lại. Nghe vậy, cô gái đáp: Thương ơi hỡi trống gà ải mái gà kì Đói lòng phải đi ăn lá Đói dạ phải đi ăn sâu Ai đoán biết ngờ đâu Đêm nay có lúa phơi màu Theo sau mà đón đợi Bài hát đáp lại có hàm ý rất sâu xa, ý đối ý rất đắt nhưng lời thơ bóng bẩy, không một chút thô lỗ, chê trách mà rất tế nhị. 15

Về mặt ngôn ngữ, dân ca miêu tả sự việc, cảnh vật đối với con người hay thể hiện cảm xúc suy nghĩ của con người đều sử dụng bằng ngôn ngữ trong sáng, gần với ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày. Ví như khi người con trai đi củi chợt thấy bóng áo xanh xanh muốn làm quen liền cất lên: Ún da mặc áo xeenh xeenh Hỏi thăm ún có eng nào no ưa chăng? (Cô em mặc áo xanh xanh Hỏi thăm em có anh nào thích chưa) Hoặc tình cờ gặp cô gái trên đường đi nương, người con trai hát làm quen bằng cách nói thật giản dị Ti no chớ bội chớ bàng Moong da ở lại nứa đàng pộ pui (Đi đâu chớ vội chớ vàng Mong em ở lại giữa đàng nói vui) Với quan niệm tiếng hát dân ca là của nhân dân, do người dân lưu giữ, truyền bá vì vậy đồng bào dân tộc Mường đã rất xem trọng việc giữ gìn các làn điệu dân ca dân tộc. Cùng với đó, họ cũng rất chú ý tới việc sáng tạo ra cái mới, bổ sung cho cái cũ, trau chuốt, nâng lên giá trị đặc sắc của các làn điệu dân ca Mường. Cùng với sự ngân nga, luyến láy, giọng cao, trung hay trầm bổng tùy người sử dụng các loại hình dân ca. Vì thế các điệu dân ca Mường mang nét đặc trưng riêng, rất phong phú trong giọng điệu của người hát. Ví như: Hát ru em, ru con ban ngày: giọng “ỉ, í” của người Mường Đà Bắc; “u, u” của người Mường Thàng; giọng “da ới hơi” Mường Lạc Sơn. Cuối câu vùng Mường Vang thì “do hợi”, vùng cuối huyện thì “da hới” và ru hay ở Mường Bi, “ru ru là rảy” Mường Kim Bôi. Hoặc đối với điệu hát Thường - Rang, Mường Bi vào đầu “chá á” ở nữ, “thương í” ở nam. Mường Vang và nhiều vùng khác thì “thương thiết thương nồng” các Mường có Thướng Áng vào đầu bằng âm thanh trìu tượng “hờ hớ hơ, hở hớ” rồi cuối bài phải có lời “đố độ” (ngừng lời) để đối phương biết mà đối đáp. Đặc trưng vùng miền cũng thể hiện khá rõ trong các điệu dân ca Mường. Ở những vùng dân cư tập trung, kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển thì dân ca cũng 16

vì thế mà trở nên sôi nổi; những nơi vùng cao, xa xôi, hẻo lánh thưa thớt dân cư thì có phần kém sôi nổi hơn. Những vùng giáp ranh với đồng bằng, dân ca dân tộc Mường còn được tiếp thu thêm dân ca đồng bằng như hát chèo ví như ở 2 xã Ngọc Lương, Yên Trị ở huyện Yên Thủy; xã Khoan Dụ huyện lạc Thủy; xã Cao Thắng, Cao Dương thuộc huyện Kim Bôi. Cũng chính bởi sự giao thoa đó mà các làn điệu dân ca dân tộc Mường trở nên đa dạng, phong phú, phản ánh nhiều khung bậc, cảm xúc của cuộc sống con người các vùng miền khác nhau của địa phương Hòa Bình. 4. Một số thể loại dân ca Mường 4.1. Đồng dao, câu đố Đồng dao là các lời hát, câu hát, lối nói có giai điệu, có vần vè thường được trẻ em hát trong lúc chơi đùa, lúc chăn trâu, cắt cỏ, em lớn trông em bé hoặc người lớn trông em bé. Lối hát đồng dao nay vẫn được duy trì và phát huy ở trẻ em Mường, đặc biệt là những xã thuộc vùng sâu, vùng xa của các huyện Tân lạc, Lạc Sơn, Kim Bôi... chúng ta vẫn bắt gặp những bài đồng dao cất lên vui nhộn, trong sáng giữa cánh đồng làng khi lũ trẻ chăn trâu hay trước một cái sân rộng của nhà văn hóa xóm nơi trẻ con Mường tụ tập, nô đùa. Các bài đồng dao Mường khá đa dạng về nội dung và độ dài ngắn không theo niêm luật nào. Có bài ngắn, thậm chí rất ngắn, có thể chỉ một đến hai câu, song cũng có những bài dài. Nội dung thường gắn với đời sống, đồ vật xung quanh, theo quan sát, cảm nhận của các em. Đồng dao, câu đố có chức năng phản ánh đời sống, giáo dục, bồi dưỡng nhân cách con người, hướng con người tới những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống. Lời và giai điệu các bài đồng dao của người Mường cơ bản được chia làm 4 loại: - Loại 1: chủ yếu được hát trong các trò chơi gắn liền với trò như: đập nàng Khọt, đập nàng Bạn, đu đu - điển điển... - Loại 2: chủ yếu được dùng trong hát ru con với mục đích dỗ dành cho con trẻ ngủ. Các bài này thường dài hơn cả. Hình thức diễn xướng khi ôm con vào lòng cho con bú dỗ dành chúng ngủ hoặc bên cánh võng, lúc đưa nôi. Người ta thường hay hát ru cho trẻ ngủ. - Loại 3: rất ngắn, đó là các câu đố dân gian. Hình thức nói để đố nhau. 17

- Loại 4: đi kèm với các câu chuyện truyền miệng dân gian khi kết thường có vài câu nói vần, có thể nói đấy cũng là lối kể chuyện cuối câu chuyện có kết là vài câu đồng dao hoặc hát ru. Đây vừa là dạng kể chuyện, vừa là hát ru mang tính răn dạy hay khuyên nhủ về nhân tình thế thái Câu đố dân gian của người Mường có nhiều điều thú vị, không phải tất cả các câu đố đều là đồng dao xong có nhiều câu thực sự là đồng dao như câu đố về con trâu: Bốn cái đạp xuống đất (bốn chân) Hai cái hướng lên trời (hai cái sừng) Hai cái bơi phạch phạch (hai tai) Một cái đi theo sau (cái đuôi) 4.2. Hát Ru: Hát ru là thể loại hát để ru trẻ ngủ trong đó đáng chú ý nhất là các bài hát ru em. Điệu hát xuất phát từ cõi lòng ông bà cha mẹ, anh chị quý mến, yêu thương con trẻ mà thể hiện nên lời thơ, điệu nhạc để dỗ dành, để cho trẻ ngủ yên giấc. Những tiếng ru con ngọt ngào của những người bà, người mẹ, người chị cất lên thật ấm áp. Bố thì đi đánh cá Cô ở nhà thả trâu Trâu nhỏ ăn đầy bãi cả Bò lớn ăn đầy bãi to Bẻ cành cây cơi đi đánh bả cá Đánh được ba cái tôm Được vốc tép nhỏ Tép nhỏ nhảy vào hang Con hoẵng chạy lên đồi... Đối với người Mường, các bài hát ru được lấy chủ yếu từ những bài đồng dao, các bài hát ru thường dài và có giai điệu đều đều, buồn buồn và rất khó hát cao giọng, hát to chỉ vừa để dỗ dành cho em bé ngủ. Giai điệu các bài ru con của người Mường thường êm êm, đều đều và man mác buồn, có nội dung lời ru như vẽ 18

ra các hình ảnh, sự việc sống động, kể một câu chuyện hay, để cho các bé thả hồn mình vào đó và giai điệu hát miên man dần dần dẫn em vào giấc ngủ lúc nào không hay. “Quả vả trôi bến Đôm Gặp con rồng bến Trắng...” 4.3. Hát thường rang (hay còn gọi là hát Lời Thương): Thường rang là một lối hát dân gian của người Mường Tân Lạc nói riêng, tỉnh Hòa Bình nói chung, họ hát trong các buổi được mùa, mời rượu, đám cưới, mừng nhà mới. Bất cứ việc vui mừng nào diễn ra trong cuộc sống cộng đồng, người Mường đều hát Thường rang. Nội dung của Thường rang là những lời hay ý đẹp ca ngợi cuộc sống, ca ngợi việc làm ăn phát đạt. Thường rang có thể do một người hát, có thể do hai nhóm hát đối với nhau, quanh vò rượu cần, có khi họ đặt một mâm gạo, bày cả bánh chưng, bánh dày, có khi Thường rang bên bếp lửa nhà sàn hay trong một buổi liên hoan của dân làng. Nơi nào có cuộc vui đông đúc là ở đấy người Mường có thể Thường rang được luôn. Chỉ riêng khi có việc buồn như trong đám tang, có người đau ốm là không hát Thường rang. 4.4. Bộ Mẹnh (Mẹng) Đây là hình thức hát giao duyên nam nữ. Nội dung chính của bộ mẹng là diễn tả tâm sự của thanh niên nạm nữ trong tình yêu. Một cuộc bộ mẹng có thể bắt đầu từ những câu hát hỏi thăm rồi chào nhau, đắn đo, ướm thử ý lời rồi sau đó là những lời tỏ tình, hò hẹn gắn bó keo sơn, rồi những lời nhớ nhung trách móc, giận hờn... Cũng có khi là những lời thở than, oán thán của một mối tình ngang trái, thất vọng, đau thương, bế tắc. Bộ mẹng có thể được diễn xướng bởi một tốp nam và một tốp nữ, có thể bởi một đôi nam nữ đang tìm hiểu hoặc đã yêu nhau. Bộ mẹng có thể được diễn xướng bên bếp lửa, giếng nước, hoặc có thể diễn ra trong một đêm, cũng có thể kéo dài hết ngày này qua ngày khác. 4.5. Hát Ví đúm: Hát ví đúm là hình thức hát đối giao duyên của người Mường dựa trên thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể… Nội dung hát đúm rất đa dạng và phong phú, gắn với những phong tục văn hóa lâu đời của đồng bào dân tộc Mường, chủ đề trong hát đúm rất rộng, từ chuyện chào hỏi, tình yêu đôi lứa, mùa màng, phong tục tập quán, chúc tụng nhau dịp Tết đến ca ngợi quê hương, đất nước… Nét đặc sắc 19

của hát đúm thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của hai bên tham gia. Người hát tự đặt lời bài hát hoặc vận dụng từ vốn kho tàng dân ca của dân tộc mình. Qua việc đối đáp giữa hai bên năm – nữ, thể hiện được khả năng ứng xử nhanh nhẹn, vốn hiểu biết về nhiều mặt, đây là “kênh” để trai gái ướm lời, thử lòng nhau, tìm hiểu nhau. Đó cũng là lí do khiến hát đúm được trai gái Mường rất yêu thích. Thời gian diễn ra một cuộc hát ví đúm phụ thuộc nhiều yếu tố. Khi hai người hát đối với nhau có thể chỉ sau một vài câu là kết thúc nếu như một trong hai người đối kém quá hoặc họ thấy không thích nhau. Nhưng nhiều cuộc hát có thể kéo dài cả đêm, có khi nhiều ngày đêm. Thời gian diễn ra cuộc hát ví đúm phụ thuộc vào tình cảm cũng như khả năng ứng tác, đối đáp của người diễn xướng 4.6. Hát Xéc bùa (hay còn gọi Xắc Bùa) Hát xắc bùa cũng là một hình thức hát dân gian mà phường bùa sử dụng để hát chúc mừng năm mới. Đây là những bài hát có nội dung chúc mừng, ca tụng với ý nghĩa cầu được mùa, cầu sinh sôi nảy nở, thịnh vượng, phồn vinh. Xéc bùa là tục lệ chúc tết cổ truyền của người Mường một cách có tổ chức. Tổ chức đó gọi là phường bùa. Phường bùa có từ 15 đến 20 người gồm cả nam và nữ. Phường bùa không chỉ đi sắc bùa trong xóm mà còn đi sang các xóm Mường bên cạnh. Đi sắc bùa thành hàng một, dẫn đầu đoàn là người mang cồng boong beng rồi lần lượt đến cồng đúm, cồng khệ, cồng đàm. Phường bùa đến nhà hẹn trước để hát sắc bùa, lúc đó, chủ nhà tập trung anh em, họ hàng để chờ đón nhưng theo tục lệ cổng vào nhà vẫn đóng. Phường bùa đứng ngoài cổng đánh bài báo hiệu, người đi đầu hát bài mở cổng, chủ nhà ra mở cổng chào đón. Phường bùa đi vào sâu, vừa đi vừa đánh cồng, cứ sau mỗi bài cồng là mọi người trong đoàn hát một bài chúc tụng, ngợi ca. Sau cuộc hát, gia đình mang thóc gạo tặng phường bùa, chủ nhà cầm nắm thóc vãi nhẹ vào chiếc cồng đàm, người cầm cồng ngửa cồng, nâng hai tay đỡ lấy. Những hạt thóc từ tay chủ nhà rơi nhẹ vào lòng cồng như gieo mạ, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở, tươi tốt, thuận hòa của mùa gieo trồng sắp tới. Nhận quà từ tay chủ nhà, người dẫn đầu hát lời tạ ơn. Như vậy, có thể nói rằng, cùng với Thường rang (bộ mẹng), hát sắc bùa với bộ chiêng cồng là những sáng tạo văn hóa đặc sắc của dân tộc Mường. 4.7. Hát Mo Hát mo không đơn giản chỉ là những bài dân ca được truyền miệng qua bao thế hệ người Mường, mà còn chứa đựng trong đó các giá trị loại hình văn hoá dân gian, là di sản vô giá của dân tộc Mường nói riêng và của Việt Nam nói chung. Mo Mường là hoạt động diễn xướng văn hóa dân gian được thực hành trong các nghi lễ gắn với đời sống tín ngưỡng của người Mường, không gian diễn xướng của 20

mo diễn ra trong đời sống cộng đồng, trong từng gia đình nhằm thực hành một nghi lễ nào đó. Khác với các loại dân ca Thường, rang, bộ mẹng, hát đúm... người dân nào cũng có thể sử dụng trong các buổi hát giao duyên đối đáp nam nữ thì các bài ca nghi lễ mang tính tâm linh lại gắn với các nghi lễ dân gian gắn với chủ thể thực hành mo Mường là ông mo, thầy mo (hoặc ông Tlượng) - những người nắm giữ tri thức mo, không những thuộc lòng hàng vạn câu mo, mà còn thông thạo nghi lễ, tập quán. Mo Mường bao gồm ba lĩnh vực chính cấu thành: Lời mo và diễn xướng, môi trường diễn xướng và con người thực hành diễn xướng mo tức là nghệ nhân mo. Trong đó, lời mo gắn liền với nghệ nhân mo chiếm vị trí quan trọng nhất. Lời Mo: Chính là các bài mo, cát mo, roóng mo (các chương, hồi) hay nói chuẩn xác hơn đó là các bài văn vần được dân gian truyền miệng được sử dụng làm lời khấn trong các nghi lễ tín ngưỡng, lễ cầu mạnh khỏe đặc biệt được dùng trong tang lễ... Nhìn tổng thể Mo Mường được làm nên và kết cấu bởi rất nhiều bài văn vần truyền miệng. Khi thực hiện nghi lễ lời Mo được thầy mo xướng lên những khúc mo, chương mo theo những giai điệu nhất định, phù hợp với nội dung và mục đích và nghi lễ đó hướng tới. Theo nhà sưu tầm Bùi Thiện thì tiến hành đầy đủ mo phải mất 23 ngày mo liên tục với 115 roóng (chương, hồi) Mo và hơn 44. 000 câu thơ mo. Đầy đủ hơn vì bản của Bùi Thiện sưu tầm không chỉ mo trong tang lễ mà còn ở ngoài tang lễ bao trùm lên nhiều lĩnh vực như tín ngưỡng dân gian, nghi lễ vòng đời, các nghi lễ cầu mạnh khỏe của người Mường. Tất nhiên, các nghi lễ ngoài tang lễ chỉ sử dụng một phần nhỏ các lời Mo phù hợp với mục đích nghi lễ đó hướng tới. Trong công trình Mo Mường dài 3 tập của Bùi Nợi có hơn 22.000 câu thơ mo. Bản Mo Mường Hòa Bình do UBND tỉnh xuất bản năm 2010 có dung lượng 46 chương lớn với trên 22.500 câu thơ mo... Mỗi một bản mo, một dòng mo lưu giữ đều có những điểm giống hay khác nhau, mỗi vùng Mường, việc diễn xướng mo, lời mo đều có khác nhau đôi chút. Điều này chứng tỏ yếu tố dị bản, sự phong phú của mo rất đa dạng. Có thể nói dân ca Mường đã thể hiện sâu sắc đời sống văn hóa tinh thần của người Mường, chỉ có một số truyện cổ, tục ngữ, câu đố, múa cùng một số bài nhạc không lời nằm ngoài phạm vi dân ca. Bởi lẽ cả áng Mo Mường đồ sộ, truyện thơ dài cũng được hát lên. Tuy nhiên có nhiều câu đố cũng có thể hát lên hay trong truyện cũng có năm ba câu thơ cũng có thể ngâm nga. Trong bối cảnh đât nước con người và các bản làng người Mường đang có nhiều thay đổi thì việc giữ gìn và phát huy bản sắc của người dân tộc Mường đã và đang cần thiết hơn bao giờ hết. 21

PHẦN II SƯU TẦM MỘT SỐ BÀI DÂN CA MƯỜNG I. ĐỒNG DAO- CÂU ĐỐ 1. Cùn bôông khậm Câyl bôông khị Cùn luổn đi Câyl luổn lại. Dịch: Dây hoa rậm Cây hoa rị Dây luồn đi Cây uốn lại. Lời giải: Cái bừa có ách, chão quấn lại. 2. Câyl ddính thính khưa bải Coỏ clải oó coỏ bôông Câyl đính thính khưa đồông Bôông clêng clải đỉn. Dịch: Cây đứng sững giữa bãi Có trái không có bông Cây đứng sững giữa đồng Bông trên trái dưới. Lời giải: Ninh đồng để trên núc giữa bếp, chỗ thân gọi là trái, ninh không có bông. Chõ đồ xôi đặttrên ninh đồng. Bông là bông cơm trong chõ. 3. Đậm nhậm đỉn rác Ngốôc ngác khưa khôông Clốô bôông thậm thẻ Đẹ vẹ khưa mường Chường cao đó ngọn. 22

Dịch: Mờ mờ dưới nước Nghếch ngác giữa sông Trổ bông thé thé Bệ vệ giữa mường Giường cao đỏ ngọn. Lời giải: Hòn đá dưới nước, Chiếc mảng trên sông, Bông sậy cạnh bờ sông, Cánh đồng, Mặt trời mọc. 4. Hẹng hẹng hẹt hẹt Quẹt ản clải chôm bôm Hôm nằm năm con đáy dậyl. Dịch: Rè rè rẹt rẹt Quệt được trái lùm lùm Đêm nằm ru con lại dậy. Lời giải: Mẹ cho con ngủ rồi dậy kéo sợi với chiếc sa quay và cuốn sợi. 5. Mệ clu dầm ăn râm đồi bải Mệ clu loọc đằm rác ngoọc khởm dao. Dịch: Mẹ trâu đen ăn lẻn đồi bái (gianh) Mẹ trâu bạch đằm nước nguồn sớm mai. Lời giải: Con chấy. Bọt nước ngưng tụ 6. Cloong clẳng vài xeng Đoỏng đeng cân khưa Dịch: Trong trắng ngoài xanh Đóng đanh ở giữa Lời giải: Miếng trầu, vôi trắng bên trong 7. Văỵl văỵl nhơ éc Mụ clăm khéc ngồôi Đôi chó khéc đi. 23

Dịch: Cong cong như ách 7. Một trăm khách ngồi Nghe mỏi khách đi. Dịch: Lời giải: Buồng chuối chín 9. Dịch: Câyl bênt a Lả bên Ngô 10. Câyl bằng bồ Dịch: Lả bằng kim. Cây bên Tan Lá bên ngô Cây bằng bò Lá bằng kim. Lời giải: Cây thông Câyl lắn tắn Lởi ăn khoỏ đẻo Câyl lèo tèo Lởi đòe khoỏ ăn. Cây lăn tăn Dễ ăn khó trèo Cây lèo teo Dễ chèo khó ăn Lời giải: Cây chuối, Cây ớt Hết óô nhà Coỏ bà chạng hảng Tất cả nhà Có ba dạng hán Lời giải: Cặp nặp dùng đun củi bếp 24

11. Mệ đi clước chố rào khọit Dịch: Con theo khâu dôi rọit nhăng nhoi 12. Mẹ đi trước húc rào đáng soạt Dịch: Con theo sau lòi ruột lôi thôi. 13. Lời giải: Chiếc thoi và sợi vải. Dịch: Bên đỉn coỏ lôông 14. Bên clêng oó lôông Dịch: Thặc đết coỏ lôông thâm mâm. Bên dưới chẳng lông 15. Bên trên chẳng lông Dịch: Dập lại có lông tham thâm. Lời giải: Chiếc bẫy cặp khi mắc chim, thú Mềng nhềng màng nhàng Coỏ hang oó coỏ cứa. Bùng nhùng bàng nhàng Có hang không có cửa. Lời giải: Cái màn căng để ngủ ban đêm Cảy đoó đoó Chóo bao cảy đen đen Thẳng hen là ùm. Cái đỏ đỏ Mó vào cái đen đen Ho hen cà ùm. Lời giải: Súng hỏa mai và bông mai có lửa OÓ mưa oó xỏo Bò lọ nhà lang coỏ rác Không mưa không gió Trong hũ nhà lang có nước. Lời giải: Quả dừa 25

16. Người mặc ảo clẳng Dịch: Choong dặng dặng clêng câyl 17. Người mặc áo trắng Đứng thăng thẳng trên cây Dịch: Lời giải: Bẹ hoa cau 18. Câyl bằng bổô Dịch: Lả bằng bè 19. Dịch Câyl xeng le 20. Clải ngọit lịm Dịch Cây bằng bồ Lá bằng bè Cây xanh lè Trái ngọt lịm Lời giải: Cây chuối + quả chuối Cảy bằng clải mè Cá làng đè óo ản Vật bằng quả mè Cả làng đè không nổi Lời giải: Đạn súng hỏa mai Cảy bằng đuôi rai Cá làng nhai óo hết Vật bằng đuôi nai Cả làng nhai không hết Lời giải: Máng nước chảy Mạng đi trước rẹo rẹo Con theo khâu clòn cúc lức Mẹ đi trước rẹo rẹo Con thneo sau tròn lung lúc Lời giải: Guồng sa quay và quận sợi 26

21. Câyl văỵl văỵl Dịch Rác chặyl lộôn ngược 22. Dịch Cây cong queo 23. Nước theo chảy ngược Dịch Lời giải: Cây trúc uốn cong làm cần uống rượu cần 24. Đôít cúi nhà ngỏi Dịch Khỏi cúi nhà rè 25. Chẳyl hết mọl làng rè đái lải Dịch Châm lửa nhà ngói Khói lửa nhà rè Cháy hết người làng rè phơi lưới Lời giải: Cái điếu người hút và thuốc lào Mộit năm mườil hal khảng Mộit khảng ba mươil ngày Coỏ mộit ngày clôông câyl óo rẹt Một năm mười hai tháng Một tháng ba mươi ngày Có một ngày trồng cây không rễ Lời giải: Cây nêu ngày Tết Clăm thàng ớ lộô Đâm lanh thuổng hủ Trăm thằng cởi trần Đâm lăn xuống hố Lời giải: Hạt thóc và cối xay, xay thóc Cảy bằng câyl lụl Đâm chủl bao cò quẹng tăm Thìm lôô đời lôô năm oó ản Vật bằng cây lụi 27

26. Đâm dúi vào rừng vắng tăm Dịch Tìm bao đời năm không được 27. Lời giải: Con rắn chạy vào rừng Dịch Ăn khả mẹng 28. É khả lưng Dịch: Bưng khả khoong Ăn đằng miệng 29. Ỉa đằng lưng Dịch: Bưng bằng đít Lời giải: Cái cối xay Mệ đi clước căyl lôô rào Con bao khâu dôi rọit Mẹ đi trước luồn lỗ rào Con vào sau lòi ruột Lời giải: Cái kim và sợi chỉ Mộit mê clu khà Ba mươil mườil ôổng mẩu Khảu mươil cảy xương khàin Một mẹ trâu già Ba mươi mười ống máu Sáu mươi chiếc xương sườn. Lời giải: Guồng nước. Clốôc bằng ruồi ruồi Đuôi bằng cảy địa Đầu bằng con ruồi Đuôi bằng cái đĩa. Lời giải: Lá trầu không 28

30. Cảy chi clong clẳng Đặng nhặng đỉn ao Đào oó thế Lể oó ản. Dịch: Vật gì trong trắng Lủng lẳng dưới ao Đào không thấy Lấy không được. Lời giải: Bóng mặt trăng ở dưới ao 31. Loòng clởng ca Đa bóoc coóc Dịch: Lòng trứng gà Da con cóc Lời giải: Quả vải 32. Bàng mêịt bàng mơ Phớ lởi đủm khỏo. Dịch: Hũ mật hũ mỡ Mở dễ đậy khó. Lời giải: Quả trứng. 33. Đêm roó ngày chắc Dịch: Đêm không ngày có Lời giải: Bồ đựng chăn màn. 34. Clăm cứa nghìn quân Thàng ké clẩn lanh bao Thàng mặc áo ở lại. Dịch: Chăm cửa nghìn quân Thằng cởi trần lăn vào Thằng mặc áo ở lại. Lời giải: Cái sàng, hạt gạo và hạt thóc. 29

35. Thàng bụ bụ Mắt ủ oó mắt ăn. Dịch: Thằng béo bụ Biết bú không biết ăn Lời giải: Quả đu đủ. 36. Đầu làng đẻng mo Đuôi làng cẳm cờ Dịch: Đầu làng đánh mõ Cuối làng cắm cờ. Lời giải: Mồm chó sủa, đuôi chó vổng lên. 37. Ăng lăng nhơ clải căng hột Phớ cứa là khột lể phai mà chạm Dịch: Căng căng như trái găng hột Mở cửa là xoạt lấy mai mà chạm Lời giải: Nồi cơm và đũa cả sỉa cơm 38. Ôông đul bà điếc Là việc cá đêm cá ngày. Dịch: Ông đui bà điếc Làm việc cả đêm cả ngày Lời giải: Guồng nước. 39. Cảy bằng lả cláy Đi báy ngọn khôông Đồông noò cộng coỏ. Dịch: Vật bằng lá trảy Đi bảy ngọn sông Đồng nào cũng có. Lời giải: Con đỉa 40. Chắc khà ớ nhà ăn cơm clước . 30

Dịch : Bà già ở nhà ăn cơm trước. 41. Lời giải: Đũa cả ngoáy nồi cơm. Dịch: 42. Đực boò mỏng Thuổng choỏng hal chạc Dịch: Đực bò xám Xuống dốc hai thừng. 43. Dịch: Lời giải: Chiếc gầu giai tát nước. Đôít đổl dậm Đôít đồl đẹ Đé khá hốôc Đốôc clôộc reo Đeo kheo cẳyl. Đốt đồi dậm Đốt đồi dẹ Chim sẻ kêu Đốc trộc réo Chào mào gáy. Lời giải; hút thuốc lào đốt thuốc, đốt đóm Điếu kêu, gõ bã thuốc, người hút ho. Hay ăn Óo hay oỏng Óo hay choong Chí hay nằm Biết ăn Không biết uống Không biết đứng Chỉ biết nằm. Lời giải: Con tằm 31

43.- Bân đêm chắn nhơ làl Dịch: Bân ngày al nhơ khạp 44. Ban đêm dóc như bờ Ban ngày phẳng như sạp Dịch: Lời giải: Cánh cửa bè.Ban đêm đóng lại thành thẳng đứng. cái nỏ Ban ngày chống lên thành mái bằng phẳng 45. Mềl con đất Dịch: Mật con cả Lả chôông lơi Rác khào lông lơi chổông xoỏ Mộit năm coỏ mườil năm chăng Coỏ thăng oó coỏ mẹng Coỏ kẻng oó hay băyl. Mề con đất Mật con cá Lá chông trời Nước sông trời chống gió Một năm có mười năm không Có răng không có miệng Có cánh không biết bay. Lời giải: Gò mối, hòn đá, lá cây thông, cầu vồng, mưa đá, cái bừa, Mệ đi clước đẻng bồông đẻng bạt Con đi khâu phừa hát phừa reo Mẹ đi trước trống cồng trống bạt Con đi sau vừa hát vừa reo Lời giải: Lợn mẹ và lợn con theo mẹ. 32

45. Cảy chiêng dóoc nghiêng nừng nhà Chết khà oó ngoỏ thẩy. Dịch: Cái chiêng treo nghiêng vách nhà Chết già không nhìn thấy Lời giải: Cái tai người. 45. Bé chặt chặt Bắt chuồn chuồn Luồn cứa má Đá con vài đôổng Côông con lêng khụ Khủ chéc thâyl nhâyl. Dịch: Bẻ nhặt nhặt Bắt luôn luôn Luồn cửa mả Bỏ con ngoài đồng Gồng con lên núi Cấu xé lù xù. Lời giải: Gặt lúa, nhon lúa, gánh lúa qua cổng, bỏ lại gốc rạ, gánh lúa lên vác, vò lúa. 46. Ca cúp bổôn côi Rôi ngồi bổôn khểl Chểl moọc mười hal chân. Dịch: Gà cụp bốn đuôi Sâu ngồi bốn núi Nấm mọc mười hai chân. Lời giải: Bốn góc của một mái nhà, quả khế, nhà sàn mười hai cột. 47. Bổôn cảy chạm thuổng đất Hal cảy cất lênh clời Hal cảy bơi là quại 33

Dịch: Mộit cảy đại theo khâu dòi dòi Bốn cái chạm xuống đất 48. Hai cái cất lên trời Dịch: 49. Hai cái bơi quầy quẫy Dịch: 50. Một cái theo sau lõng thõng. Dịch: Lời giải: Bốn chân con trâu bò, hai sừng của nó, hai tai và đuôi nó. 51. Dịch: Người mặc ảo nu 52. Chặyl lênh đòl cu cúm. Người mặc áo nâu Chạy lên đồi ro róm. Lời giải: Con bìm bịp chạy. Mại ca vàng Chặyl bao hang gió mẩu. Mái gà vàng Chạy vào hang rỏ máu. Lời giải: Miếng trầu cho vào miệng ăn và nhổ nước trầu. Đêm đủm ngày phớ Đêm phớ ngày đủm. Đêm đóng ngày mở Đêm mở ngày đóng Lời giải: Cửa chuồng gà và bồ đựng chăn màn. Oó mưa oó xoỏ Choỏ clêng clời đe khuông. Không mưa không gió Chó trên trời cắn suông. Lời giải: Tiếng sấm cạn Cảy bằng clộp Nộp cá Ngô liền Lào 34

Nộp cá Đảo liền Mọl Dịch: Cá bằng trộp (mủng con đựng xôi) Nộp cả Ngô lẫn Lào Nộp cả Đáo (người Kinh lẫn Mọl (người Mường). Lời giải: Mặt trời, mặt trăng. 53 Con đỏong khổô Bổô ớ lôô Dịch: Con quấn khố Bố cởi trần. Lời gải: Cây và măng bương, tre. HÁT ĐỒNG DAO (HÁT CHƠI) 1. ÔÔNG ĐÔ ÔÔNG ĐỐC Trẻ em theo hình thức chơi nắm tay nối nhau, tay này năm ngón cái tay kia, tay em này năm tay em kia. Kể hết bài chưa nối hết tay thì kể quay lại đầu. Khi nói hết tất cả cùng đưa lên đưa xuống, vừa hát kể câu cuối vừa quay tay và cho đổ những nắm tay nối dài lên cao. Bài hát kể Ôông đô ôông đốc Thằng Chôộc bải phẳm Thằng Chặm bải phỏi Thàng Chói bải va Chọi ca chọi vịt Chọi thuổng chọi lêng Coo bềng rạo đo Coỏ khoe câyl lảo Coỏ mốc cảo dừa Đưa lêng đưa thuổng Đểng muộng đầu cầu Con hầu đi đàng Ôông lang đi khả 35

Dịch: Đểng khuộng dạ đê Ông đô ông đốc Thằng Chôộc bán mắm Thằng Chặm bán muối Thàng Chói bán hoa Chọi gà chọi vịt Chọi xuống pọi lên Có chĩnh rượu nếp Cắm que cây nứa Có gáo quả dừa Đưa lên đưa xuống Đến phía đầu cầu Con hầu đi đàng Ông lang đi xá Đến chiều dạ đê 2. DÔỘNG CHẰM MẰM Các em bắt chọn lấy con dế khỏe, cầm chập hai chân sau lại. Đặt dế xuống sàn nhà hay đất trong lúc hai chân sau còn co lại, để nó bò bằng hai chân trước, tay người cầm cũng đặt sát xuống đất để dế cảm thấy như bò đi được. Tay vừa làm miệng vừa kể: Chằm nằm chẹo mẹo Clẹo khấp clẹo ngá Bá bù bá bỉl Chểl chân chểl thay Nằm ngày táy clưa Buổng bừa chẳyl phiểng Bổô da báo thiểng noò Iểng thiểng rỉ Đáy yên! 36

Dịch: Chơi dế mèn Dế mằm dế mẹo Trẹo sấp trẹo ngửa Vỗ bầu vỗ bí Buột chân buột tay Thả bừa cháy viếng Bố mày bảo tiếng nào Nghe tiếng ấy Nằm yên! Con dế đang nằm sấp muốn thoát đi nên nhấp nháy hai chân trước rồi nhảy phắt một cái. Không ngờ, dế bị giữ nên trẹo hai chân sau, lật ngửa bụng lên trời. Mọi người cười khoan khoái, vì con dế không chịu nghe lời. 3. NHÙ NHÙ NHỊT NHỊT Mỗi người một ngón tay trỏ vào lòng bàn tay người cầm trịch. Người đó lấy ngón tay của mình chỉ ấn vào từng ngón tay của từng người theo vòng tròn mà nó nhấn hai tiếng một. Đến cuối bài có câu: “Mau rụt” thì người cầm trịch nắm tay lại, bắt được ai người đó phải bịt mắt cho mọi người đi nấp. Nếu không muốn đặt vào lòng bàn tay người cầm trịch thì đặt vào nơi bất kì miễn là đặt được. Thế nhưng lời nói cuối cùng của bài là: “Chọc thủng” mà nắm tay đang chỉ lại đánh khẽ nhưng nhanh xuống đám ngón tay mọi người. Đánh như vậy, phải tay ai thì người đó bịt mắt. Cả hai hình thức trên, nếu không bắt hoặc đánh phải tay ai thì người cầm trịch phải bịt mắt. Cũng có nơi, từng lời thơ chỉ vào từng ngón tay của từng người, lời cuối cùng chỉ vào tay ai người ấy chịu. Khi mọi người đi nấp xong thì báo hiệu bằng tiếng: “Cúp”, hoặc gõ ba tiếng. Trong số các em nhỏ hay em có lý do gì đó không tham gia thì làm việc báo hiệu giám sát. Người nhắm mắt hay bịt mắt gọi là Chẩn. Người làm Chẩn tìm được ai thì người ấy phải thay, cứ thế đổi nhau cho khắp lượt nên phải cố tìm cho được người chưa làm Chẩn. Trò chơi luyện tính nhanh nhẹn, tinh ý. Bởi thế trong khi chơi có em không tìm được người nấp, cứ vừa tìm vừa: “Cúp cho ta với”. Tìm lâu không được phải nói: “Thua đấy” và mọi người ùa ra làm ván khác, người đó cứ phải nhắm mắt. Bài hát chơi Nhù nhù nhịt nhịt Bàn ít bàn ương 37

Xương cơm xương cả Nhạ clù nhạ clèo Keo Reng đôồng đậm Khẩm moọc choóc choỏ doọ dần Đậm clúng! * Nụng na nụng nạy Thai clu cựa cạy Thai clu dòng dòng Moong cầy moong bẻo Hal bồô hal khả Bắt da choong nỉ Bắt mọl là Chấn! Dịch: Nhù nhù nhịt nhịt Mâm ít mâm ương Xương cơm xương cá Bã trầu bã cau Keo Reng cầu vồng Sấm động thịt chó không ăn Chọc thủng! * Nũng na nũng nạy Tai trâu cựa cạy Tai trâu thong dong Muông gầy muông béo Hai bồ hai phía Bắt đứa đứng đây Bắt người làm Chấn! 4. BẮT COÒNG COÒNG Trò chơi này, các em bắt lấy con chuồn kém buộc vào đầu dây hay cây cỏ nhỏ hoặc cái lạt làm mồi nhử chuồn cộm. Khi thấy con chuồn cộm thì tay quay con chuồn kém bằng cách cầm đầu dây không buộc chuồn kém. Trong khi quay thì mồm kể lời trên mà giơ theo cho cộm thấy. Con cộm tưởng chuồn nhỏ đang bay liền đuổi đớp mồi. Khi đó người quay chuồn nhỏ kéo rút lại vồ lấy con cộm. Bắt coòng coòng coòng Bắt coòng côộm côộm 38

Ăn lôộm coòng kém kém Ăn lém coòng con con Ngon chăng Nhà da ở noo hới côộm côộm Côộm côộm ăn lôộm coòng kém kém Kém kém ăn lém coòng con con Ngon chăng Dịch: Nhà da ớ noo hới côộm côộm Bắt chuồn chuồn Bắt chuồn chuồn chuồn chuồn Bắt chuồn cộm cộm (chuồn to) Ăn trộm chuồn kém kém (chuồn nhỏ) Ăn liếm chuồn con con Ngon không Nhà mày ở đâu hỡi cộm cộm 5. BÁ CHÂN COONG Bá chân chân Bá chân coong Doong ủn đi dôống dôộng Dịch: Vỗ chân cong Vỗ chân chân Vỗ chân cong Giòng em đi chơi nhởi. 6. COÒNG BAY Coòng coòng bách Coòng coòng bay 39

Bay hè bay choo xa Oó coỏ qua bắt ản Là ma coòng coòng. Dịch: Chuồn chuồn bay Chuồn chuồn bắt Chuồn chuồn bay Bay thì bay cho xa Kẻo mà ta bắt được Làm ma chuồn chuồn. 7. CHẶC NGHÍT Đâm cơm rằng khỏo Đâm loọ rằng củi ca treng Bao rừng rung xong Là mệ Chặc Nghít Dịch: Chặc nghít Giã cơm rằng khó Giã lúa rằng lợn gà tranh Vào rừng cây xanh Làm con chặc nghít. 8. ĐÙM ĐẺ Đùm đẻ Bẻ lá choóc Boóc lả loọ Choỏ thẹn ôông Chôồng mệ Hạm Thảm chục clu Thảm chục boò 40

Boò Mường Bổổng Clôổng rác Đẹt Khét đa đa Ca coó cẩyl Vẩyl nhuộm vóo Đóo khăn lưng Khừng cảy rai Thai cảy ngựa Con đửa con cải Ớ lại cho yên Cơm mềm phỏi chẳm Hột phẳn đi đàng Ca vàng ốp ốô Ăn clải khố chua Ăn cua bé coỏng Cỏi cơm roọng Còn đăng đợi da Dịch: Đom đóm Đom đóm Bẻ lá chóc Bóc lá lúa Chó thẹn ông Chồng mẹ hạm Tám chục trâu Tám chục bò Trâu mường Bò Bò mường Bóng Trống Đác Đẹt 41

Khét đa đa Gà rừng gáy Váy nhuộm vó Đỏ khăn lưng Sừng con nai Tai con ngựa Con đứa gái Ở lại yên Cơm mềm muối mặn Hại Pắn đi đàng Gà vàng ấp ổ Ăn quả xổ chua Ăn cua bẻ càng Gói cơm đi nương Còn đang đợi đấy. 9. CÂY CHỎO Chân quá quýt Đít hột bôông Lôông kim khào Clôộng bao cả Áo vắt phai Thai lả lôồm Cho ò cảng phướng Đe chồil lồi hù Chồl lồl pẹt Chồl lồl hù Chồl lồl pẹt Dịch: C on chó Chân quả quýt Đít hột bông Lông kim xào Bụng bao gạo 42

Áo vắt vai Tai lá lồôm(*) Chân cán môi Xủa chồl lồl hù Chồl lồl pẹt Chồil lồl hù Chồl lồl pẹt (*).lá lồ ôm : lá rừng có chất chua , thường dùng nấu thịt bò , thịt chó...ăn ngon 10. ĐÁY KHƯA ĐÁY KHIỆNG Đáy khưa Án bừa đòn đan Ản màm é chỏo Ản bòò loọ é cúi Đáy khiệng Ản phiểng đồô ăn Ản khăn đét clốôc Ản mốôc đi thẳm Dịch : nằm giữa nằm cạnh Nằm giữa Được bữa đòn gánh Được giỏ cứt chó Được vò cứt lợn Nằm cạnh Được viếng (ninh) đồ ăn Được khăn quấn đàu Được gáo đi tắm 11. LÀ NÀ Đàm nà loọng cọng Bừa cày qua loa Rét con ỷ bả chắc khà Phừa là Phừa bắt ta ta chằm mằm Dịch : Làm ruộng Đòng ruộng lớm chớm Bừa cày qua loa 43

Trẻ con phụ nữ người già Vừa làm Vừa bắt cà kêm dế mèn Tiếng rằng cơm nếp cơm tẻ Không nen một miếng mà ăn vào lòng 12. Phôố chân tay Bá chân chân Bá chân thay Ăn mày cụ mộng Cụ mộng oó coỏ ớ nhà Bắt lôộm con ca Chạyl vềl dép dép Dịch : Võ chân tay Vỗ chân chân Vỗ Chân tay Ăn mày ông ngoại Ông ngoại không có nhà Bắt trộm con gà Chạy về nhà chiêm chiếp 13. CHOỌC KIẾN Kiển cun kiển càng Báo ông lang tha lể clôốc Hôốc bôổ mệ tha khâu lể kẻng Eng Va eng Vẻng tha lể clải đùi non Thôn con tha lể khoong Cá doòng tha lể xác Dịch: Chọc kiến Kiến cun kiến càng Gọi nhà lang ra lấy đầu Báo bố mẹ ra sau lấy cánh Anh Va anh Viêng ra lấy đùi non Cáu con ra lấy đít Hết dòng dõi ra lấy xác 14. TE CON Một con clòn nhơ clớng Hai con nhơ chợng đốô đắc 44

Ba con nhơ khác lót ổ ca Bổn con nhơ thi ma đứng cửa đổông Răm con chết khổông bằng khà. Dịch: Đẻ con Một con tròn như trứng Hai con như rổ đựng rau Ba con như sọt lót ổ ca Bốn con như thây ma cửa đống Năm con chết sống ngang bằng II. HÁT RU Ú ù là hạy 1. Táy ti ún ời Ú ù là hạy Mạng chlải chiểu clặng cho con nằm Ù ú u là hạy Táy ti mạng đúc thằm thiết kẻn là xôống áo Là xôống chùng con mặc tếng coót Táy ti mạng ti cấyl lệ chlái Mạng ti hái pẻ bôông Ti lệ bôông dầm nhuộm phóo Lệ bôông tỏo tỏo nhuộm bang Bôông woàng woàng nghẹl cho con - Ú ù là hạy Con tảy ti Mạng ti chá đầm khá xa Eng ti phớ nà khá khênh Mạng đi là lọo đếp cho con ăn queng năm Eng ti là lọo cho con ăn queng kháng Ké phải tếng ún tếng mạng mà phiền 45

Dịch: ... Ngủ đi con hỡi 2. Mẹ lót chiếu nôi cho con nằm Ngủ đi mẹ nuôi từm kéo tơ làm xống áo Làm xống chùng con mặc tới ráo Làm áo dài con mặc tới gót Ngủ để mẹ đi gặt lúa trái Để mẹ đi hái lúa bông Mẹ đi lấy bông đen nhuộm vỏ Đi lấy bông đỏ đỏ nhuộm vang Bông vàng nhuộm nghệ cho con Con ngủ đi Mẹ đi cào đầm phía xa Bố đi vỡ nà phía gần Mẹ đi làm lúa nếp cho con ăn quanh năm Bố đi làm lúa chăm (tẻ) cho con ăn quanh tháng Kẻo bố cùng mẹ phải đến em đến chị mà phiền. Ru ru là hạy Tảy ngày ún hởi Tảy lại Mạng ti cỏo lọo woài hầng Lệ bôông pừng tỏo tỏo Lệ bôông phóo xeng xeng Bôông chu chềnh thắm thắm Lệ đám khôông thai wàang Lệ pàng hạo ngọtl Lệ khét chuối lang Lệ pàng hạo chợ 46

Dịch: Yỵ là ọom Tóom lóom chlái pu pờm Ăn cơm quềng hốôc ý Ý bất lằng chặyl ti Ti tếng Bu Nu pái nại Trở lộôn lại wuề cồông wua Wua choo ba tồng tiền Choo liền cáy bủng lọo Choo cáy chóo tọoc moong Choo Ý tòong trlu cái Choo ún mại trloong mường Choo cáy trlường đếch cấm Choo khậm tao nenh wàng Choo cả puồng nang noon Mà doong ti kẻ chợ. Pậu là thôội là nợ Choo ha lắm lắm nôồng nôồng Ru ru là rảy Ngủ ngày em hỡi Ngủ lại Mẹ đi cỏ lúa ngoài rừng Lấy hoa rừng đỏ đỏ Lấy hoa vỏ xanh xanh Lấy hoa chềnh thâm thẫm Lấy đám hoa tai vàng Lấy ang rượu ngọt Lấy khót chuối lang 47

Lấy ang rượu chợ - À ơi hỡi à óm Đỏ lòm trái bù bờm Ăn cơm không gọi thím Thím mất lòng chạy đi Đi đến Bu Nu, Bái Nại Quay trở lại với ta Ta cho ta đồng tiền Cho nguyên cả nong lúa Cho con chó săn muông Cho thím đòng trâu cái Cho cô gái trong mường Cho chiếc giường dệt gấm Cho đám dao nanh vàng Cho cả buồng nang non Để kẻ đi chợ Họ làm tội làm nợ cho ta lắm lắm, nhiều nhiều 3. Ý y là y Táy ti ún hởi Táy ti ún à Mạng ha ti cẩyl bang đồi bải Mạng ti hải đểng cloong khoang Mạng ti đoong bừa lẹ phừa dôố mạ - Y y là hảy Ún tảy ngày ti Ún tảy ngày lại Mạng ti rừng Lể clải bôông bừng choo ủn bổi 48


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook