TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - Hồ Chí Minh- Đề bài số 1: Sức thuyết phục của bản “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh. I. MỞ BÀI Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ tài ba, người anh hùng đã giải phóng dân tộc, đất nước Việt Nam thoát khỏi xiềng xích của nô lệ mà Người còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc với nhiều tác phẩm đặc sắc trên nhiều thế loại khác nhau. Đặc biệt, trong số những sáng tác của Hồ Chí Minh, bản “Tuyên ngôn độc lập” ra đời vào năm 1945 là một trong số những tác phẩm xuất sắc nhất, tiêu biểu cho phong cách văn chính luận của Người. II. THÂN BÀI 1. Khái quát - Hoàn cảnh ra đời: Sau gần 100 năm bị áp bức nô lệ, nhân dân ta đứng lên giành chính quyền. Cách mạng tháng 8 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Ngày 26 tháng 8 năm 1945 tại số nhà 48 Hàng Ngang, người đã soạn bản “Tuyên ngôn độc lập”. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước hàng vạn đồng bào - Bố cục: Bản tuyên ngôn có bố cục 3 phần, được sắp xếp chặt chẽ và logic. Cụ thể gồm: cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và lời tuyên bố độc lập. - Sức thuyết phục của “Tuyên ngôn độc lập” được tạo nên chủ yếu từ hai yếu tố: + Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực + Sức lay động lòng người 2. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực 2.1. Cơ sở pháp lý của Tuyên ngôn độc lập (Đoạn 1) - Bản tuyên ngôn mở đầu bằng cách trích dẫn những lời bất hủ trong bản tuyên ngôn độc lập của Mĩ và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Cả hai câu trích dẫn trong hai tuyên ngôn này đều đề cập đến quyền tự do, quyền sống, quyền bình đẳng của con người. + Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người ... quyền mưu cầu hạnh phúc”. + Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do ... bình đẳng về quyền lợi.” - Việc trích dẫn hai văn bản này có tác dụng rất lớn. Đầu tiên, nó thể hiện sự tôn trọng những giá trị, tư tưởng tiến bộ của nhân loại, sử dụng hai bản tuyên ngôn có giá trị, được thế giới công nhận làm cơ sở pháp lý. Đó cũng là cách Hồ Chí Minh dùng chiêu thức “gậy ông đập lưng ông”, lấy tuyên ngôn của Mĩ, Pháp để phản bác lại chúng, ngăn chặn mọi sự bác bỏ vì đây là lí lẽ của cha ông chúng, lại đã được nhân laoij công nhận. Người khẳng định cách mạng Việt Nam cùng một lúc làm được hai nhiệm vụ: đánh đuổi thực dân, 1
phát xít xâm lược giành độc lập tự chủ, lật đổ chế độ phong kiến giành quyền sống cho con người. Đồng thời bằng cách này, Bác đã đặt tuyên ngôn của Việt Nam sánh vai với tuyên ngôn Pháp và Mỹ, thể hiện lòng tự tôn dân tộc, cùng một cảm hứng tự hào dân tộc như “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi: “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” Để sau đó người kết thúc phần mở đầu bằng lời khẳng định hùng hồn: \"Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được\". Nhưng đóng góp lớn nhất của chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây là Người đã vận dụng sáng tạo hai đoạn trích dẫn của hai bản tuyên ngôn. Từ quyền của con người được nhắc đến trong hai câu danh ngôn ấy, Bác nâng lên quyền của cả dân tộc. Tầm nhìn sâu rộng của Bác đã tạo nên một lời khẳng định đanh thép: \"Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do\". Như vậy, bằng lập luận chặt chẽ, sáng tạo Người khẳng định các dân tộc trên thế giới đều có quyền độc lập, tự do. Đây chính là cơ sở cho hệ thống lập luận trong toàn tác phẩm. Phép suy rộng ra ấy còn có ý nghĩa khơi dậy, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. 2.2. Cơ sở thực tiễn của Tuyên ngôn độc lập (Đoạn 2) Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn là tội ác của bọn thực dân Pháp gây ra trên đất nước ta. Tội ác ấy đi ngược lại với tinh thần của hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ. Một thực tiễn không thể phủ nhận nữa là lập trường chính nghĩa và dân tộc ta đã có cả quá trình đấu tranh để giành lại độc lập của dân tộc. * Tố cáo tội ác của thực dân Pháp Để tố cáo bộ mặt thật của thực dân Pháp, Bác dùng một câu vừa khẳng định vừa có ý nghĩa phủ định. Bác đã lật ngược lại vấn đề: \"thế mà hơn 80 năm nay\". Bác đã vạch trần luận điệu xảo trá của thực dân Pháp, giáng đòn phủ đầu về phía chúng. - Vạch trần bản chất công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp: Chúng nói chúng có công khai hóa nhưng thực chất chúng thi hành nhiều chính sách dã man về chính trị, văn hóa – xã hội – giáo dục và kinh tế. Nghệ thuật điệp cấu trúc “chúng + hành động”, đằng sau mỗi từ chúng là một tội ác, từ đó nhấn mạnh tội ác của Pháp. + Tội ác về chính trị: “Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man, lập ra ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc, chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu; thi hành chính sách ngu dân; dùng rượu cồn thuốc phiện để làm cho nòi giống ta suy nhược”. Tội ác của chúng là tước đoạt tự do dân chủ, luật pháp dã man, chính sách hà khắc chia để trị, chém giết những chiến sĩ yêu nước của dân ta, chúng ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân, đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện. + Tội ác về kinh tế: Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ năm tội ác lớn về kinh tế: bóc lột tước đoạt, độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, sưu cao thuế nặng, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta và tội ác lớn 2
nhất của thực dân Pháp gây ra về kinh tế là nạn đói khủng khiếp năm 1945: “Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói” và làm cho nước ta ngày càng trở nên nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều. - Vạch trần bản chất công cuộc “bảo hộ” của thực dân Pháp: Chúng nói chúng có công bảo hộ thì Hồ Chí Minh tố cáo chúng hai lần bán nước ta cho Nhật. Lần thứ nhất là “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Lần thứ hai là vào ngày 1945), khiến cho “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”, ... => Bằng việc sử dụng biện pháp liệt kê; câu văn ngắn dài, động từ mạnh, điệp từ, điệp cú pháp, ngôn ngữ sắc sảo; hình ảnh gợi cảm, giọng văn hùng hồn. Đặc biệt là hình ảnh \"tắm cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu\". Hình ảnh này có sức gợi hình gợi cảm hết sức mạnh mẽ. Tất cả thể hiện lời kết án đầy phẩn nộ, sôi sục căm thù. Mặt khác người còn tô đậm sự nhục nhã của Pháp khi sử dụng các từ ngữ như quì gối, đầu hàng, bỏ chạy… Như vậy, Hồ Chí Minh chỉ rõ thực dân Pháp không những không có công khai hóa, bảo hộ mà còn gây ra bao tội ác trên đất nước ta. Tội ác của chúng là áp bức, bóc lột và diệt chủng. Những tội ác ấy đã cho thấy sự bịp bợm, dối trá, đi ngược lại với lí lẽ của cha ông chúng và cũng đi ngược lại với lập trường của loài người tiến bộ. - Pháp nói chúng nhân danh đồng minh thì Hồ Chí Minh chỉ rõ chúng đã phản bội Đồng minh, không hợp tác với Việt Minh chống phát xít mà còn thẳng tay khủng bố Việt Minh đánh Nhật. * Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta: - Bác bỏ luận điệu nước ta là thuộc địa của Pháp: Để hợp thức hóa việc quay trở lại xâm lược nước ta, Pháp đã rêu rao trên chính trường thế giới rằng Đông Dương là thuộc địa của Pháp, nay phát xít Nhật thua trận, Pháp có quyền quay trở lại Đông Dương. Nhưng Hồ Chí Minh nêu rõ sự thật là từ năm 1940 nước ta là thuộc địa của Nhật. Khi Nhật thua chạy thì nhân dân ta đã nổi dậy cướp chính quyền từ tay Nhật. Nhân dân ta cùng lúc phá tan ba xiềng xích khiến Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị để lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Định ngữ “Sự thật là” được nhắc đi nhắc lại càng có ý nghĩa khẳng định một cách chắc chắn thực tiễn lịch sử đó. Cũng chính vì lẽ đó, Người tuyên bố thoát li hoàn toàn mối quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết các hiệp ước Pháp đã kí hết với Việt Nam, xóa hết mọi đặc quyền đặc lợi của Pháp trên đất nước Việt Nam. Và như vậy với cơ sở pháp lí vững chắc, bằng chứng thực tiễn xác thực có thể khẳng định không có thế lực nào có quyền xâm phạm nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam kể cả TD Pháp. * Khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính nghĩa - Trước khi tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã khẳng định sâu sắc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của ta là chính nghĩa. Bởi vì: 3
+ Dân tộc ta là một dân tộc gan góc, có truyền thống kiên cường bất khuất bảo vệ đất nước. Bằng chứng là nhân dân ta gan góc chống ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, gan gọc đứng về phía Đồng minh chống phát xít suốt mấy năm để rồi lấy lại đất nước từ tay Nhật. + Dân tộc ta lại là dân tộc luôn nêu cao tinh thần nhân đạo: Khi Pháp thua chạy còn giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng. Nhưng khi chúng thua chạy ta lại giữa thái độ khoan hồng, nhân đạo giúp người Pháp chạy qua biên thùy, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Tinh thần nhân đạo ấy có lẽ được kế thừa từ truyền thống dân tộc, từng được thể hiện trong “Bình Ngô đại cáo”: “Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh. Mã Kì, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền ra đến bể mà hồn bay phách lạc; Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa về đến nước vẫn tim đập, chân run”. - Lập trường chính nghĩa của dân tộc ta còn được thể hiện khi nó rất phù hợp với các điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn. Hồ Chí Minh viện dẫn các nguyên tắc này không chỉ để khẳng định quyền độc lập tự chủ mà còn để kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. 2.3. Tuyên bố độc lập (Đoạn 3) * Lời tuyên bố độc lập Sau khi đã khẳng định một cách sâu sắc quyền độc lập dân tộc, Hồ Chủ tịch đã sử dụng những lời lẽ hùng hồn, đanh thép, kết cấu trùng lặp, liên tục nhấn mạnh và xoáy sâu vào hai vấn đề chính là “độc lập” và “tự do” để tuyên bố nền độc lập của dân tộc: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!”. Đó là những lời lẽ xuất phát từ trái tim của một con người có lòng yêu nước, yêu dân, yêu chuộng hòa bình sâu sắc, là những khát khao cháy bỏng không chỉ của riêng mình Bác mà còn chính là thay lời muốn nói của toàn thể dân tộc Việt Nam, muốn tuyên bố với cả thế giới rằng nước Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền lãnh thổ. * Ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc Người còn cảnh cáo âm mưu xâm lược của bọn thực dân, phát xít. Nếu chúng còn dã tâm xâm lược, nhân dân Việt Nam quyết hy sinh tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ nền độc lập thiêng liêng, cao quý ấy. 3. Sự lay động lòng người của bản tuyên ngôn độc lập - Bản “Tuyên ngôn Độc lập” trở thành một áng văn nghị luận mẫu mực không chỉ bởi lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực mà còn lay động hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nước bởi tình cảm thiết tha của tác giả. Chế Lan Viên đã ca ngợi điều này trong bài viết “Trời cao xanh ngắt sáng Tuyên ngôn”. Những cung bậc tình cảm được thể hiện rõ trong bản tuyên ngôn là: + Thái độ căm phẫn của tác giả khi vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân nước ta thể hiện qua cách gọi: bọn, chúng. Dùng các từ ngữ diễn tả tội ác tày trời của 4
chúng đối với nhân dân ta: tắm các cuộc khởi nghĩa, không cho, cướp, dùng... để đầu độc, thi hành... + Tình cảm xót thương của Bác Hồ khi nói đến nồi đau cảa dân tộc ta trong những năm bị thực dân Pháp cai trị: ngăn cản nước ta đoàn kết, dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều, dân... trở nên bần cùng... Tình cảm yêu thương, xót thương của Bác không dành riêng cho một đối tượng nào mà là cho tất cả mọi người trên đất nước Việt Nam, từ công nhân, nông dân, dân buôn, trí thức cho đến tầng lớp tư sản... + Tình cảm thiết tha mãnh liệt, thái độ cương quyết, đanh thép khi nói đến quyền được hưởng tự do độc lập, của nhân dân Việt Nam cũng như quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập dân tộc. => Thể hiện lòng yêu nước thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của Hồ Chí Minh và cả dân tộc. - Những tình cảm thiết tha đó được biểu lộ thông qua những giọng điệu khác nhau. Khi nồng nàn tha thiết, khi xót xa thương cảm, khi hừng hực căm thù, khi hào sảng khích lệ... Giọng điệu đó được đưa đến sự phong phú, đa dạng trong cảm xúc của người viết, đồng thời cho thấy Người đang hướng đến những đối tượng khác nhau trong bản Tuyên ngôn này. III. KẾT LUẬN 1. Nghệ thuật: là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, gần gũi, giàu tính biểu cảm và đầy sức lay động lòng người. Biện pháp nghệ thuật điệp cấu trúc chính là hình thức giúp nhấn mạnh quyết tâm giữ vững nền độc lập cũng như khẳng định một sự thật không ai có thể chối cãi được về nền tự do, độc lập của người Việt Nam. Mặt khác, trong khi khẳng định nền độc lập tự do của nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã sử dụng những từ ngữ khẳng định: sự thật là, không thể không, phải được... thể hiện niềm tin vững vàng vào sự tất thắng và nền độc lập tất yếu của dân tộc ta. 2. Nội dung: “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh đã nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí chống quân xâm lược, lòng tự hào dân tộc; đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc ta. Có thể khẳng định rằng, “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kế thừa được những chân lí của lịch sử dân tộc và thế giới vừa mang tính thời đại. Nó mãi mãi là áng thiên cổ hùng văn ngang tầm với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam yêu nước. Đề bài số 2: Giá trị lịch sử và văn học của bản “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh I. MỞ BÀI - Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh - Giới thiệu tác phẩm - Khẳng định tác phẩm là văn kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc đồng thời cũng là một tác phẩm văn chương xuất sắc. 5
II. THÂN BÀI 1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Tk đề 1 2. Giá trị lịch sử của tác phẩm: (Phân tích khái quát) - Tái hiện lại một thời kì lịch sử đau thương và tổng kết lại toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc: Bằng lời văn ngắn gọn mà xúc tích rõ ràng, Bác đã tái hiện lại một thời kì lịch sử đau thương và tổng kết lại toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc. + Trước hết là tội ác của thực dân Pháp, chúng mượn cớ khai hóa, bảo hộ nhưng thực chất là cướp đoạt của cải, giết chóc, đồng hóa nhân dân ta làm cho dân ta sống trong khổ cực ngu dốt bằng cách thi hành những luật pháp dã man ở trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị cho đến văn hóa giáo dục. + Khi Nhật đến chúng không hề làm đúng với trách nhiệm đã nói là bảo vệ dân tộc ta mà trước thế lực lớn mạnh đó chúng giao nước ta cho Nhật để họ mặc sức cướp bóc. Bác đã chỉ rõ thực dân pháp “hai lần bán nước ta cho Nhật” làm dân ta đã khổ lại càng khổ hơn, làm nước ta càng trở nên nghèo nàn, xơ xác tiêu điều. + Nhân dân ta cướp chính quyền từ tay Nhật, xây dựng nên nước Việt Nam mới. - Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản tuyên ngôn độc lập nhằm chính thức tuyên bố với nhân dân cả nước và toàn thế giới về nền độc lập dân tộc của nước Việt Nam. Bản tuyên ngôn độc lập đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đánh dấu một sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc, khép lại một thời kì đen tối, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc: kỉ nguyên của độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. Khẳng định vị thế bình đẳng của dân tộc ta với các dân tộc khác trên thế giới. - Tác phẩm cũng vạch trần âm mưu tái xâm lược của bọn thực dân, đế quốc và đập tan những luận điệu xảo trá của thực dân Pháp khi muốn hợp thức hóa dã tâm quay trở lại xâm lược Đông Dương. - Về mặt lịch sử, “Tuyên ngôn độc lập” còn khẳng định ý nghĩa của cách mạng tháng tám là cùng một lúc làm được hai nhiệm vụ: + Đánh đuổi thực dân, phát xít xâm lược giành lại độc lập, chủ quyền dân tộc. + Lật đổ chế độ phong kiến để giành quyền sống cho con người. 3. Giá trị văn chương: (Phân tích chi tiết) 3.1. Về cảm hứng văn chương: “Tuyên ngôn độc lập” là áng văn chương yêu nước của thời đại, được kết tinh khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc về độc lập, tự do. Tác phẩm đã nêu cao truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta là truyền thống yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Hơn nữa, bản tuyên ngôn cũng thể hiện tâm huyết và hội tụ vẻ đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh. 3.2. Về hình thức nghệ thuật (Văn chính luận): Tuyên ngôn độc lập còn mang giá trị văn chương to lớn bởi cho thấy tài năng bậc thầy trong ngòi bút chính luận của Hồ Chí Minh. Đó là một áng văn chính luận mẫu mực nhất, thuyết phục và có sức hấp dẫn nhất. * Kết cấu, bố cục: Kết cấu, bố cục khá chặt chẽ được chia ba phần rõ rệt, với mỗi phần một ý nghĩa và liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó: 6
- Phần 1: Hồ Chí Minh đã nêu lên những chân lý về nhân quyền và dân quyền để làm cơ sở pháp lý cho bản tuyên ngôn. Phần này bác đã nêu hai bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 và bản Tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm 1971 để khẳng định quyền thiêng liêng của mỗi con người đều được có:” tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn này, Bác đã đặt bản tuyên ngôn độc lập của ta ngang hàng với bản Tuyên ngôn của các nước như lớn như Pháp, Mỹ. Từ đó khẳng định quyền được sống tự do của mỗi con người nâng lên thành quyền được hưởng tự do của mỗi dân tộc. - Phần 2: Phần thứ nhất đã làm nền cho phần thứ hai của bản tuyên ngôn. Trong phần thứ nhất Bác khẳng định quyền thiêng liêng của mỗi con người, của mỗi dân tộc là quyền được sống, được tự do độc lập và mưu cầu hạnh phúc. Ở phần thứ hai của bản tuyên ngôn Bác đã chỉ rõ tội ác của bọn thực dân Pháp đã gây ra cho đất nước ta, nhân dân ta. Hành động của chúng thật dã man vô nhân đạo đi ngược lại tinh thần của bản tuyên ngôn dân nhân quyền và dân quyền trong cuộc cách mạng của chính nước họ. Đối lập với sự xảo trá độc ác đó là tinh thần nhân đạo yêu độc lập tự do và tinh thần quyết tâm giành và bảo vệ độc lập của dân tộc ta. - Phần 3: Đến phần cuối cùng Bác nói về kết quả của tinh thần yêu nước yêu độc lập của dân tộc ta và tuyên bố trịnh trọng với thế giới rằng:” nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. * Về lập luận: Bằng chứng cứ được hun đúc từ thực tế khách quan, lí lẽ sắc bén, đanh thép, bản tuyên ngôn đã tố cáo rõ tội ác thực dân \"trời không dung, đất không tha\" của thực dân, khẳng định quyền tự do độc lập và sự thật nước Việt Nam đã thành nước tự do, độc lập. * Về ngôn ngữ: + Ngôn ngữ ngắn gọn, chính xác, súc tích ; lời văn vừa sống động, gây xúc động lòng người tác động mạnh vào nhận thức và tình cảm và có sức lay động sâu xa. + Các biện pháp tu từ được sử dụng được sử dụng linh hoạt hiệu quả làm cho lý lẽ thêm sinh động rõ ràng. III. KẾT LUẬN Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng to lớn đồng thời cũng là một áng văn chương bất hủ của nền văn học Việt Nam. Đề bài số 3: Đối tượng hướng đến và mục đích viết “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh I. MỞ BÀI: Tk đề 1 II. THÂN BÀI 1. Hoàn cảnh ra đời + Hoàn cảnh hẹp: Tk đề 1 7
+ Hoàn cảnh rộng: “Tuyên ngôn độc lập” ra đời giữa lúc tình thế đất nước vẫn đang trong thời kì nguy ngập. Chính quyền mới ra đời, đất nước vẫn đang nằm giữa bốn bề hùm sói, hai đầu đất nước đều có kẻ thù ngoại bang đe dọa. Ở biên giới phía Bắc là 20 vạn quân Tưởng đang ngấp nghé ở cửa biên giới, chuẩn bị kéo vào miền Bắc nước ta. Phía sau đội quân này là sự nhòm ngó muốn can thiệp vào Đông Dương của đế quốc Mỹ. Ở phía Nam, thực dân Anh được giao nhiệm vụ của phe đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, đằng sau quân Anh là quân Pháp đang lăm le muốn quay trở lại xâm lược đất nước ta. Nhà cầm quyền Pháp lúc này tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị quân Nhật chiếm, đương nhiên Đông Dương phải thuộc quyền bảo hộ của người Pháp. 2. Đối tượng hướng đến Trong bối cảnh đó, đối tượng hướng đến của “Tuyên ngôn độc lập” là: - Tất cả đồng bào Việt Nam (những người hơn 80 năm qua rên xiết dưới ách xâm lược của Thực dân Pháp và phát xít Nhật, nay khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, đứng đầu là Hồ Chí Minh, họ đã đứng dậy giành chính quyền). - Nhân dân trên toàn thế giới: (Phần cuối tác phẩm, Bác đã viết” “Vì những lẽ trên chúng tôi chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố với thế giới rằng…” =>Nhằm tuyên bố độc lập và kêu gọi ủng hộ. - Các thế lực thù địch và cơ hội quốc tế đang có dã tâm tái nô dịch nước ta, đặc biệt là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. => Nhằm cảnh cáo âm mưu tiếp tục xâm lược 3. Mục đích thể hiện - Tuyên bố với đồng bào cả nước, với toàn thế giới về sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc Việt Nam trước toàn các nước trên thế giới. - Kêu gọi và tranh thủ sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ủng hộ nền độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Cùng với đó là công nhận tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu chống lại đế quốc, thực dân của dân tộc ta - Bác bỏ luận điệu xảo trá của kẻ thù khi Pháp theo chân đồng minh Anh quay trở lại nước ta. Tranh luận ngầm với những lời lẽ giả dối, sai sự thật về cái gọi là bảo hộ, là khai phá văn minh với Việt Nam mà Pháp đã tuyên bố trước đó. Từ đó ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của bọn thực dân Pháp. - Cảnh báo kẻ thù, bọn đế quốc, thực dân và các thế lực thù địch rằng nhân dân Việt Nam sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc mình III. KẾT BÀI Với đối tượng cụ thể, mục đích xác định, bản “Tuyên ngôn độc lập” xứng đáng là áng văn chính luận mẫu mực, là “ thành công thứ ba” khiến Người cảm thấy sung sướng trong suốt cuộc đời hoạt động Cách Mạng, cầm bút viết văn, làm báo của mình. TÂY TIẾN 8
Quang Dũng I. MỞ BÀI Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài vừa viết văn, làm thơ lại biết cả vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng trước hết ông là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt là khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. Có lẽ trong suốt cả đời của người nghệ sĩ tài hoa ấy những năm tháng chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến là quãng thời gian đáng nhớ nhất, để lại những dấu ấn sâu đậm nhất. Và bao nhiêu kỉ niệm sâu sắc ấy đã được nhà thơ lưu giữ lại với thời gian trong một thi phẩm xuất sắc, được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp: Tây Tiến - bài thơ mang chứa gần như trọn vẹn những gì là đặc trưng nhất của hồn thơ Quang Dũng, để khi nói tới Quang Dũng là nhớ ngay tới Tây Tiến. II. THÂN BÀI 1. Giới thiệu về tác phẩm 1.1. Hoàn cảnh sáng tác - Giới thiệu đoàn binh Tây Tiến: + Tây Tiến là phiên hiệu một đơn vị bộ đội thành lập năm 1947 (Đây là giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, theo tiếng gọi của Đảng, nhiều học sinh - sinh viên đã lên đường tham gia kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”). + Nhiệm vụ: Phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch và bảo vệ biên giới Việt - Lào. + Địa bàn hoạt động: Rộng. Bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và cả Sầm Nưa - Thượng Lào. + Thành phần: Phần đông là thanh niên Hà Nội (nhiều sinh viên, học sinh). + Điều kiện sống và chiến đấu: Gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật. + Tinh thần: Hào hùng, lãng mạn, lạc quan, yêu đời. + Đoàn binh Tây Tiến sau một thời gian hoạt động trở về Hòa Bình, thành lập trung đoàn 52. - Hoàn cảnh sáng tác cụ thể : Quang Dũng là Đại đội trưởng trong đoàn binh Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa được bao lâu, khi kỉ niệm về Tây Tiên và hơi ấm đồng đội hầu như vẫn còn nguyên vẹn, tại Phù Lưu Chanh - một làng nhỏ bên bờ sông Đáy hiền hòa, ông nhớ về đơn vị cũ nên viết bài thơ này. 1.2. Xuất xứ và nhan đề: Nhan đề ban đầu của bài thơ là \"Nhớ Tây Tiến\" sau đổi thành \"Tây Tiến\" => Giúp cho tâm tư tình cảm của tác giả được bộc lộ kín đáo hơn. Bài thơ được in trong tập thơ “Mây đầu ô” (1986). 1.3. Nội dung chính: Cả bài thơ là nỗi nhớ của nhà thơ Quang Dũng về một thời Tây Tiến. Với tình cảm sâu nặng, cảm hứng vừa hiện thực vừa lãng mạn và ngòi bút tài hoa, nhà thơ đã khắc họa bức tranh thiên nhiên Tây Tiến vừa hoang vu, dữ dội, hiểm trở vừa thơ mộng, duyên dáng, mĩ lệ. Trên cái nền thiên nhiên ấy là hình tượng những người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng, vừa dũng cảm, can trường vừa lãng mạn, hào hoa. 9
2. Đoạn 1: Bức tranh thiên nhiên miền Tây hoang vu, dữ dội, hiểm trở và chặng đường hành quân vất vả, gian khổ của những người lính Tây Tiến 2.1. Hai câu thơ đầu: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Hai câu thơ chủ đề thể hiện cảm xúc chủ đạo của bài thơ: nỗi nhớ bao trùm không gian, thời gian - Bài thơ được bắt đầu bằng tên địa danh Sông Mã ở Thanh Hóa, con sông chảy dọc từ thượng Lào về đất Việt và nằm trong địa bàn hoạt động của những người lính Tây Tiến. Ngoài câu thơ mở đầu, hình ảnh con sông Mã còn được nhắc một lần nữa trong bài thơ \"Sông Mã gầm lên khúc độc hành\" cho thấy con sông không còn là vật vô tri vô giác mà trở thành một chứng nhân lịch sử, chứng kiến biết bao vui buồn trong cuộc đời người chiến binh và chính dòng sông ấy, khi có một người lính ngã xuống đã gầm lên khúc nhạc ai oán, não nùng. Sông Mã vì thế trở thành một trong những biểu tượng về một thời Tây Tiến. - \"Sông Mã xa rồi\", một thời Tây Tiến đã xa rồi, đã trở thành quá khứ, trở thành những kỉ niệm không thể nào quên. Xa rồi mà vẫn nhớ, nhớ Tây Tiến, “nhớ về rừng núi” Tây Bắc là địa bàn hoạt động của Tây Tiến với bao gian nguy, hiểm họa nhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn, nhớ đồng đội thân yêu nên nỗi nhớ ấy được bật lên thành tiếng gọi tha thiết như gọi người thân “Tây Tiến ơi”. - Nỗi nhớ trở thành cảm xúc chủ đạo thể hiện rõ qua: + Điệp từ \"nhớ\" được lặp lại hai lần trong một câu thơ thể hiện một nỗi nhớ trào dâng, da diết. Tất cả kỷ niệm giờ lại đang trở về trong cảm xúc nhớ thương đến mức tác giả không kìm nén được. + Cụm từ “nhớ chơi vơi”: Thơ ca Việt Nam nói về nỗi nhớ cũng nhiều, và mỗi nhà văn, nhà thơ thể hiện một nỗi nhớ khác nhau. Ca dao có câu thơ về nỗi nhớ người yêu: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than” Tố Hữu viết về nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng miền xuôi với thiên nhiên và con người Việt Bắc: “Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương” Nhưng Quang Dũng trong bài thơ này đã diễn tả nỗi nhớ một cách đầy mới lạ \"nhớ chơi vơi”. Chơi vơi là trạng thái chông chênh giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả nên \"nhớ chơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối và dường như nỗi nhớ đã nhấc bổng nhà thơ lên chơi vơi giữa không gian và thời gian. - Việc láy lại vần \"ơi\" giữa chữ \"ơi\" cuối câu thơ thứ nhất với từ láy \"chơi vơi\" ở cuối câu thơ thứ hai tạo âm hưởng ngân dài, sâu lắng, gợi nỗi nhớ từ lòng người vọng vào thời gian, năm tháng. 2.2. Hai câu 3,4: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Những cuộc hành quân trong đêm sương 10
Hai câu thơ miêu tả vẻ đẹp mờ ảo của núi rừng Tây Tiến mà những người lính Tây Tiến cảm nhận được trên đường hành quân. Với những nét vẽ vừa tài hoa vừa chân thực hai câu thơ làm hiện lên bức tranh thiên nhiên miền Tây heo hút, hùng vĩ, hiểm trở mà thơ mộng. Đó là những đêm sương mờ ảo, bồng bềnh ở Sài Khao, Mường Lát mà không chỉ là màu sương của thiên nhiên che mất tầm mắt mà còn là màu sương mờ ảo của kí ức, hoài niệm. + Ở Sài Khao: Sương giăng mắc, bao phủ, che lấp tất cả là một nét vẽ vừa lãng mạn huyền ảo vừa hiện thực. Đoàn quân Tây Tiến đi trong sương mù dày đặc của núi rừng, hình ảnh họ như chìm đi, ẩn hiện trong lớp sương huyền ảo.Vế sau của câu thơ chỉ sử dụng bút pháp hiện thực khi miêu tả đoàn quân dãi dầu, mệt mỏi hiện ra sau màn sương. Đây là một chi tiết thể hiện rõ sự vất vả, gian khổ của những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân giữa cái khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu miền Tây. + Ở Mường Lát: Nếu như câu thơ trên nhà thơ đặc tả hoàn cảnh khắc nghiệt của thời tiết thì câu này lại phác họa vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên và tâm hồn người lính: \"Đêm hơi\" là cách sử dụng ngôn từ sáng tạo, mới mẻ chỉ một đêm sương bồng bềnh, huyền ảo. Quang Dũng quả thật tài tình trong việc sử dụng từ ngữ khi người ta nói hoa nở thì nhà thơ lại nói “hoa về”. Hoa về có thể chỉ những bông hoa rừng mà những người lính bắt gặp trong đêm hành quân, có thể chỉ những ngọn đuốc như những bông hoa lung linh, lộng lẫy, soi sáng đường hành quân nhưng cũng có thể đó là hình ảnh các cô gái dân tộc hoặc những nữ chiến sĩ quân y xinh đẹp mà người lính bất chợt bắt gặp trong đêm sương bồng bềnh khiến cảm xúc dâng trào. Có thể thấy người lính hành quân trong gian khổ nhưng tâm hồn lúc nào cũng luôn lạc quan, yêu đời làm bạn với hoa rừng, sương núi. => Hai câu thơ như hai nét vẽ tương phản thể hiện hai cực điểm nổi bật của mảnh đất miền Tây khắc nghiệt thật đấy nhưng thơ mộng đẹp đẽ vô cùng. Và có lẽ những người lính Tây Tiến hẳn phải tinh tế, lãng m ạn lắm mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp của núi rừng nơi đây. Những khó khăn của hoàn cảnh sống không làm mất đi ở họ thế giới tâm hồn phong phú. 2.3. Câu thơ 5,6,7,8: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm, Heo hút cồn mây, súng ngửi trời. Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Thiên nhiên Tây Tiến hoang vu, dữ dội với dốc cao vực sâu và chặng đường hành quân vất vả của những người lính Tây Tiến - Bằng những nét vẽ gân guốc, mạnh bạo, bút pháp tả thực nhà thơ Quang Dũng đã vẽ lên bức trạnh thiên nhiên Tây Tiến hoang vu, dữ dội, hiểm trở với dốc cao, vực sâu. Những dốc núi miền Tây chập chùng, cao ngàn thước mà sâu cũng ngàn thước, dốc lên heo hút, dốc xuống thăm thẳm, lên cao thì cao tít tắp mà xuống thì khiến người ta chóng mặt vì một bên là dốc cao thẳng đứng một bên là vực thẳm không giới hạn, dốc núi lại gồ ghề, khúc khuỷu. Điệp từ \"dốc\" cho thấy thiên nhiên không còn là đối tượng để thưởng thức ngắm nhìn nữa mà là đối thủ, là sự thử thách hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. 11
- Các biện pháp nghệ thuật khác như sử dụng các từ láy tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút; sử dụng nhiều thanh trắc “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” câu thơ có 7 chữ mà đã có tới 5 chữ là thanh trắc, có câu thơ gãy làm đôi \"ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống\" và nghệ thuật đối lập đã nhấn mạnh chiều cao, độ sâu, sự gồ ghề, khúc khuỷu của dốc núi. - Bức tranh thiên nhiên đã gợi lên cả chặng đường hành quân đầy vất vả, gian khổ của những người lính Tây Tiến. Trên chặng đường hành quân họ phải trèo đèo, vượt suối băng rừng, phải vượt qua những đỉnh núi cao đến chạm trời, phải hành quân trong sương mù dày đặc, trong những trận mưa rừng. Đặc biệt, phép nhân hóa “súng ngửi trời” làm hiện lên hình ảnh núi cao heo hút, trên chặng đường hành quân những người lính phải vượt qua những đỉnh núi cao đến chạm trời. Đây là còn là cách nói dí dỏm, đầy chất lính cho thấy những người lính trẻ giữa khó khăn, gian khổ vẫn tinh nghịch, hồn nhiên, yêu đời. Ý thơ cũng làm hiện nổi bật tầm cao kì vĩ của người lính cách mạng, làm chủ cả non sông đất nước của mình. Tư thế làm chủ ấy cũng được Tố Hữu thể hiện: Núi không đè nổi vai vươn tới Lá nguỵ trang reo với gió đèo hoặc giống với ý của một câu ca dao trong kháng chiến: “Đèo cao thì mặc đèo cao Ta trèo lên đỉnh ta cao hơn đèo” - Thiên nhiên Tây Bắc bên cạnh cái hoang vu, hùng vĩ, hiểm trở có những nét vẽ đầy thơ mộng trữ tình như câu thơ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được sử dụng toàn thanh bằng, nhịp thơ cũng chậm lại, âm điệu nhẹ nhàng diễn tả phút nghỉ chân hiếm hoi của người lính. Giữa lưng chừng dốc núi trên đường hành quân, những người lính phóng tầm mắt ra xa để thấy những ngôi nhà, bản làng của người dân tộc thấp thoáng, bồng bềnh sau màn mưa. Câu thơ là một nét vẽ mềm mại giữa những nét vẽ gân guốc, giống như việc sử dụng gam màu trong hội họa, giữa gam màu nóng tác giả sử dụng gam màu lạnh, làm dịu lại và tạo sự cân đối, hài hòa cho bài thơ. 2.4. Câu thơ 9,10: Anh bạn dãi dầu không bước nữa, Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Những vất vả, gian khổ, hi sinh của những người lính Tây Tiến Bằng bút pháp tả thực, nhà thơ Quang Dũng đã không ngại ngần khi nói đến những vất vả, gian khổ thậm chí là hi sinh của những người lính Tây Tiến. Từ trước đến nay hai câu thơ vẫn tồn tại hai cách hiểu: + Miêu tả một giấc ngủ: Một khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính. Sau chặng đường hành quân dốc tiếp dốc, vực tiếp vực, sự dãi dầu nắng gió, mệt mỏi khiến cho những người lính chỉ cần gục trên súng mũ, trong một tư thế không thoải mái mà vẫn có thể ngủ một giấc say sưa như chết. + Miêu tả sự hi sinh: Có thể vì dãi dầu nhiều nắng mưa, sương gió, vì căn bệnh sốt rét mà người lính Tây Tiến mệt mỏi đến kiệt sức, không thể bước tiếp, ngã xuống một cách thanh thản, nhẹ nhàng. Anh gục xuống khi đang hành quân, súng mũ vẫn bên mình, vẫn 12
nghiêm trang trong hàng ngũ. Nghệ thuật nói giảm \"không bước nữa\", \"bỏ quên đời\" thể hiện người lính hi sinh chỉ như đang chìm vào giấc ngủ sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình, giống như người nông dân: Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng Lòng khoẻ nhẹ anh dân quê sung sướng Ngửa mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành Tư thế hi sinh của anh vệ quốc quân chống Pháp đang trên đường hành quân trong bài thơ gợi chúng ta liên tưởng đến tư thế hi sinh của anh giải phóng quân chống Mĩ trong bài thơ \"Dáng đứng Việt Nam\" của Lê Anh Xuân: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên Tì súng trên xác trực thăng Và anh chết trong khi đang đứng bắn Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng Những sự hi sinh ấy đều là của những con người bình dị mà anh hùng. Chính họ đã góp phần hóa thân thành Đất nước và làm nên truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm: Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm nên đất nước 2.5. Câu thơ 11,12: Chiều chiều oai linh thác gầm thét, Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Thiên nhiên Tây Tiến hoang vu, dữ dội và đầy bí hiểm - Các từ láy \"Chiều chiều\", \"đêm đêm\" chỉ quãng thời gian lặp đi lặp lại. Những âm thanh “thác gầm thét” và hình ảnh “cọp trêu người” là sự khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng từng được nhà thơ Thế Lữ miêu tả trong \"Nhớ rừng\": Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi Thì ở đây được Quang Dũng miêu tả: + Vào các buổi chiều tiếng nước thác gầm thét. Chỉ một câu thơ ngắn mà gợi ra những âm thanh dữ dội chẳng kém gì tiếng nước thác Sông Đà trong \"Người lái đò Sông Đà\" của Nguyễn Tuân. Âm thanh của thác nước vào buổi chiều khiến rừng núi trở nên dữ dội và đầy bí hiểm, đáng sợ. + Vào ban đêm rừng núi Tây Tiến còn có cọp đe dọa tính mạng con người. Cái tài của Quang Dũng là nhà thơ đã sử dụng một loạt địa danh nhưng địa danh nào cũng đem lại sự thú vị cho người đọc. Không dưới mười địa danh được sử dụng nhưng đó không đơn thuần là sự liệt kê, kể lể mà mỗi địa danh đều khoác trên mình một tấm áo riêng, một điệu 13
hồn riêng. Có những địa danh khi đọc lên đã thấy cái hiểm trở của núi rừng, có những địa danh đầy trữ tình thơ mộng, những cái tên này gợi ý niệm về sự xa ngái và hoang sơ... Ở mỗi địa danh Quang Dũng đều phát hiện và thể hiện đúng thần thái của nó. Dữ dội chỉ có Sài Khao, Mường Hịch… Nồng ấm tình người có Mường Lát, Mai Châu, Pha Luông… Riêng địa danh Mường Hịch trong câu thơ “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” được Vũ Quần Phương nhận xét hai chữ “hịch\" và \"cọp” và hai dấu nặng đặt giữa câu thơ gợi bước chân chúa sơn lâm đang đến gần, gợi sự ghê rợn của cái chết đang rình rập. Rõ ràng Quang Dũng không sử dụng địa danh một cách tùy hứng mà ông biết lựa chọn để tạo nên sức ám ảnh cho thơ. Và mỗi địa danh đã vượt qua tư cách là những tên gọi địa lí, ngấm vào nỗi nhớ nhà thơ, trở thành sợi thương sợi nhớ và chính điều đó đã làm “đất lạ hóa quê hương”. - Chiều nối chiều, đêm tiếp đêm, thác thì \"gầm thét\", cọp thì \"trêu người\" như để thử thách chí can trường các chiến binh Tây Tiến. Nhưng những nguy hiểm, đầy đe dọa ấy chắc chắn vẫn không đủ làm những người lính Tây Tiến nản lòng. 2.6. Câu thơ 13,14: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Vẻ đẹp tâm hồn của những người lính Tây Tiến và tình quân dân thắm thiết Nếu như ở những câu thơ trước ta đã cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của những người lính Tây Tiến với sự lạc quan, yêu đời, dí dỏm, hồn nhiên qua hình ảnh \"súng ngửi trời\", tâm hồn lãng mạn nên cảm nhận và thi vị hóa vẻ đẹp của thiên nhiên qua những câu thơ như \"Mường Lát hoa về trong đêm hơi\"... thì ở hai câu thơ này tâm hồn các chàng trai Tây Tiến lại dễ xúc động trước tình người ấm áp: + Thán từ \"Nhớ ôi\" xuất phát từ tình cảm sâu sắc, mãnh liệt, gợi bao bâng khuâng, vương vấn. Nhớ những kỉ niệm không thể phai mờ về tình quân dân thắm thiết. + Hình ảnh cơm lên khói gợi cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm đừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó và nhận được sự đón tiếp nồng hậu của đồng bào địa phương, họ quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói và cảm nhận được tình người ấm áp nơi xứ lạ. + Mùi hương nếp xôi: Đến Mai Châu vào mùa lúa nếp người lính Tây Tiến cũng cảm nhận tình được tình cảm mến thương và sự thơ mộng của vùng đất này qua hương thơm của nếp rừng. Hương thơm của tình mẹ, tình em ấy sẽ theo suốt dọc cuộc đời của người lính Tây Tiến. Cái đặc sắc nhất của câu thơ là ở hai chữ “mùa em”, đó là cách định danh, không gọi tên một mùa cụ thể như mùa xuân, mùa hạ, mùa đông, hay mùa thu mà gọi bằng ấn tượng là “mùa em”. Mùa là một đơn vị đo thời gian, em” là một chủ thể trữ tình. Sự kết hợp độc đáo này khiến mùa không còn là của thiên nhiên, đất trời mà đã trở thành mùa của niềm thương nỗi nhớ, mùa của trái tim người lính khi hướng về những bóng dáng thân thương, những tấm lòng thơm thảo. Bữa xôi tỏa mùi hương trở thành những kỉ niệm không thể phai mờ cũng được nhà thơ Chế Lan Viên ghi nhớ mãi: “Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương” 14
Tiểu kết và nâng cao: Khổ thơ đầu khắc họa một Tây Bắc dữ dội, hùng vĩ, mộng mơ, huyền ảo. Thiên nhiên ấy làm nền cho sự xuất hiện của những người lính Tây Tiến vừa hào hùng, phong trần lại vừa hồn nhiên, tươi trẻ. Họ không hề nhụt chí, chùn chântrước khó khăn, gian khổ. Như vậy, những vần thơ đầu tiên của bài thơ đã mang màu sắc lãng mạn, bi tráng. Nổi bật là cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi tràn đầy tình cảm cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và tuyệt mĩ. Thiên nhiên miền Tây, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh con người miền Tây càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn còn được thể hiện chủ yếu cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng xả thân, hi sinh tất cả cho lí tưởng chung của cộng đồng, của toàn dân tộc. 3. Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp về một thời Tây Tiến 3.1. Khái quát - Mạch cảm xúc của bài thơ là mạch cảm xúc, tâm trạng của tác giả. Bài thơ được viết ra từ nỗi nhớ da diết của Quang Dũng , nhớ thiên nhiên Tây Tiến, nhớ chặng đường hành quân vất vả, gian khổ, nhớ đồng đội thân yêu, nhớ những người đã cùng vào sinh ra tử. Bài thơ là những kí ức được tái hiện một cách tự nhiên, kí ức này gợi kí ức khác, kỉ niệm này gợi kỉ niệm khác như những con sóng nối tiếp nhau. Nếu đoạn thơ trước bằng những nét vẽ gân guốc, mạnh bạo Quang Dũng đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên Tây Tiến hoang vu, dữ dội hiểm trở, tái hiện chặng đường hành quân vất vả, gian khổ của những người lính Tây Tiến thì ở đoạn thơ gồm 8 câu này bằng những nét vẽ mềm mại, uyển chuyển, bút pháp lãng mạn, tài hoa nhà thơ đã tái hiện những kỉ niệm đẹp trong cuộc đời người chiến binh và vẽ lên bức tranh thiên nhiên Tây Tiến duyên dáng, mĩ lệ và lãng mạn. - Đoạn thơ được chia làm hai phần rõ nét. Bốn câu thơ đầu là một đêm liên hoan trong doanh trại. Bốn câu thơ sau là thiên nhiên Tây Tiến trong buổi chiều sương hành quân qua Châu Mộc. 3.2. Bốn câu thơ: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa, Kìa em xiêm áo tự bao giờ. Khèn lên man điệu nàng e ấp, Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ. Kỉ niệm về một đêm liên hoan trong doanh trại - Chất tài tử, tài hoa và lãng mạn của những chàng lính chiến được thể hiện rõ trong những câu thơ miêu tả đêm liên hoan trong doanh trại. Địa bàn hoạt động của những người lính Tây Tiến rất rộng, hành quân di chuyển thường xuyên nên đó có thể là doanh trại mới được dựng tạm trên chặng đường hành quân chiến đấu. - Chữ \"bừng\" là một nét vẽ có thần. \"Bừng\" là sáng bừng lên, là tưng bừng, nhộn nhịp. Cả doanh trại “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. 15
- Hai chữ “kìa em” và cụm từ \"tự bao giờ\" thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vừa mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng miền Tây bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy, e thẹn, dịu dàng, tình tứ trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ đã thu hút cả hồn vía những chàng trai Tây Tiến. - Đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến còn có đồng bào địa phương đến góp vui. Bởi vậy, đây còn là những câu thơ thắm tình quân dân, quân dân tựa như cá với nước, tựa như con một nhà. Tình cảm quân dân thắm thiết với không khí tưng bừng, nhộn nhịp cũng được nhà thơ Hoàng Trung Thông miêu tả chân thực: “Các anh về mái ấm nhà vui Tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ” - Cảm hứng lãng mạn, bay bổng của đoạn thơ còn được thể hiện rõ hơn qua câu thơ \"Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ\". Đêm liên hoan diễn ra trong doanh trại nằm ở vùng giáp ranh biên giới Việt- Lào nên âm thanh réo rắt của tiếng khèn, tiếng nhạc vang vọng, bay về tận Viên Chăn. Đêm liên hoan \"xây hồn thơ\" trong tâm hồn những người lính trẻ nên tâm hồn họ cũng bay bổng, phiêu diêu theo tiếng khèn, tiếng nhạc. => Nhìn chung, bốn câu thơ về đêm liên hoan trong doanh trại là những câu thơ đầy chất thơ, chất nhạc và thể hiện rõ hồn thơ Quang Dũng tài hoa, hồn hậu và phóng khoáng. 3.3. Bốn câu thơ: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy, Có thấy hồn lau nẻo bến bờ? Có nhớ dáng người trên độc mộc, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa? Kỉ niệm về một buổi chiều sương hành quân qua Châu Mộc - Bốn câu thơ là nỗi nhớ sâu đậm của những người lính Tây Tiến về bức tranh thiên nhiên miền Tây được cảm nhận trên đường hành quân qua Châu Mộc. Trong đó, câu thơ thứ nhất gợi cả không gian và thời gian. Thời gian là vào một buổi chiều, không gian thì bảng lảng sương khói. Buổi chiều ấy có sương giăng mắc, bao phủ khắp các bãi bờ làm bức tranh cảnh vật có phần mờ nhòe, nhạt nhòa. Sự mờ nhòe, nhạt nhòa ấy không chỉ bởi màn sương bao phủ mà còn bởi màn sương của kí ức, hoài niệm. Nhưng cũng vì thế mà cảnh vật trở nên mềm mại và có hồn hơn, hư ảo như trong một bức tranh thủy mặc. - Ba câu thơ còn lại miêu tả cảnh sông nước miền Tây. Cảnh sông nước mênh mông với bến bờ cỏ lau hoang dại đượm màu cổ tích. Hình ảnh hoa lau gợi nét đặc trưng của thiên nhiên rừng núi. Cái hay của đoạn thơ là ở chỗ nó không chỉ vẽ lên được bức tranh cảnh vật mà còn gợi được cả cái hồn của cảnh vật. Lau dại không còn vô tri vô giác mà dường như có linh hồn, gợi được cái hồn của bức tranh cảnh vật hoang dại mà thơ mộng, đáng yêu. Hồn lau trong thơ Quang Dũng là hồn lau của li biệt, có phảng phất chút buồn và đầy nỗi nhớ nhung, lưu luyến, bịn rịn.Trong thơ ca, lau cũng thường mang ý niệm của của nỗi buồn thương xa vắng, mênh mông: “Người đi phơ phất hồn lau gió Thổi trắng chân trời như khói pha” (Hoàng Hữu) 16
=>Bút pháp chấm phá tinh tế: không gian sông nước rộng lớn, cảnh thì thưa thớt, thấp thoáng bóng người, bóng hoa và trong gió trong cây như có linh hồn của vạn vật. - Điệp ngữ “có thấy – có nhớ” luyến láy như khắc chạm vào lòng người một nỗi nhớ da diết, cháy bỏng khôn nguôi. Câu thơ \"Có nhớ dáng người trên độc mộc\" làm bức tranh cảnh vật hoang sơ xuất hiện hình ảnh con người. Dáng người trên độc mộc ở đây có thể là hình ảnh mềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái đang đưa các chiến sĩ vượt sông. Cũng có thể hiểu là dáng hình kiêu dũng của các chiến sĩ Tây Tiến đang chèo chống con thuyền vượt thác dữ trên đường hành quân. Hình ảnh ấy tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khoẻ khoắn cho bức tranh thiên nhiên thơ mộng, mềm mại. - Câu thơ cuối sử dụng nghệ thuật đối lập: “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa''. Đó là sự đối lập giữa cái dữ dội của thiên nhiên là dòng nước lũ với cái mềm mại, dịu dàng của bông hoa rừng. Từ láy “đong đưa” được sử dụng rất gợi. Không phải “đung đưa” mà là “đong đưa” – gợi hình ảnh bông hoa đang đong đưa, dập dềnh làm duyên làm dáng trên dòng nước lũ. Người và hoa như họa thêm vẻ đẹp cho nhau làm nên một bức họa thật lãng mạn mà cũng thật hào hùng. Tiểu kết: Với bút pháp nghệ thuật và cảm hứng lãng mạn, ngôn ngữ giàu chất nhạc, chất họa, cách sử dụng ngôn từ sáng tạo, tài hoa nhà thơ Quang Dũng đã dẫn dắt người đọc bước vào thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, của những giây phút bình yên, thư thái trong tâm hồn. Bốn câu thơ đầu như nhạc điệu được cất lên từ tâm hồn đang ngây ngất, say mê. Trong bốn câu thơ sau chất hội họa được thể hiện đậm nét khi nó không chỉ vẽ lên bức tranh thiên nhiên đẹp, gợi cảm mà còn gợi được cả cái hồn của bức tranh cảnh vật. Chất nhạc và chất họa kết hợp với nhau khiến những kỉ niệm về một thời Tây Tiến trở nên sống động, lãng mạn. Đoạn thơ cho thấy sự gắn bó của nhà thơ với một thời Tây Tiến. cho thấy tâm hồn đầy lãng mạn, hào hoa của người lính Tây Tiến trong một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc. 4. Đoạn 3: Bức tượng đài tập thể về đoàn binh Tây Tiến 4.1. Khái quát - Bài thơ được chia làm bốn đoạn, trong đó đoạn thơ thứ nhất và thứ hai chính là cái nền để làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến ở đoạn thơ này. Cảm hứng chủ đạo trong đoạn thơ là cảm hứng bi tráng. Bi có nghĩa là buồn, cái bi cái buồn trong đoạn thơ được thể hiện khi nói nhiều đến những khó khăn, gian khổ, mất mát, hi sinh. Tuy nhiên ở đây cái bi cái buồn không gợi nên cảm giác đau thương, tang tóc trái lại còn gợi sự hào hùng, hùng tráng. Bởi vậy nên đọc đoạn thơ, mỗi khi người đọc cảm thấy sắp bị rơi vào, chìm xuống trong sự bi thương thì lại được nâng lên bởi đôi cánh của lí tưởng và cảm xúc lãng mạn. Có thể nói cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài về những người lính Tây Tiến, chúng hoà quyện, nâng đỡ nhau tạo nên vẻ đẹp bí tráng. 4.2. Hai câu đầu: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm” Ngoại hình của những người lính Tây Tiến Hai câu thơ trước hết là nét tả ngoại hình của những người lính Tây Tiến với hai nét tả là đầu trọc, da xanh đều là di chứng của căn bệnh sốt rét và hiện thực là cả một đoàn 17
quân đầu trọc, da xanh. Thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp khi viết về người lính cũng thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài Đồng chí đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài \"Cá nước\" cũng không quên ảnh hưởng của thứ bệnh quái ác đó: “Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ” Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu những gian khổ, khó khăn cửa người lính. Chỉ có điều, tất cả qua ngòi bút của ông trở nên vừa hiện thực vừa lãng mạn. Những cái đầu không mọc tóc của những người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh ly kì, giật gân, sản phẩm của trí tưởng tượng xa rời thực tế của nhà thơ mà chứa dựng một sự thực nghiệt ngã. Những người lính Tây Tiến phải hoạt động ở chốn rừng thiêng nước độc, ở đó có những con suối \"Rửa chân rụng lông, gội đầu rụng tóc\", có người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp lá cả với địch, người thì bị sốt rét đến rụng tóc, trọc đầu. Đâu còn vẻ lịch lãm, thư sinh của những chàng trai tiểu tư sản của đất Tràng An ngàn năm văn hiến. Nhưng đó chính là quy luật tất yếu của chiến tranh như Chính Hữu cũng từng miêu tả trong bài thơ “Ngày về”: “Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa” Nhưng điều đáng chú ý là đầu trọc, da xanh dù trông có xấu xí, tiều tụy nhưng những người lính Tây Tiến vẫn không thấy mình xấu, tiều tụy mà trái lại họ thấy mình oai phong, dữ dằn như chúa sơn lâm ở chốn nơi rừng thiêng. Người lính Tây Tiến “dữ oai hùm” là mạnh mẽ làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt, đạp bằng mọi gian khổ để chiến đấu. Mượn hình ảnh con hổ để nói đến khí thế và sức mạnh dân tộc cũng là một cách nói truyền thống trong thơ ca: \"Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu\" (Phạm Ngũ Lão), \"Tỳ hổ ba quân – Giáo gươm sáng chói\" (Trương Hán Siêu). Ngoài ra, cách nói “không mọc tóc” chứ không phải “không mọc được tóc” cũng thể hiện khẩu khí kiêu hùng, ngang tàng, sự chủ động của người lính trước mọi hoàn cảnh. 4.3. Hai câu thơ tiếp theo: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Vẻ đẹp tâm hồn của những người lính Tây Tiến - Quang Dũng đã dùng những hình ảnh rất hiện thực để tô đậm vẻ đẹp phi thường của những người lính. Hai chữ “Mắt trừng” gợi nhiều liên tưởng: “mắt trừng” là mắt mở to, dữ dội, ngùn ngụt ý chí nhìn thẳng về phía kẻ thù với chí khí mạnh mẽ, dám thề sống chết. Đôi mắt mở to, luôn nâng cao tinh thần cảnh giác để bảo vệ đất nước. Đôi mắt ấy “gửi mộng qua biên giới” – mộng giết giặc lập công, mộng hòa bình, độc lập, không chỉ vì độc lập tự do của đất nước mình mà còn vì độc lập tự do của nước bạn Lào. - Tưởng chừng trong gian khổ hy sinh, người lính Tây Tiến không còn thời gian để mà mơ mộng, ấy vậy vẫn mơ mộng, vẫn không hề mất đi sự hào hoa của những chàng trai 18
Hà Nội. Câu thơ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” trước đây bị phê phán là “buồn rớt”, “mộng rớt” tiểu tư sản. Nhưng người lính Tây Tiến vốn xuất thân từ học sinh, sinh viên Hà Nội, họ ra đi từ những mái trường, giảng đường nên tâm hồn đầy mơ mộng. Họ vẫn dành những giờ phút thảnh thơi, thư thái để nhớ về một Hà Nội ngàn năm văn hiến với những cô gái xinh đẹp, yêu kiều. Lãng mạn như vậy giữa một hoàn cảnh khắc nghiệt không phải là buồn rớt, mộng rớt mà chính là biểu hiện của một bản lĩnh phi thường. Chính cảm xúc lãng mạn ấy đã cân bằng tâm hồn họ giữa những nghiệt ngã chiến tranh, đã tiếp thêm sức mạnh để họ thực hiện lí tưởng cao đẹp của mình. Thơ ca kháng chiến chống Pháp cũng đã khắc họa bao nỗi nhớ như thế. Nếu như những người lính nông dân ra đi là nhớ ruộng đồng, nhớ : “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” (Đồng chí). Nhớ về người vợ trẻ: “Ba năm rồi gửi lại mái lều tranh Luống cày đất đỏ Tiếng mõ đêm trường Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân trên cối gạo canh khuya” (Nhớ - Hồng Nguyên) .... Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến binh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê... (Màu tím hoa sim – Hữu loan) Câu thơ \"Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm\" đã thể hiện chất tài tử, hào hoa của người lính Tây Tiến. Thời gian và độc giả hơn nửa thế kỉ qua đã khẳng định cái hay riêng của thơ Quang Dũng vì nó góp phần làm phong phú thêm chân dung anh bộ đội Cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp. 4.4. Hai câu thơ tiếp theo:Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Sự hi sinh và lí tưởng cao đẹp của những người lính Tây Tiến Nhà thơ Quang Dũng đã nhìn thẳng vào sự khốc liệt của chiến tranh, không né tránh hiên thực miêu tả về cái chết. Viết về cái chết của người lính trên dọc đường hành quân và chiến đấu, tác giả đã sử dụng những từ ngữ được sắp xếp theo chiều tăng tiến của sự bi thảm: đã “rải rác”, lại rải rác tận nơi biên cương, tận vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh, rải rác tận nơi viễn xứ, thậm chí tận nơi nước người. Những người lính Tây Tiến nằm lại nơi chiến trường rất nhiều, những nấm mồ sơ sài, vội vã nằm rải rác khắp biên thùy. Những ngôi mộ sơ sài như thế cũng được nhà thơ Hoàng Lộc nhắc tới trong bài \"Viếng bạn\": 19
Ở đây không gỗ ván Vùi anh trong tấm chăn Của đồng bào Cửa Ngăn Tặng tôi ngày phân tán Từng chữ, từng từ đều xoáy sâu vào xót thương của người đọc. Nếu tách riêng câu thơ này ra, người đọc dễ mủi lòng dễ rơi vào trạng thái bi lụy như câu thơ trong “Chinh phụ ngâm\": Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi Đoạn thơ tưởng sắp rơi vào đau thương bi lụy thì ngay sau đó được nâng lên bởi lí tưởng cao đẹp. Những người lính khi ra đi đều biết rằng rất có thể họ cũng sẽ phải nằm lại nơi núi rừng như bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống. Nhưng vì lí tưởng cao đẹp họ sẵn sàng hi sinh cuộc đời và tuổi thanh xuân của mình cho đất nước. Hơn nữa, nói về sự hi sinh của những người lính Tây Tiến nhà thơ Quang Dũng đã sử dụng nhiều từ Hán Việt như biên cương, chiến trường, viễn xứ. Đó là cách nhà thơ trang trọng hóa sự hi sinh của những người lính Tây Tiến, là sự kính cẩn nghiêng mình của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội, biến những nấm mồ nơi rừng sâu hoang lạnh thành những mộ chí thiêng liêng. Câu thơ của người lính viết về những đồng đội đã ngã xuống đượm vẻ ngậm ngùi thành kính. Sau này trong bài thơ \"Sông Lào\", Chế Lan Viên cũng nói về sự hi sinh của những người con ưu tú khắp mọi miền quê thành nghìn nấm mộ với bao xúc động, nghẹn ngào: \"Tôi qua những con sông Lào đâu chỉ uống vào thơ Gặp nghìn nấm mộ Và trăm bản Lào bom Mĩ đốt ra tro! Ngủ lại Xê-băng-hiên chàng trai nhỏ đất sông Hồng Ngủ lại Xê-băng-phai là chàng Phú Thọ Bóng khộp, bóng bằng lăng che mình thay bóng cọ. Chàng trai Nghĩa Bình ngủ ở Xê – kông Nén hương thơm lẫn với hương rừng Những cô gái Lào đến thăm phần mộ Các anh chưa từng cầm tay và múa lăm – vông…\" Đúng là \"Có cái chết hóa thành bất tử\" (Tố Hữu). Nhiều nhà thơ Việt Nam, trong đó có Quang Dũng đã viết nên những bài ca nói lên ý chí chiến đấu quả cảm và sự hi sinh oanh liệt của người chiến sĩ Vệ quốc trong thời đại Hồ Chí Minh. 4.5. Hai câu thơ tiếp theo: Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Sự tiếc thương vô hạn trước sự hi sinh của những người lính Tây Tiến Với câu thơ \"Áo bào thay chiếu anh về đất\", Quang Dũng khắc tả tinh thần của những người lính giống như người phu tráng sĩ thời xưa, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Ngày xưa, người tráng sĩ chọn cái chết hiên ngang nơi trận mạc với da ngựa bọc thây và coi đó là vinh quang tột đỉnh: 20
“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao” Còn chiến sĩ Tây Tiến thì chỉ cần “áo bào thay chiếu anh về đất.” Cách nói “áo bào thay chiếu” là cách nói bi tráng hóa, tráng lệ hóa sự hi sinh của người lính. Áo bào là từ Hán Việt chỉ áo của vua hoặc của khanh tướng nhưng ở đây nó chỉ chiếc áo lính. Những người lính khi ngã xuống không cần có cả manh chiếu bọc thân chỉ cần chiếc áo đơn sơ vẫn mặc hàng ngày, các anh đã có thể thanh thản trở về với đất mẹ. “Anh về đất” là cách nói giảm, nói tránh đi cái chết làm câu thơ bi mà không lụy. - Đối với những người lính cái chết đơn giản chỉ là \"ngủ quên đời\", \"anh về đất\" nhưng có cái chết nào, có sự hi sinh nào lại không gây nên sự bi thương. Con sông Mã, chứng nhân của lịch sử, đã chứng kiến sự hi sinh của những người lính Tây Tiến. Nó gầm lên giống như một con chiến mã trung thành, đau thương khi chứng kiến cái chết của người bạn đồng hành. Dòng sông như cất lên một khúc tráng ca đưa người lính về với đất với bao tiếc thương, ngậm ngùi. Chỉ bằng âm thanh ấy, Quang Dũng đã truyền dược vào câu thơ tất cả cái bi tráng của sự hi sinh và nỗi đau xót trong lòng người chiến sĩ khi phải vĩnh biệt đồng đội. Trong âm hưởng dữ dội, hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết của người lính không bi luỵ mà thấm đẫm chất anh hùng của thời đại. 5. Đoạn 4: Khẳng định chất lí tưởng sâu sắc 5.1. Khái quát Là đoạn thơ cuối cùng cũng là lời kết luận cho cả bài thơ. Đoạn thơ chỉ gồm bốn câu thơ đã khẳng định chất lí tưởng sâu sắc của những người lính Tây Tiến. Nhịp thơ chậm giọng thơ buồn nhưng linh hồn của đoạn thơ vẫn là sự hào hùng: 5.2. Hai câu thơ: Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Lời hẹn ước Cách mạng tháng tám thành công, lịch sử dân tộc bước sang một giai đoạn mới là kỉ nguyên độc lập, tự do cho đất nước. Nhưng bọn thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Năm 1946 Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Hưởng ứng lời kêu gọi ấy, tiếng kèn sông núi vang dậy khắp non sông, cả nước quyết tâm chống thực dân Pháp với tinh thần \"quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh\". Ra đi không hẹn ngày về trở thành tinh thần chung của cả thời đại được thể hiện rõ qua lời một ca khúc của Phan Huỳnh Điểu \"Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi /Là có mong chi đâu ngày trở về/ ra đi, ra đi báo cừu sông núi/ Ra đi, ra đi thà chết không lui\". Nợ nước, nợ non sông thôi thúc các chàng trai lên đường: Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm 21
Cổ nhân từng nói \"Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!\". Từ xưa đến nay mấy người đi chiến trận mà hẹn được ngày trở về. Khi xưa, tráng sĩ Kinh Kha chia tay thái tử Yên Đan bên bờ sông Dịch Thủy để sang đất Tần cũng xác định tinh thần \"nhất khứ bất phục hoàn\": “Gió hiu hiu hề Nước sông Dịch lạnh ghê Tráng sĩ một đi không hẹn về” Do hoàn cảnh lịch sử quá ngặt nghèo, cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn đầu chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, đòi hỏi phải lấy tính mạng để đổi độc lập tự do. Nên những người lính Tây Tiến cũng một tinh thần ấy, ra đi là cũng không hẹn ngày trở về, ra đi là xác định chia phôi. Ý thơ đã lột tả lí tưởng chiến đấu cao cả của anh bộ đội cụ Hồ, làm nổi bật phẩm chất yêu nước, anh hùng của họ. 5.2. Hai câu thơ: Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi Sự gắn bó máu thịt của người lính với một thời Tây Tiến - Bài thơ khép lại bằng hai câu thơ, một lần nữa tô đậm thêm tinh thần thời đại, tinh thần chung của người lính Tây Tiến. Đại từ \"ai\" phiếm chỉ nhưng rõ ràng là chỉ những người lính Tây Tiến. Mùa xuân ấy là mùa xuân năm 1947, khi những người lính lên đường lên Tây Tiến nhưng cũng có thể mùa xuân ở đây là chỉ tuổi thanh xuân. Những người lính Tây Tiến ra đi vào mùa xuân năm ấy khi tuổi đời còn rất trẻ, đang tràn đầy sức sống, khát vọng và lí tưởng cao đẹp. Họ ra đi chiến đấu là vì một mùa xuân cho đất nước. - Câu thơ cuối thể hiện rõ sự gắn bó của những người lính với một thời Tây Tiến. trong đó, Sầm Nứa là tên địa danh của nước bạn Lào, nằm trong địa bàn hoạt động của đoàn binh Tây Tiến. Có lẽ, nhà thơ đang thể hiện một tâm nguyện âm thầm mà thuỷ chung, son sắt của tất cả những “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy” bởi trong lòng họ, thời gian gắn bó với trung đoàn, với miền Tây từ “ mùa xuân ấy” là khoảng thời gian quý giá nhất trong cuộc đời, khoảng thời gian vời vợi nhớ thương. Dù có thể chia xa nhưng tâm hồn những người lính sẽ mãi đi về với miền Tây, với những Sầm Nứa, Pha Luông, Mường Hịch,..những vùng đất xa xôi đong đầy kỉ niệm với đồng đội, với trung đoàn Tây Tiến trong những năm tháng gian khổ hào hùng vì như chế Lan Viên đã đúc kết: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn Cũng có thể hiểu nhà thơ đang xót xa, ngậm ngùi khi nhắc đến những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại những nấm mồ cô đơn nơi miền viễn xứ. Họ đã lên Tây Tiến mùa xuân ấy, đã chiến đấu kiên cường, đã hi sinh dũng cảm, linh hồn và thân xác họ đã vĩnh viễn ở lại với miền Tây, vẫn theo đồng đội trên chặng đường hành quân, chiến đấu. 6. Đánh giá chung 6.1. Nghệ thuật Tây Tiến là một thi phẩm xuất sắc, kết tinh tâm hổn tài hoa và tài năng sáng tạo của cây bút Quang Dũng trên nhiều phương diện nghệ thuật: hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu. Hình ảnh trong bài thơ khá đa dạng và dược sáng tạo bằng nhiều bút pháp khác nhau, tạo nên sắc thái thẩm mĩ phong phú. Mỗi loại hình ảnh cũng lại có hai dạng chính, tạo nên hai 22
sẳc thái thẩm mĩ phối hợp, bổ sung cho nhau. Thiên nhiên thì có cái dữ dội, khắc nghiệt, hoang sơ, hùng vĩ. Hình ảnh con người cũng hiện ra với nhiều sắc thái, mà chủ yếu là hào hùng và hào hoa. Tác giả đã sử dụng nhiều bút pháp trong miêu tả, dựng hình ảnh. Có khi tả cận cảnh, dừng lại ở những chi tiết khá cụ thể, có khi lại lùi xa để bao quát khung cảnh rộng, mở ra bức tranh phóng khoáng và hùng vĩ của miền Tây. Nếu hình dung theo cách của hội hoạ thì có thể thấy hai bút pháp chính: có những nét bút mạnh, bạo, khoẻ, lại có những nét vờn mềm mại tạo nên vẻ đẹp ẩn hiện mờ nhoà. Bài thơ vừa có thứ ngôn ngữ trang trọng, có màu sắc cổ kính (chủ yếu là ở đoạn 3 miêu tả trực tiếp hình ảnh người lính Tây Tiến và sự hi sinh bi tráng của họ) lại có lớp từ ngữ thông tục, sinh động của tiếng nói hằng ngày, in đậm trong phong cách người lính như nhớ chơi vơi, súng ngửi trời, anh hạn, bỏ quên đời, cọp trêu người ... Một nét sáng tạo trong ngôn ngữ của bài thơ là có những kết hợp từ độc đáo, mới lạ, tạo nghĩa mới hoặc sắc thái mới cho từ ngữ (ví dụ: nhớ chơi vơi, đêm hơi, súng ngửi trời, mưa xa khơi, Mai Châu mùa em, hoa đong đưa, dáng kiều thơm, về đất, ...). Sử dụng địa danh cũng là một nét đáng chú ý trong ngôn ngữ của bài thơ. Các địa danh vừa tạo ấn tượng vế tính cụ thể, xác thực của bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người, lại vừa gợi được sự hấp dẫn của xứ lạ phương xa. 6.2. Nội dung Tây Tiến mùa xuân ấy đã thành một đi không trở lại, lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại thơ mộng lãng mạn, hào hùng đến nhường ấy. Nhưng \"Tây Tiến\" của Quang Dũng đã góp phần tái hiện lại một giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc. Trải qua bao nhiêu thăng trầm và thời gian, bài thơ vẫn có vị trí trong lòng bạn đọc và càng ngày càng sáng giá. Mở rộng thêm: ... Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc? (Trường ca Những người đi tới biển – Thanh Thảo) LUYỆN ĐỀ 23
Đề số 1: Hình tượng người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng I. MỞ BÀI - Giới thiệu khái quát về nhà thơ Quang Dũng, bài thơ Tây Tiến. - Dẫn dắt để giới thiệu nội dung cần phân tích: hình tượng người lính Tây Tiến. II. THÂN BÀI 1. Khái quát: - Khái niệm hình tượng nghệ thuật - Hình tượng người lính là hình tượng nổi bật của thơ ca kháng chiến chống Pháp. - Hoàn cảnh ra đời: 2. Điều kiện xuất thân: - Là những chàng trai của đất Tràng An ngàn năm văn hiến. Lính trong binh đoàn Tây Tiến đa phần là thanh niên Hà Nội ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có những trí thức tiểu tư sản như Quang Dũng. - So sánh với “Đồng chí” của Chính Hữu để thấy người lính trong bài thơ này xuất thân khác là từ tầng lớp nông dân: (Quê hương anh nước mặn đồng chua…) 3. Họ ra đi theo tinh thần thời đại với lí tưởng cao đẹp Cách mạng tháng tám thành công, lịch sử dân tộc bước sang một giai đoạn mới là kỉ nguyên độc lập, tự do cho đất nước. Nhưng bọn thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Năm 1946 Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Hưởng ứng lời kêu gọi ấy, tiếng kèn sông núi vang dậy khắp non sông, cả nước quyết tâm chống thực dân Pháp với tinh thần \"quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh\". Ra đi không hẹn ngày về trở thành tinh thần chung của cả thời đại được thể hiện rõ qua lời một ca khúc của Phan Huỳnh Điểu \"Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi /Là có mong chi đâu ngày trở về/ ra đi, ra đi báo cừu sông núi/ Ra đi, ra đi thà chết không lui\". Nợ nước, nợ non sông thôi thúc các chàng trai lên đường: Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm 3. Điều kiện chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ, hi sinh - Trên chặng đường hành quân, họ đối mặt với biết bao khó khăn, nguy hiểm của thiên nhiên Tây Bắc: + Các địa danh “Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông”: gợi nhớ về những cuộc hành quân trong đêm, những cuộc hành quân kéo dài, để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi và heo hút. + Địa hình hiểm trở, quanh co: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”. Những con dốc cứ dựng đứng giữa trời đầy nguy hiểm nhưng người lính vẫn phải cố gắng vượt qua. “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”: Mũi súng trên vai của của người chiến binh được nhân 24
hóa tạo thành hình ảnh “súng ngửi trời” vừa diễn tả được độ cao nhất, hoang sơ, lạ lẫm vừa hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn người lính. + Hình ảnh đoàn binh hành quân trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” thật dữ dội mà nên thơ. + Thiên nhiên hoang vu, bí hiểm đầy đe dọa “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”: Tiếng thác nước dữ dội hòa với tiếng hú man dại, ghê gớm của thú rừng mang âm hưởng của đại ngàn. => Họ phải trèo đèo, lội suối băng rừng, hành quân đêm, trong sương mù và trong những trận mưa rừng - Họ sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, thậm chí đầy hi sinh mất mát + “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”: hóa chất bom đạn của kẻ thù đã làm cho mái tóc người lính không còn đẹp nữa, nhưng cũng có thể là người lính chủ động cắt tóc để thuận tiện cho sinh hoạt. + “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”: màu xanh của lớp áo ngụy trang lẫn với màu xanh của lá cây, nhưng đó cũng được hiểu là khuôn mặt xanh xao của người lính khi bị sốt rét rừng. + “Anh bạn dãi dầu… quên đời”: họ mệt mỏi, dãi dầu và có khi nằm lại nơi núi rừng Tây Tiến. Mộ của họ rải rác khắp cả một vùng biên cương rộng lớn 4. Những người lính Tây Tiến vẫn lạc quan, yêu đời và sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc=> Vẻ đẹp dũng cảm, can trường, hào hùng, bi tráng - Họ coi thường khó khăn gian khổ và vẫn rất dí dỏm, yêu đời, hài hước đầy chất lính: “súng ngửi trời”, “anh bạn”, “bỏ quên đời”…vẫn thấy mình oai hùng, dữ dằn như chúa sơn lâm nơi rừng thiêng. - Họ sẵn sàng hi sinh cuộc đời, tuổi thanh xuân cho đất nước “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng “Áo bào thay chiếu anh về đất”, coi cái chết chỉ là về đất, bỏ quên đời - Sự hi sinh bi tráng: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” 5. Tâm hồn những người lính Tây Tiến => Vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa - Mãi nhớ nhớ về một thời Tây Tiến: Mở đầu bài thơ, Quang Dũng nhắc đến con sông này cho thấy nỗi nhớ của tác giả dường như đã trải dài khắp con sông Mã. Kết hợp với cụm từ “Tây Tiến” là chỉ một đoàn quân cùng với từ “ơi” lại vang lên thật trìu mến. “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”: cảm xúc chủ đạo của bài thơ, diễn tả nỗi nhớ đến trống vắng, hụt hẫng => Kỉ niệm khó quên. - Dễ xúc động trước vẻ đẹp của thiên nhiên: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”… - Dễ xúc động trước tình người ấm áp nơi xứ lạ: “Nhớ ôi… nếp xôi” - Tâm hồn bay bổng, phiêu diêu trong đêm trại đuốc hoa: “Doanh trại…hồn thơ” - Cảm nhận được vẻ đẹp và cái hồn của thiên nhiên Tây Bắc: Người đi Châu Mộc… đong đưa”. - Mơ mộng và nhớ về quê hương Hà Nội với những cô gái xinh đẹp yêu kiều “Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm”. 25
III. KẾT LUẬN Khái quát lại hình ảnh người lính Tây Tiến. Cảm nhận về hình ảnh người lính Tây Tiến. Đề số 2: Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng I. MỞ BÀI - Giới thiệu về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến. - Giới thiệu về cảm hứng lãng mạn như một nét cảm hứng chủ đạo của bài thơ. II. THÂN BÀI 1. Giải thích - Cảm hứng: là trạng thái tình cảm, cảm xúc cao độ, tràn đầy đòi hỏi phải được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật, thể hiện bản chất trữ tình của thơ. - Cảm hứng lãng mạn trong văn học: được hiểu là xu thế vươn lên, vượt lên trên thực tại khách quan bằng cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ, thể hiện những khát vọng mạnh mẽ hướng về những vẻ đẹp khác lạ trong thế giới của mơ ước, tưởng tượng, ở tương lai hay quá khứ. Cảm hứng lãng mạn vì thế thường thể hiện, đề cao một cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc, khai thác những đề tài như thiên nhiên, tình yêu, tôn giáo, hồi tưởng, kỉ niệm,... đồng thời đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hằng ngày. Nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của tưởng tượng, liên tưởng, cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, thủ pháp tương phản, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Cảm hứng lãng mạn đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác văn học Việt Nam 1945 – 1975: Thể hiện rõ ở phương diện ngợi ca và niềm tin vào ngày mai tươi đẹp, tất thắng. Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ con người vượt lên mọi thử thách trong máu lửa của chiến tranh gian khổ để hướng đến ngày chiến thắng. - Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng được thể hiện trên hai phương diện: + Nội dung cảm hứng (nỗi nhớ về một thời chiến chinh gian khổ, nhiều mất mát hy sinh nhưng cũng thật hào hùng; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính Tây Tiến). + Nghệ thuật thể hiện (bút pháp tương phản trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống và chất thơ từ chính cuộc sống đó, tính chất bi tráng của hình tượng người lính, giọng điệu trữ tình và bi tráng của tác phẩm,...). 2. Phân tích, chứng minh 2.1. Nỗi nhớ về một thời Tây Tiến: - Phân tích hai câu thơ đầu: lãng mạn khi tô đậm tình cảm, cảm xúc 2.2. Vẻ đẹp lãng mạn của thiên nhiên Tây Tiến - Thiên nhiên Tây Tiến hoang vu, dữ dội, hiểm trở với địa hình gập ghềnh, hiểm trở với núi cao, vực thẳm, sông sâu…với sương mù, mưa rừng và gắn với những tên địa danh nghe đã thấy thâm sơn cùng cốc, xa xôi, heo hút. 26
- Thiên nhiên hoang sơ, bí ẩn nhưng cũng toát lên vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng, trữ tình với tất cả vẻ quyến rũ, làm say lòng người. 2.2. Vẻ đẹp phi thường của người lính Tây Tiến: Dũng cảm can trường mà lãng mạn, hào hoa. - Lý tưởng cao đẹp: chiến đấu vì độc lập tự do của đất nước, ra đi theo tinh thần thời đại. - Những khó khăn, thử thách không ngăn được bước chân người lính vốn là những chàng trai Hà Thành hào hoa, tinh tế; những nét bi thương \"không mọc tóc,\", \"mồ viễn xứ\",... là những âm trầm trong bản hùng ca về những con người \"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh\". 3. Bình luận: - Cảm hứng lãng mạn là một phương diện quan trọng tạo nên vẻ đẹp của bài thơ Tây Tiến, giúp tác giả khắc hoạ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến cùng vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây, tạo nên một tác phẩm độc đáo trong thơ ca thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. - Cảm hứng lãng mạn đã thể hiện phong cách của tác giả: nét hồn nhiên, tinh tế, vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng. - Đôi cánh lí tưởng, men say của cảm hứng lãng mạn đã đem đến cho bài thơ âm hưởng khỏe khoắn, tràn đầy niềm tin. Trên cái bi cái hùng vẫn là cảm xúc chủ đạo. Giữa hiện thực đầy gian lao, chất lãng mạn đã tiếp sức cho những người lính khiến họ vững vàng đi lên phía trước, góp phần vào chiến thắng của dân tộc. - Đánh giá về nghệ thuật biểu hiện: Tk đặc sắc nghệ thuật trong bài phân tích III. KẾT LUẬN Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về vẻ đẹp của cảm hứng lãng mạn trong bài thơ (có thể so sánh với một số bài thơ ra đời trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp). Đề số 3: Cảm hứng bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng I. MỞ BÀI - Giới thiệu về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến. - Giới thiệu về cảm hứng bi tráng như một nét cảm hứng chủ đạo của bài thơ. II. THÂN BÀI 1. Giải thích - Cảm hứng: là trạng thái tình cảm, cảm xúc cao độ, tràn đầy đòi hỏi phải được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật, thể hiện bản chất trữ tình của thơ. - Cảm hứng bi tráng trong văn học: + Bi: buồn, đau thương, mất mát, gian khổ, hi sinh. Tráng: là hào hùng, hùng tráng, trang trọng + Cái bi tráng trong tác phẩm văn học được thể hiện ở việc không né tránh hiện thực, miêu tả cái bi, tức cái gian khổ, đau thương của hiện tại. Cái bi nhưng không phải là 27
bi lụy mà là bi tráng, hào hùng. Là vất vả, gian khổ, hi sinh nhưng không hề bi lụy mà là cái chết hào hùng lẫm liệt, cái chết đi vào cõi bất tử. Cái bi thường được biểu hiện ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng. - Cảm hứng bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng được thể hiện trên các phương diện: + Cảm hứng bi tráng được thể hiện rõ nét qua hình tượng người lính. Tinh thần bi tráng được thể hiện ở chỗ lời thơ không hề né tránh cái bi thương, đề cập đến vất vả, gian khổ cái chết, sự hi sinh. + Mỗi khi người đọc tưởng như sắp bị rơi vào, chìm xuống bởi sự bi thương thì lại được nâng lên bởi đôi cánh của của lí tưởng cao đẹp, tinh thần lạc quan bay bổng, lãng mạn. Những người lính coi thường khó khăn, gian khổ, hi sinh. Sự hi sinh của họ không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, nhẹ tự lông hồng. Cái chết như đi vào cõi bất tử. 2. Phân tích, chứng minh Trên nền thiên nhiên Tây Bắc dữ dội và huyền ảo của núi rừng nhà thơ đã tô đậm hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hào hùng và hào hoa bằng bút pháp lãng mạn, nhưng không hề thoát li hiện thực và cảm hứng bi tráng. Bài thơ viết về chiến tranh, nhưng Quang Dũng không hề nói đến trận đánh, tiếng súng. Nhưng người đọc vẫn hình dung được sự khốc liệt của chiến tranh và thế giới tinh thần cao đẹp của người lính Tây Tiến 2.1. Giới thiệu về những người lính Tây Tiến: - Xuất thân: - Lí tưởng cao đẹp: 2.2. Chặng đường hành quân, chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh và sự coi thường khó khăn gian khổ, vẫn lạc quan yêu đời và mơ mộng (Phân tích đoạn 1) 2.3. Sự hi sinh đầy bi tráng Bởi bài thơ viết nhiều về sự hi sinh của người lính. Với ngòi bút tài hoa lãng mạn và cảm hứng bi tráng, Quang Dũng đã miêu tả điều đó một cách thấm thía, xúc động, hào hùng. Cái chết, sự hi sinh bao giờ cũng gợi cảm xúc đau thương. + Hình ảnh gợi lại những hiện thực đau thương như hình ảnh những nấm mồ “rải rác biên cương mồ viễn xứ” càng nhân lên cảm xúc bi thương đó, nhưng cách Quang Dũng dùng từ Hán Việt trang trọng đã khiến cái bi thương lạnh lẽo mờ đi. Hơn nữa câu thơ tiếp theo: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” => Đã khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ một thời không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết, sẵn sàng dâng hiến cả sự sống, cả tuổi trẻ cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, yêu lí tưởng, dâng hiến cả đời xanh, đời trai trẻ đầy hi vọng của mình cho tổ quốc. Đây không phải chỉ là cách nói của thơ ca mà thực sự đây là dũng khí tinh thần và hành động của nhiều thế hệ trong những năm kháng chiến. Với lí tưởng đánh giặc thanh thản đến lạ lùng như thế thì cái chết có nghĩa lí gì với họ. 28
+ Sự hi sinh của các anh là “về đất”, về lòng đất mẹ thân yêu. Một sự hi sinh thầm lặng, thanh thản như một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ. Giây phút vĩnh biệt đồng đội vang lên không phải bằng lời ngợi ca hay những giọt nước mắt, mà trong tiếng gầm của dòng Sông Mã như một “khúc độc hành” bi tráng. Dòng sông được nhân hóa như có linh hồn, có tâm trạng, cất lên tiếng khóc xót xa, thương tiếc, uất hận căm thù trong âm hưởng dữ dội, hào hùng của Sông Mã. + Sự hi sinh của những người lính Tây Tiến thấm đẫm tinh thần bi tráng và đậm đà chất sử thi. Và từ đây các anh đã hòa quyện vào cỏ cây, sông núi, trở thành hồn thiêng của đất nước. Bài thơ 3 lần nói đến cái chết, cái chết nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất là cái chết trang trọng này: “Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Sang trọng vì được bao bọc trong tấm chiến bào, được về tụ nghĩa với đất mẹ quê hương và nhất là được thiên nhiên tấu lên khúc nhạc dữ dội và oai hùng để tiễn đưa hương hồn các chiến sĩ. Ở đây thủ pháp nhân hóa và cường điệu đã đẩy chất bi tráng lên đến đỉnh cao, kì diệu của nó. Chất bi tráng làm nên sắc diện bài thơ có mặt trong cả tác phẩm, nhưng nổi rõ và in dấu đậm nét nhất chính là đoạn Quang Dũng miêu tả chân dung người lính Tây Tiến. 3. Bình luận - Cảm hứng bi tráng đã làm nên vẻ đẹp riêng và giá trị bền vững của bài thơ Tây Tiến. Chiến trường Tây Tiến ác liệt hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong… Nhiều chiến sĩ ngã xuống trên con đường hành quân là cái bi, là hiện thực khốc liệt của chiến trường, Quang Dũng đã không né tránh cái bi nhưng cái bi mang màu sắc, âm hưởng tráng lệ, hào hùng. Một thời đại mà câu“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trở thành một niền tin tuyệt đối. Tinh thần của cái tráng lại gặp luồng gió yêu nước của thời đại anh hùng rực lửa nên càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là bài thơ đã lột tả được cái khí phách của một thời đại và chắp cánh cho cái bi tráng bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời đại thơ. - Tiếng thơ đầy bi tráng cùng với hồn thơ cực lãng mạn hào hoa của Quang Dũng đã kịp ghi lại và giữ cho đời một khung cảnh chiến trường đã đi vào lịch sử – một tượng đài bất tử bằng thơ về người lính vô danh ưu tú của dân tộc mà người đọc muôn đời yêu quý, tự hào. - Đánh giá chung về nghệ thuật: Tk bài phân tích III. KẾT LUẬN Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về vẻ đẹp của cảm hứng bi tráng trong bài thơ. => Như vậy, cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó với nhau, nâng đỡ nhau, cộng hưởng với nhau làm nên linh hồn bất diệt của bài thơ và tạo nên vẻ đẹp độc đáo của chân dung người lính Tây Tiến và vẻ đẹp đặc sắc của thi phẩm. Có những bài thơ đã sống cuộc đời thăng trầm và cũng quá nhiều truân chuyên, nhưng cuối cùng cũng định hình trong lòng độc giả và khẳng định giá trị đích thực của mình trong thi ca. Tây Tiến của Quang Dũng là một tác phẩm như thế. Bài thơ nhớ lại như một kỉ niệm đẹp của thời kháng 29
chiến, bởi đó là tiếng thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của một thời đại anh hùng rực lửa, không thể nào quên. ĐẤT NƯỚC -Trích trường ca \"Mặt đường khát vọng\" của Nguyễn Khoa Điềm- I. MỞ BÀI Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén và hấp dẫn bạn đọc bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam, đặc biệt khi hướng về nhân dân, đất nước anh hùng. Đoạn trích \"Đất nước\" nằm ở phần đầu chương V của bản trường ca \"Mặt đường khát vọng\" của Nguyễn Khoa Điềm được xem là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Âm điệu chính của đoạn trích là những lời ngợi ca, những suy ngẫm sâu sắc và từ đó thể hiện một cái nhìn mới mẻ về đất nước, thời đại. II. PHÂN TÍCH 1. Giới thiệu về bài thơ 1.1. Hoàn cảnh và mục đích sáng tác - Hoàn cảnh sáng tác: Trường ca “ Mặt đường khát vọng” viết năm 1971 tại chiến khu Trị- Thiên, giữa không khí sục sôi chống Mĩ của cả dân tộc và được in lần đầu năm 1974. - Mục đích sáng tác: Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, giúp họ thấy được vai trò, sứ mệnh của thế hệ mình, từ đó xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc kháng chiến chống Mỹ của toàn dân tộc. 1.2. Nội dung đoạn trích “Đất nước\" - Đoạn trích là những cảm nhận mới mẻ của nhà thơ về đất nước trên nhiều bình diện (chiều dài của lịch sử,chiều rộng của địa lý, chiều sâu của văn hoá, phong tục…). Qua đó, nhà thơ khẳng định tư tưởng lớn \"Đất nước của Nhân dân\" và Nhân dân chính là người đã làm ra Đất Nước. 1.3. Bố cục Đoạn trích gồm hai phần: - 42 câu đầu: Cảm nhận về đất nước trong tính toàn vẹn ở các phương diện nhiều mặt : địa lý, lịch sử, văn hoá, tâm hồn và lối sống.Từ đó nhà thơ khơi gợi ý thức trách nhiệm của mỗi người với đất nước. - 46 dòng cuối: Tư tưởng Đất Nước của nhân dân. 2. Phân tích chín câu thơ đầu: 2.1. Khái quát Đất Nước là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca và nghệ thuật. Mỗi nhà thơ đều có những cảm nhận rất riêng về đất nước nên hình ảnh đất nước, Tổ quốc hiện lên văn học 30
thật muôn màu muôn vẻ. Các nhà thơ cùng thời với Nguyễn Khoa Điềm thường thể hiện vẻ đẹp đất nước bằng những hình ảnh hoành tráng, kỳ vĩ, mỹ lệ hay gắn đất nước với một thời điểm lịch sử cụ thể. Điển hình như Nguyễn Đình Thi đã viết về đất nước bằng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ: Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều (Việt Nam quê hương ta - Nguyễn Đình Thi) Hoàng Cầm gắn hình ảnh đất nước với cuộc kháng chiến chống Pháp: Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì (Bên kia Sông Đuống - Hoàng Cầm) Nguyễn Khoa Điềm khi viết về đất nước đã thể hiện những cảm nhận rất mới mẻ, sâu sắc. Nhà thơ đã chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc; giọng điệu thủ thỉ tâm tình như lối trò chuyện thân mật; hình ảnh và ngôn từ giản dị mang đậm màu sắc dân gian và viết về đất nước trong một không gian và thời gian rộng. Từ chỗ cảm nhận đất nước ở ba chiều là chiều dài về lịch sử, chiều rộng về địa lí và chiều sâu về văn hóa phong tục nhà thơ đi đến khẳng định tư tưởng có tính then chốt: Tư tưởng \"Đất Nước của Nhân dân\". - Đoạn thơ gồm 9 câu thơ đầu này là những cảm nhận ban đầu của nhà thơ về Đất nước và để trả lời cho các câu hỏi: Đất nước có tự bao giờ? Đất nước tồn tại ở đâu? và quá trình lớn lên của đất nước như thế nào? 2.2. Hai câu thơ đầu: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi. Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể. Cội nguồn thiêng liêng của Đất nước (Đất nước có tự bao giờ) Trong hai câu thơ đầu của đoạn thơ, tác giả đi tìm sự lý giải về sự sinh thành của đất nước để trả lời cho câu hỏi \"Đất nước có từ bao giờ?\". Với cách mở đầu rất tự nhiên, nhà thơ khẳng định đất nước đã có từ trước khi ta sinh ra, khi ta lớn lên và biết nhận thức về thế giới quanh mình thì đất nước “đã có rồi”. Không thể trả lời chính xác rằng đất nước có tự bao giờ, Nguyễn Khoa Điềm đã mượn cách mở đầu của truyện cổ tích \"ngày xửa, ngày xưa\" để nói về cội nguồn của đất nước. Vận dụng ngôn từ một cách độc đáo, sáng tạo, nhà thơ không chỉ cho thấy đất nước chắc chắn đã có từ cái thuở xa lắc xa lơ nào đó, từ rất lâu đời mà còn gợi ra một không gian cổ tích, thần thoại, khiến cội nguồn đất nước trở nên thiêng liêng, kì diệu. Đất nước mình là đất nước của một nền văn học dân gian đặc sắc với biết bao câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết. Chính những câu chuyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành chăm bẵm tâm hồn cho ta để lớn lên ta biết yêu đất nước con người. Về ý nghĩa của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên: Tôi yêu truyện cổ nước tôi 31
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa Thương người rồi mới thương ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần (Truyện cổ nước mình) Năm chữ “Đất Nước đã có rồi” và bốn chữ \"ngày xửa, ngày xưa\" vang lên đầy tự hào góp phần khẳng định sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử: Từ thuở mang gươm đi mở cõi Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long (Huỳnh Văn Nghệ) 2.3. Bảy câu thơ: Đất nước bắt đầu với miếng trầu bà ăn ... Đất nước có từ ngày đó Đất nước rất gần gũi thân thiết với mỗi con người (Đất nước tồn tại ở đâu?) Khi nói về đất nước người ta cũng thường đặt ra các câu hỏi như \"Đất nước là gì?\" và \"Đất nước tồn tại ở đâu?\" và rồi thường tự cho rằng đất nước là cái gì đó cao siêu, trừu tượng khó định nghĩa và khó nắm bắt. Nhưng ở đoạn thơ này Nguyễn Khoa Điềm đã cho chúng ta thấy đất nước thiêng liêng, kì diệu nhưng không ở đâu xa, trái lại gần gũi, thân thiết đến bất ngờ. - Đất nước là những người thân yêu nhất: Đất nước không ở đâu xa mà là những người thân yêu nhất như bà, cha và mẹ. Là hình ảnh người bà với \"miếng trầu bà ăn\", là hình ảnh người mẹ với \"câu chuyện mẹ kể\" và \"tóc mẹ thì bới sau đầu\", là cả cha và mẹ trong câu thơ \"Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn\". Không phải ngẫu nhiên khi viết về đất nước nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại ba lần nhắc đến hình ảnh người mẹ và nhiều nhà thơ khác cũng thường so sánh hình ảnh đất nước, tổ quốc với hình ảnh người mẹ. Hình ảnh tổ quốc trở thành mĩ từ thật đẹp trong thơ Chế Lan Viên khiến tác giả cho rằng mình đã đi nhưng cần vượt nữa để được gặp lại bà mẹ tổ quốc: \"Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương\". Nhà thơ Tố Hữu lại liên tưởng đất nước giống như hình ảnh bà mẹ gánh gồng, tảo tần: Việt Nam, Ôi tổ quốc thương yêu! Trong khổ đau, người đẹp hơn nhiều, Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng, Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng\". (Chào xuân 67 - Tố Hữu) - Đất nước là những gì bình thường, bình dị nhất xung quanh cuộc sống của mỗi con người: Đất nước không cao siêu trừu tượng mà có thể đơn giản là câu chuyện mẹ kể, miếng trầu bà ăn, có trong những phong tục tập quán, trong cái kèo cái cột, thậm chí có trong những thứ nhỏ bé như hạt gạo... + Đất nước gắn với những phong tục, tập quán từ bao đời của người Việt Nam như tục ăn trầu, tục bới tóc sau đầu: ++) Tục ăn trầu: Hình ảnh miếng trầu từ xưa đến nay rất quen thuộc với bao nhiêu thế hệ người Việt Nam. Người Việt Nam có câu \"Miếng trầu là đầu câu chuyện\". Miếng trầu không chỉ xuất hiện trong các dịp ăn hỏi, cưới xin, hội hè, ma chay... mà còn được 32
dùng mời khách đến nhà để tỏ lòng hiếu khách. Hình ảnh “miếng trầu” cũng là một hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ từng xuất hiện trong các câu chuyện cổ tích, trong ca dao, thơ ca... Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi (Mời trầu - Hồ Xuân Hương) Miếng trầu trở thành hiện thân của tình yêu thương, lòng thủy chung, son sắc trong tâm hồn dân tộc. Đất Nước có trong “miếng trầu bây giờ bà ăn” gợi nhắc phong tục ăn trầu của người Việt, gợi nhớ về câu truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” được xem là xưa nhất trong những câu truyện cổ. Như vậy, trong miếng trầu dung dị ấy là mấy ngàn năm văn hóa, văn hiến của đất nước. Từ phong tục ăn trầu, người Việt còn có tục nhuộm răng đen: Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng (Hoàng Cầm) ++) Tục bới tóc sau đầu: Câu thơ \"Tóc mẹ thì bới sau đầu\" không chỉ gợi tả một nét đẹp thuần phong mỹ tục lâu đời của người Việt mà còn làm hiện lên hình ảnh người mẹ với búi tóc sau gáy, làm nổi bật vẻ đẹp dịu dàng, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam. + Đất nước còn có trong đạo lí ân nghĩa thủy chung đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc, có trong tình nghĩa sâu nặng của cha và mẹ: \"Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn\". Có lẽ câu thơ về tình nghĩa sâu nặng ấy được gợi ý từ một câu ca dao đẹp: “Tay bưng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc, nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình. Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung ở đời: gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn, con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa càng son sắc, mặn nồng. 2.4. Hai câu thơ: Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc và: Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã, giần, sàng Đất nước lớn lên, trưởng thành - Không dừng lại ở ở việc tìm về cội nguồn, sự tồn tại mà nhà thơ còn nỗ lực hình dung quá trình lớn lên, trưởng thành của đất nước. Phải chăng, khởi thủy và quá trình lớn lên của Đất nước là văn hóa được kết tinh từ tâm hồn và tính cách anh hùng của con người Việt Nam. Để nói hết được những điều đó, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nhắc đến hình ảnh cây tre, vốn từ lâu đã trở nên quen thuộc trong tâm thế của mỗi người Việt Nam: \"Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín\" (Cây tre Việt Nam - Thép Mới) Hình ảnh cây tre đã đi vào truyền thuyết Thánh Gióng với người anh hùng nhổ tre đánh giặc. Hai chữ “lớn lên” gợi liên tưởng đến hình ảnh chú bé làng Ngà mới lên ba vươn vai thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt khi Đất Nước bị giặc Ân xâm lược. Cây tre vì thế đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần dân tộc quật cường đánh giặc cứu nước và 33
giữ nước. Cây tre còn trở thành biểu tượng cho những phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam thật thà chất phác, cần cù, chăm chỉ, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình... Bởi vì: Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường (Tre Việt Nam - Nguyễn Duy) => Câu thơ \"Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc\" như vậy đã thể hiện quá trình lớn lên của đất nước. Đất nước lớn dần lên trong sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ bờ cõi, trong những cuộc trường chinh không ngừng nghỉ của cha ông trong suốt mấy ngàn năm lịch sử. - Đất nước còn bắt đầu và lớn mạnh dần lên trong quá trình lao động lam lũ, vất vả để làm ra hạt lúa, hạt gạo, làm ra những giá trị vật chất cho đất nước thể hiện rõ qua câu thơ \"Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng\". Thành ngữ \"Một nắng, hai sương\" đã cho thấy đất nước lớn lên trong nhọc nhằn, lam lũ. Các động từ “Xay - giã - giần - sàng” là những hoạt động trong quy trình sản xuất ra hạt gạo. Để làm ra hạt gạo ta ăn hằng ngày, người nông dân phải trải qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của người nông dân. Bởi vậy, ăn hạt gạo dẻo thơm ta phải nhớ công ơn người đã làm ra nó: Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần. (Ca dao) Cũng vì vậy mà nhà thơ Thanh Hải đã cảm nhận và khái quát quá trình đi lên đầy gian lao của đất nước: Đất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước. (Mùa xuân nho nhỏ-Thanh Hải) Tiểu kết: Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng một cách đầy sáng tạo chất liệu văn hóa, văn học dân gian như: sử dụng cách mở đầu của chuyện cổ tích, sử dụng thành ngữ, nhắc đến các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, hình ảnh ca dao, phong tục tập quán để thể hiện quan niệm đất nước rất gần gũi thân thiết với mỗi con người. Những cấu trúc được lặp đi lặp lại như \"Đất nước có từ...\", \"Đất nước có trong...\", \"Đất nước bắt đầu...\", \"Đất nước lớn lên...\" góp phần thể hiện quá trình sinh thành, tồn tại và lớn lên của đất nước, trải qua thời gian và trong tiềm thức của con người. Cùng với thể thơ tự do, phóng túng, câu thơ dài ngắn không đều; ngôn từ, hình ảnh giản dị, gần gũi; nhịp điệu linh hoạt; chất trữ tình kết hợp với chất chính luận, cảm xúc kết hợp với suy tưởng đã tạo nên những câu thơ hấp dẫn, cảm động... Những đặc sắc nghệ thuật này đã tạo ra vẻ đẹp riêng cho thơ Nguyễn Khoa Điềm và thể hiện sâu sắc hơn những cảm nhận sâu sắc, mới mẻ, độc đáo của ông về đất nước. Đoạn trích \"Đất nước\" giúp chúng ta thấy yêu và gắn bó hơn với quê hương, đất nước mình. Từ đó ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình với đất nước. 34
3. Đoạn thơ: Đất là nơi anh đến trường ...Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ 3.1. Khái quát - Nếu như chín câu thơ đầu của đọan thơ là những cảm nhận ban đầu của nhà thơ về đất nước, để trả lời cho các câu hỏi: \"Đất nước có từ bao giờ?\", \" Đất nước tồn tại ở đâu?\" và \"Quá trình lớn lên của đất nước như thế nào?\" thì đến đoạn thơ này nhà thơ muốn đi tìm định nghĩa về đất nước và cảm nhận đất nước ở các phương diện địa lí, lịch sử và chiều sâu văn hóa, phong tục 3.2. Đất nước được cảm nhận theo chiều rộng về địa lí (chiều không gian) Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã rất táo bạo khi định nghĩa đất nước bằng cách chiết tự và tách đất nước thành hai thành tố Đất và Nước. Nhà thơ định nghĩa Đất trong 3 câu thơ, định nghĩa Nước trong 3 câu thơ và hợp thành Đất Nước để định nghĩa cũng trong 3 câu thơ. Cách thức định nghĩa có vẻ rất phi khoa học nhưng lại rất có hiệu quả khi thể hiện được những cảm nhận rất sâu sắc về đất nước. *Hai câu thơ: Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước là không gian riêng tư, quen thuộc với mỗi người Ban đầu nhà thơ tách đất nước thành hai thành tố, định nghĩa. Đất và nước gắn liền với những kỉ niệm thời thơ ấu của anh và em. Đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Đất là con đường hàng ngày anh tới trường để học tập, trang bị kiến thức và hành trang tri thức giúp anh tự tin bước vào đời, làm chủ cuộc đời. Nước là dòng sông em tắm mát, là dòng sông của quê hương chở nặng phù sa làm bãi mía, nương dâu, ngô khoai biêng biếc, có bên lở bên bồi, có khi vơi khi đầy làm đẹp thêm làng quê yêu dấu. Quê hương ai cũng có một dòng sông với những con thuyền giấy chở bao kỉ niệm tuổi thơ nên phải xa quê hương thì dòng sông quê hương thường trở thành nỗi nhớ da diết. Để lòng ta chợt vui trong ngày trở về: Quê hương tôi cũng có một dòng sông bên nhà Con sông quê gắn bó với tuổi thơ đời tôi Bao năm xa quê ấy trong mơ tôi vẫn thấy Hôm nay tôi trở về, lòng chợt vui thấy sông không già (Trở về dòng sông - Hoàng Hiệp) => Với cách thức tách thành hai thành tố để định nghĩa từng thành tố như vậy, hai câu thơ đã biểu đạt đất nước gắn bó với mỗi cá thể, là nơi mỗi người chúng ta sinh sống và học tập, là không gian riêng tư, quen thuộc với mỗi con người. * Hai câu thơ: Đất Nước là nơi ta hò hẹn 35
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất nước là nơi hò hẹn của tình yêu - Tiếp đó, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại ghép hai thành tố ấy lại thành Đất Nước để định nghĩa. Khi đất nước không bị tách rời mà hòa hợp với nhau làm một thì đất nước thành \"nơi ta hò hẹn\", \"nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm\". Đất nước còn là nơi tình yêu lứa đôi nảy nở thiết tha, say đắm. Trong hai câu thơ này, đất nước bỗng trở thành không gian của tình yêu, gợi ra cả một không gian làng quê yên ả, thanh bình với cây đa, bến nước, sân đình, gợi ra những đêm trăng hò hẹn bên nhịp cầu tre lắt lẻo hay trong những đêm hội làng có gánh chèo hát thâu đêm: Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm Em mải tìm anh chả thiết xem Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em (Mưa xuân - Nguyễn Bính) Đất nước còn là không gian đầy nhớ thương của tình yêu thể hiện qua hình ảnh chiếc khăn. Câu thơ \"Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” đậm đà chất dân ca ca dao và gợi nhắc đến bài ca dao về chiếc khăn gợi thương, gợi nhớ: Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt. Chiếc khăn bé nhỏ, giản dị trở thành vật chứng cho tình yêu đôi lứa làm biết bao người phải xúc động, bồi hồi: Gói một chùm hoa Trong chiếc khăn tay Cô gái ngập ngừng Sang nhà hàng xóm” (Hương thầm - Phan Thị Thanh Nhàn) * Hai câu thơ: Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi Đất nước là không gian lãnh thổ - Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sau đó lại tiếp tục tách đất nước thành hai thành tố và sử dụng các hình ảnh ca dao, dân ca để làm nổi bật vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc. 36
+ Với hình ảnh ca dao \"con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc\", đất chính là núi rừng, bờ cõi, là rừng vàng, đồng xanh, bờ dâu, bãi mía... + Với hình ảnh ca dao \"con cá ngư ông móng nước biển khơi\", nước là sông, là bể, gợi hình ảnh những dòng sông đổ ra biển cả với sóng nước mênh mang và \"Biển cho ta cá như lòng mẹ - Nuôi lớn hồn ta tự thuở nào\" => Hai hình ảnh ca dao này mang phong cách dân ca miền Trung, thẫm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả. Đất nước mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng, tráng lệ, kì vĩ và giàu đẹp vô cùng. Đất nước chính là núi rừng, sông bể, là không gian lãnh thổ thiêng liêng. Không gian lãnh thổ ấy đã từng được Nguyễn Trãi khẳng định trong Bình Ngô đại cáo: Núi sông bờ cõi đã chia Lý Thường Kiệt cũng khẳng định đầy chắc chắn trong \"Nam quốc sơn hà\": Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời * Ba câu thơ: Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Đất nước là nơi dân mình sinh sống, đoàn tụ Đất nước còn không gian sinh tồn của cộng đồng qua nhiều thế hệ với “những ai đã khuất…những ai bây giờ…”, là nơi Chim về, là nơi Rồng ở. + Câu thơ \"Đất là nơi Chim về” gợi hình ảnh con chim Lạc trong văn hóa của đất nước các vua Hùng, cho thấy đất nước chính là nơi sinh sống của người mẹ Âu Cơ với 50 người con trên rừng. + Câu thơ\" Nước là nơi Rồng ở\" lại cho thấy đất nước là biển khơi, nơi Lạc Long Quân sinh sống cùng 50 người con. => Ba câu thơ không chỉ khẳng định đất nước là nơi đồng bào ta sinh sống, đoàn tụ trải qua bao nhiêu thế hệ mà còn gợi nhắc cả nguồn gốc cha Rồng, mẹ Tiên gắn với lòng biết ơn tổ tiên, nguồn cội. 3.3. Đất nước được cảm nhận ở chiều dài lịch sử (chiều thời gian) - Cùng với cách cảm nhận về đất nước ở phương diện không gian địa lý, nhà thơ còn cảm nhận đất nước ở phương diện thời gian lịch sử: Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Trong đó các từ láy \"đằng đẵng\", \"mênh mông\" đã nhấn mạnh chiều dài của thời gian lịch sử, chiều rộng của không gian địa lí, gợi hình ảnh một đất nước có lịch sử lâu đời và một vùng lãnh thổ rộng lớn. - Nếu như chiều rộng của đất nước bao la rộng lớn gắn với không gian riêng tư, quen thuộc của mỗi người, là không gian hò hẹn của tình yêu, là không gian lãnh thổ với rừng vàng biển bạc, là không gian sinh tồn của đồng bào ta thì chiều dài lịch sử đằng đẵng, lâu 37
đời của đất nước được bắt đầu từ truyền thuyết xa xưa, từ thuở Lạc Long Quân và Âu Cơ gặp nhau, yêu nhau rồi đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Tất cả các dân tộc anh em sinh sống trên mảnh đất Việt Nam như vậy đều là ruột thịt với nhau, đều từ một cha, một mẹ sinh ra. Nguồn gốc đất nước vì thế trở nên thiêng liêng trong hai chữ \"đồng bào\": Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng - Từ khi cha Rồng mẹ Tiên sinh ra nòi giống tiên rồng đến nay có biết bao thế hệ người Việt Nam sinh ra, lớn lên, yêu nhau, sinh con, đẻ cái rồi từ giã cõi đời. Hình ảnh đất nước vì thế luôn tiềm tàng trong mối quan hệ giữa các thế hệ; giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Đất nước là sự tiếp nối của biết bao nhiêu thế hệ, 4000 năm đất nước là sự tiếp nối của 4000 lớp người giống nhau lứa tuổi. Họ đã sống và chết, giản dị và bình tâm và họ chính là người làm ra đất nước. - Nhưng các thế hệ người Việt Nam không tồn tại riêng lẻ mà gắn kết với nhau, thế hệ sau kế thừa, tiếp nối thế hệ trước. Mỗi thế hệ người Việt Nam đều ý thức được vai trò, sứ mệnh của mình: Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. \"Những ai đã khuất\" là chỉ cha ông trong quá khứ, đã cống hiến hết đời mình và đã nằm xuống. \"Những ai bây giờ\" là chỉ những con người của thời hiện tại biết gánh vác phần việc mà cha ông để lại, kế thừa gìn giữ truyền thống từ cha ông và sau này sẽ dặn dò, giao lại trách nhiệm ấy cho con cháu. Hai chữ “cúi đầu” thể hiện niềm thành kính thiêng liêng mà rất đỗi tự hào về nguồn gốc của đất nước, giống nòi. Cúi đầu để hướng về lịch sử, về công lao của các vua Hùng đã góp công dựng nên nước nhà Âu Lạc mà nay là nước Việt Nam hùng cường sánh vai bốn bể năm châu. Tất cả các thế hệ người Việt Nam đều ý thức được trách nhiệm, sứ mệnh của mình là yêu nhau, sinh con đẻ cái để bảo tồn nòi giống. Nhưng trách nhiệm, sứ mệnh thiêng liêng hơn là phải gìn giữ, nhắc nhở, dặn dò nhau luôn ý thức sâu sắc về nguồn cội, tổ tiên, không bao giờ được quên cội nguồn dân tộc. Người Việt mình dù đi khắp thế giới nhưng trong tâm linh của họ luôn có một nơi để quay về, đó chính là quê cha đất Tổ vua Hùng. Là con cháu vua Hùng thì đều phải biết: Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba (Ca dao) 3.4. Đất nước còn được cảm nhận ít nhiều ở phương diện văn hóa 38
- Khi viết về chiều dài lịch sử của đất nước, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nhắc đến tín ngưỡng vua Hùng, một tín ngưỡng phổ biến tạo nên bản sắc văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, đoạn thơ còn sử dụng nhiều chất liệu văn hóa, văn học dân gian như truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, hình ảnh chim Lạc, nhắc đến nguồn gốc rồng tiên và các hình ảnh ca dao như chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi... Việc nhắc đến tín ngưỡng vua Hùng và sử dụng các chất liệu văn hóa, văn học dân gian ấy đã thể hiện những cảm nhận về đất nước ở chiều sâu văn hóa, phong tục. Tiểu kết: Với thể thơ tự do, phóng túng, câu thơ dài ngắn không đều, nhịp thơ linh hoạt không bó buộc, chính luận kết hợp với trữ tình, cảm xúc kết hợp với suy tưởng cùng với các biện pháp điệp từ, điệp cấu trúc... Đoạn thơ đã thể hiện những cảm nhận, cách thể hiện mới mẻ, độc đáo về đất nước trên nhiều phương diện khiến hình ảnh đất nước hiện lên trong tâm trí người đọc sinh động mà hấp dẫn lạ thường. Đoạn thơ là tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc, đánh động trong lòng ta những xúc động sâu xa về đất nước, về ý thức nguồn cội. Từ đó mỗi người nâng cao ý thức trách nhiệm với đất nước. 4. Đoạn thơ: Trong anh và em hôm nay ...Làm nên Đất Nước muôn đời Đất nước rất thân thiết, quan trọng và trách nhiệm của mỗi người với đất nước 4.1. Khái quát - Đoạn thơ vẫn nằm trong mạch cảm xúc về đất nước, nhân dân và để thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân. Nếu ở các đoạn thơ trước nhà thơ đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi Đất nước có tự bao giờ? Đất nước tồn tại ở đâu? Đất nước lớn lên như thế nào? và cảm nhận đất nước một cách đa chiều trong chiều dài về lịch sử, chiều rộng về địa lí, chiều sâu về văn hóa phong tục thì đoạn thơ này lại cho chúng ta thấy đất nước có trong mỗi con người, hài hòa giữa cái chung và cái riêng, cái cá nhân và cái tập thể, là sự nối tiếp của các thế hệ. Từ đó nhà thơ đã nêu rõ trách nhiệm của mỗi người với đất nước. - Trong suốt đoạn trích và đoạn thơ này nhà thơ viết hoa hai chữ Đất Nước khiến nó trở thành một mĩ từ gợi sự thiêng liêng, cao cả, bộc lộ sự tự hào, yêu mến về đất nước. Hình thức đoạn thơ là lời tâm tình của anh và em và với 13 câu thơ sử dụng cấu trúc tổng phân hợp, chất trữ tình hòa quyện với chính luận khiến đoạn thơ viết về đất nước mà như lời thổ lộ, tâm tình của đôi lứa yêu nhau. 4.2. Hai câu thơ: Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước Đất nước không chỉ gần gũi thân thiết với mỗi con người, như những người thân yêu nhất là bà, là cha và mẹ; là những gì bình thường, bình dị, quen thuộc nhất xung quanh mỗi chúng ta như miếng trầu bà ăn, câu chuyện mẹ kể, cái kèo, cái cột, là những phong tục tập quán, là tình nghĩa sâu nặng của cha và mẹ... mà gần gũi thân thiết hơn nữa khi nó còn có ở bên trong mỗi con người. Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận một cách rất tự nhiên rằng đất nước đã thấm vào bên trong, đã hòa vào trong mỗi cá thể nên trong anh, trong em, trong mỗi chúng ta đều có một phần là đất nước. Sự sống của mỗi cá nhân không phải là của riêng người đó mà còn có phần thuộc về đất nước, bởi vì mỗi con người từ khi sinh ra đều đã thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước. Chỉ 39
\"một phần\" đất nước nhỏ bé bên trong mỗi con người ấy thôi nhưng đủ làm ta xúc động, tự hào vì nhận ra mình đã góp phần làm nên đất nước. 4.3. Bốn câu thơ: Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn. Đất nước là ở sự hài hòa giữa cái chung và cái riêng, cái cá nhân và cái tập thể. - Nhà thơ tiếp tục nói về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của con người với đất nước bằng những dòng thơ giàu chất trữ tình chính luận. Trong câu thơ “Khi hai đứa cầm tay” thì \"hai đứa\" ở đây là anh và em. Cầm tay là một hành động thể hiện tình cảm thắm thiết, yêu thương và tin cậy, là giao duyên, là tình yêu đôi lứa. Trong anh và em đều có một phần là đất nước nên khi hai đứa cầm tay nhau thì phần đất nước trong cả hai hòa nhập làm một, tạo nên sự hài hòa, nồng thắm. Trong cái cầm tay ấy hóa ra không chỉ có tình yêu đôi lứa mà còn có tình yêu quê hương đất nước. Sự hài hòa của tình yêu đôi lứa với tình yêu quê hương đất nước cũng được nhà thơ Nguyễn Đình Thi thể hiện trong những câu thơ rất hay về tình yêu: Anh yêu em như anh yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần... Nhà thơ Giang Nam đã nhận thức ra rằng tình yêu đôi lứa đã làm cho tình yêu quê hương, đất nước càng thêm sâu đậm: Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm Có những lần trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nấm đất Có một phần xương thịt của em tôi. (Quê hương - Giang Nam) - Đất nước là sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, cái cá nhân và cái tập thể nên khi anh và em nắm tay mọi người, phần đất nước trong mỗi con người nhập vào làm một, sẽ tạo nên một đất nước to lớn, tạo nên sức mạnh đoàn kết có thể nhấn chìm tất cả và giúp đất nước vươn mình đứng dậy. Sức mạnh to lớn của tinh thần đoàn kết đã được ông cha ta đúc kết trong câu ca: Một cây làm chẳng nên non Hai cây chụm lại nên hòn núi cao Bác Hồ cũng đã khẳng định: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công 40
Từ “hài hòa, nồng thắm” đến “vẹn tròn, to lớn” là đi từ cái riêng đến cái chung, cái cá nhân đến cái tập thể; là cả một quá trình lớn lên của lịch sử dân tộc. Chỉ khi nào ba cây biết chụm lại thì mới nên hòn núi cao, khi nào các cá nhân biết nắm tay nhau để đất nước hài hòa làm một thì đất nước mới thực sự vẹn tròn, to lớn. => Với những cảm nhận tinh tế, mới mẻ; cách sử dụng các tính từ đi liền nhau “hài hòa, nồng thắm”, “vẹn tròn, to lớn”; đặc biệt là biện pháp lặp cấu trúc “Khi...Đất Nước...\" tạo sự cân xứng, liền mạch, làm cho ngôn từ trở nên uyển chuyển, linh hoạt và có ý nghĩa thẩm mĩ sâu sắc. Từ đó, đoạn thơ muốn gửi đến cho người đọc bức thông điệp: Tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần đoàn kết dân tộc là những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh Việt Nam. 4.4. Ba câu thơ: Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Cảm nhận về đất nước trong mối quan hệ giữa các thế hệ và niềm tin vào tương lai đất nước - Trước hết, ba câu thơ thể hiện những cảm nhận về đất nước trong mối hệ giữa các thế hệ. Ở đoạn thơ trước, khi nhắc về chiều dài lịch sử của đất nước nhà thơ đã nhắc đến bao nhiêu thế hệ đi trước trong quá khứ (những ai đã khuất), nhắc đến những thế hệ của hôm nay (những ai bây giờ), thế hệ tương lai (con cháu mai sau) và đến đoạn thơ này nhà thơ lại nhắc đến ta của hôm nay và \"mai này\" của \"con ta\", tức là nhắc đến một tương lai gần. Nhà thơ tin rằng, sẽ không phải đợi lâu mà chỉ cần đến thế hệ \"con ta\", khi chúng lớn lên chúng sẽ đưa đất nước đi xa, đến những ngày tháng tươi đẹp và \"mơ mộng\" nhất. Từ \"mơ mộng\" chỉ cái đẹp trong trí tưởng tượng, sản phẩm của cảm xúc lãng mạn, được đặt trong ba câu thơ gợi liên tưởng thế hệ con cháu sẽ tiếp bước ông cha để xây dựng đất nước “To đẹp hơn, đàng hoàng hơn” (Hồ Chí Minh). - Khi nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sáng tác trường ca \"Mặt đường khát vọng\" vào năm 1971, đất nước ta đang trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đầy cam go, thử thách, gian khổ, hi sinh và chưa biết bao giờ sẽ chiến thắng. Vậy mà ông đã tin rằng trong một tương lai rất gần, đất nước sẽ đến những tháng ngày tươi đẹp nhất. Điều đó rất đáng quý và đó chính là cảm hứng lãng mạn mà chúng ta thường thấy trong các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Chính niềm tin và cảm hứng lãng mạn ấy đã nâng đỡ con người Việt Nam trong khó khăn, thử thách để chúng ta có đủ sức mạnh đi đến chiến thắng. 4.5. Bốn câu thơ: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời... Đất nước là máu, là xương, là huyết lệ nên mỗi con người phải có ý thức trách nhiệm với đất nước - Cách xưng hô “Em ơi em” như một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao nỗi niềm đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và phát hiện ra nhiều điều mới lạ về đất nước. Cụm từ này khiến đoạn thơ như một lời thủ thỉ, tâm tình của anh với em, của đôi lứa yêu nhau. Nghệ thuật tăng cấp thể hiện trong suốt đoạn trích \"Đất nước\", từ chỗ 41
khẳng định đất nước là những gì gần gũi thân thiết xung quanh cuộc sống con người đến chỗ ở trong mỗi con người, rồi đến đoạn thơ này thì không chỉ ở trong mà quan trọng hơn là máu, là xương, là phần không thể thiếu của cơ thể sống. Đất nước là huyết lệ, là thân thể ruột thịt của chính mình, là mồ hôi, nước mắt của cha ông qua bao nhiêu thế hệ. Đất nước gắn bó, thân thiết và quan trọng với mỗi người như vậy nên mỗi con người đều phải có ý thức trách nhiệm với đất nước. - Điệp từ \"phải biết\" được lặp lại hai lần và được đặt ở đầu các câu thơ như các mệnh lệnh phát ra từ con tim làm giọng thơ trở nên mạnh mẽ, chân thành thể hiện ý thức trách nhiệm sâu sắc với non sông, đất nước. Trách nhiệm của mỗi con người là phải biết gắn bó, san sẻ và hóa thân cho đất nước. Với Nguyễn Khoa Điềm “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là những biểu hiện của tình yêu nước, là ý thức về nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng. + Gắn bó, san sẻ: Là phải biết yêu mến, sẻ chia, cống hiến, thậm chí phải biết hi sinh vì đất nước như nhà thơ Chế Lan Viên từng nói một cách cảm động: Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng Ôi! Tổ quốc, nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà,ngọn núi, con sông (Chế Lan Viên) + Hóa thân: Hóa thân vốn là quan niệm của nhà Phật, có nghĩa là nhập vào hay biến thành. Hóa thân như cô Tấm trong truyện cổ tích \"Tấm Cám\" hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi và quả thị. Hóa thân như anh em nhà họ Cao hóa thành cây cau và tảng đá, còn người vợ hóa thành cây trầu leo quanh cây cau trong truyện cổ tích \"Trầu cau\". Nhưng hóa thân thành đất nước thì phải như anh giải phóng quân trong bài thơ \"Dáng đứng Việt Nam\" của Lê Anh Xuân: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên Tì súng trên xác trực thăng Và anh chết trong khi đang đứng bắn Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng Hóa thân thành đất nước chính là sự nhập thân hay biến mình vào đất nước. Tư thế hi sinh trong thế tấn công của anh giải phóng quân ấy đã hóa thành tư thế, dáng hình của đất nước anh hùng, quật khởi. Cũng giống như thế là sự hóa thân của người con gái trong \"Núi đôi\" của Vũ Cao: Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường Em sẽ là hoa trên đỉnh núi Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm Hay cô gái hóa làn mây trắng trong thơ Lâm Thị Mĩ Dạ: Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Đêm đêm tâm hồn em toả sáng 42
Những vì sao ngời chói, lung linh Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong Đã hoá thành những làn mây trắng (Lâm Thị Mỹ Dạ) - Mỗi con người cần phải biết gắn bó, san sẻ, hóa thân để làm nên đất nước muôn đời như cha ông ta đã hóa thân thành núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên... đã gắn bó, san sẻ để làm nên lịch sử mấy ngàn năm của đất nước. Khát vọng đất nước trường tồn là khát vọng của người Việt Nam từ bao đời nay, đã đi vào những áng văn chương bất hủ của dân tộc: Xã tắc từ đây vững bền Non sông từ đây đổi mới Càn khôn bĩ mà lại thái Nhật nguyệt hối mà lại minh Muôn thuở nên thái bình vững chắc. (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi) Hoặc trong \"Tụng giá hoàn kinh sư\" của Trần Quang Khải: Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu Tiểu kết: Thể thơ tự do, phóng túng, câu thơ dài ngắn không đều, nhịp thơ linh hoạt không bó buộc, chính luận kết hợp với trữ tình, cảm xúc kết hợp với suy tưởng cùng với các biện pháp điệp từ, điệp cấu trúc, nghệ thuật tăng tiến, giọng thơ tâm tình, dịu ngọt, tứ thơ dạt dào cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh thể hiện một hồn thơ giàu tính suy tư, khẳng định một thi pháp độc đáo, có nhiều mới mẻ tìm tòi ... tác động đến cả nhận thức và gợi nhiều xúc cảm cho người đọc. Đoạn thơ không phải là lời giáo huấn khô khan mà như lời thủ thỉ, tâm tình, nhắn nhủ tha thiết dễ đi vào lòng người, thức tỉnh thanh niên các vùng đô thị tạm chiếm miền Nam giúp họ nhận ra vai trò sứ mệnh của thế hệ mình, trách nhiệm với non sông, đất nước. Đoạn thơ đẹp còn vì sáng ngời niềm tin về tương lai đất nước và tiền đồ tươi sáng cùa dân tộc, in đậm tính công dân của thời đại mới. 5. Đoạn thơ: Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu ... Những cuộc đời đã hóa núi sông ta Tư tưởng đất nước của nhân dân ở chiều địa lí (Nhân dân đã làm nên dáng hình đất nước) 5.1. Khái quát - Ở các đoạn thơ trước nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận về cội nguồn thiêng liêng của đất nước và thấy đất nước rất gần gũi, thân thiết với mỗi con người và lớn lên trưởng thành trong gian lao, vất vả. Đất nước có chiều dài lịch sử đằng đẵng, không gian địa lí mênh mông và có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, đậm đà bản sắc. Đất nước ở trong mỗi con người, là máu là xương là huyết lệ bởi vậy mỗi con người đều phải có trách nhiệm với đấy nước. 43
- Ở đoạn thơ này, nhà thơ bắt đầu đi vào tư tưởng có tính then chốt trong suốt đoạn trích là tư tưởng \"Đất Nước của Nhân dân\". Tư tưởng đất nước của nhân dân là tư tưởng tiến bộ đã manh nha từ thời trung đại. Từ \"Bình Ngô đại cáo\" của Nguyễn Trãi: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Sau này Phan Bội Châu cũng khẳng định \"Nước là dân, dân là nước\"... Đến giai đoạn 1945 - 1975, tư tưởng này đã thấm nhuần trong các tác phẩm văn học. Không chỉ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm mà trong thơ của hầu hết các nhà thơ từ thời chống Mỹ đều có những cảm nhận sâu sắc về nhân dân và coi đó là nền tảng của lòng yêu nước. Thanh Thảo trong trường ca \"Những người đi tới biển\" đã khắc hoạ chân dung của những con người bình dị và dùng những lời ngợi ca xúc động nhất để nói về nhân dân: Và cứ thế nhân dân thường ít nói Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời Và cứ thế nhân dân cao vời vợi Hơn cả những ngôi sao cô độc giữa trời - Tuy nhiên, phải đến \"Đất nước\" của Nguyễn Khoa Điềm thì tư tưởng đất nước của nhân dân mới trở thành cảm hứng chủ đạo, xuyên thấm vào trong tất cả những thành tố thuộc về đất nước. Trong đoạn trích \"Đất nước\" nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chủ yếu cảm nhận đất nước ở ba chiều là chiều dài lịch sử, chiều rộng địa lí, chiều sâu về văn hóa phong tục và sau đó tư tưởng đất nước của nhân dân cũng được triển khai theo ba chiều ấy. Chính nhân dân đã làm nên dáng hình đất nước, làm nên lịch sử và làm nên nền văn hóa, văn hiến lâu đời của đất nước. - Đoạn thơ 12 câu này thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân ở chiều địa lí, khẳng định chính nhân dân đã làm nên dáng hình đất nước. Tác giả không chỉ viết hoa từ \"Đất Nước\" mà còn viết hoa từ \"Nhân dân\" để gợi sự yêu mến, tự hào, thành kính, thiêng liêng. 5.2. Tám câu thơ: Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu ... Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm a. Bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên quê hương, đất nước - Trước hết, trong đoạn thơ nhà thơ đã kể, liệt kê một loạt các tên địa danh, các kì quan thiên nhiên trải dài trên lãnh thổ từ Bắc vào Nam như muốn phác thảo tấm bản đồ văn hóa đất nước. Những danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền đất nước như núi Vọng Phu Ở Lạng Sơn, hòn Trống Mái ở Thanh Hóa, đất Tổ Hùng Vương ở Phú Thọ, thắng cảnh Hạ Long ở Quảng Ninh, núi Bút non Nghiên ở Quảng Nam, các tên địa danh Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm ở miền Nam... Đây vốn là những danh lam thắng cảnh do tự nhiên sắp đặt, là kết quả của quá trình vận động địa chất, kiến tạo địa lý từ hàng ngàn, hàng vạn năm. Những tên địa danh, những danh lam thắng cảnh, tên núi tên sông, tên đất, tên làng, hình sông, thế núi ấy đã gợi lên cả một bức tranh thiên nhiên đất nước tươi đẹp mà nhìn đâu cũng có cảnh đẹp, thấy núi cao, biển rộng, sông dài, thấy những dòng sông đỏ nặng phù sa và nhiều tôm cá, những biển lúa mênh mông với những cánh cò bay lả bay la... Những tên địa danh ấy trước hết gợi cho chúng ta bao nhiêu niềm yêu mến, tự hào và khát khao muốn được khám phá vẻ đẹp mĩ lệ của thiên nhiên quê hương đất nước mình. 44
b. Sự hóa thân của nhân dân - Nhưng trong đoạn thơ, Nguyễn Khoa Điềm không khám phá bức tranh thiên nhiên quê hương, đất nước dưới góc độ khoa học, không nhìn thiên nhiên quê hương đất nước tươi đẹp như là tác phẩm của tạo hóa mà với những suy tưởng độc đáo, sâu sắc nhà thơ cho thấy các danh lam thắng cảnh, hình sông thế núi, tên đất tên làng... ấy đều do nhân dân hóa thân mà thành. - Hóa thân vốn là quan niệm của nhà Phật, có nghĩa là nhập vào hay biến thành. Hóa thân như cô Tấm trong truyện cổ tích \"Tấm Cám\" hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi và quả thị. Hóa thân như anh em nhà họ Cao hóa thành cây cau và tảng đá, còn người vợ hóa thành cây trầu leo quanh cây cau trong truyện cổ tích \"Trầu cau\". Theo nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm núi Vọng Phu là hóa thân của người vợ nhớ chồng. Tình cảm nhớ thương, thủy chung, son sắt khiến người vợ chờ chồng đến hóa đá. Hòn Trống Mái là hóa thân của cặp vợ chồng yêu nhau, nguyện hóa đá để mãi mãi được bên nhau. Núi Bút, non nghiên là hóa thân của người học trò nghèo vượt khó cần cù, hiếu học. Ngay cả con cóc, con gà của quê hương cũng hóa mình thành thắng cảnh Hạ Long... Mỗi địa danh đều gắn với một truyền thuyết, sự tích riêng, tạo nên một thế giới cổ tích huyền diệu. Nhưng sâu sắc và tài hoa hơn là Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện ra không ai khác, chính những người dân bình thường vô danh bình dị, đã sống và chết giản dị và bình tâm, không ai nhớ mặt đặt tên nhưng chính họ đã hóa thân thành dáng hình đất nước, làm nên vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc. (Mở rộng về hóa thân: Xem mục 4.5) c. Bức tranh thiên nhiên đất nước chính là tâm hồn, máu thịt của nhân dân Mỗi địa danh không chỉ là một nét tô điểm cho bức tranh thiên nhiên đất nước mà còn là tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã hóa thân, đã tạo dựng nên đất nước, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông. Và những ngọn núi, những dòng sông... chỉ trở thành thắng cảnh khi nó thể hiện tâm hồn con người và lịch sử dân tộc. Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái là biểu tượng đẹp đẽ cho truyền thống chung thủy, son sắc trong tình yêu. Những ao đầm dày đặc ở vùng đất Sóc Sơn, hình ảnh 99 con voi dựng đất Tổ Hùng Vương là những hình ảnh bất tử về truyền thống yêu nước nồng nàn, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm. Núi Bút, non Nghiên là biểu tượng cho truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo... Và như thế những người dân vô danh bình dị còn góp phần hóa thân thành những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và khắc ghi những truyền thống tốt đẹp ấy lên dáng hình đất nước, lên những hình sông, thế núi, tên đất tên làng... thành lời nhắn nhủ đến muôn đời sau. 5.3. Bốn câu thơ: Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta. Từ cụ thể đi đến khái quát - Đoạn thơ được thể hiện theo kết cấu quy nạp, đi từ cụ thể đến khái quát. Từ một số địa danh cụ thể cụ thể, nhà thơ khái quát thành kết luận rất sâu sắc: Không chỉ ở một số địa danh tiêu biểu, cụ thể như ở tám câu thơ trên mà bất cứ danh lam thắng cảnh, hình sông thế 45
núi, ruộng đồng, gò bãi hay mỗi tấc đất con sông nào trên dải đất hình chữ S cũng là hóa thân, là máu thịt của nhân dân. - Là hóa thân của nhân dân nên mỗi hình sông thế núi, từng tấc đất trên đất nước này đều in dấu dáng hình, tâm tư tình cảm, ao ước, khát vọng, tính cách, phẩm chất, lối sống của những con người đất Việt. Mỗi danh lam thắng cảnh là một bức tượng đài bất tử về vẻ đẹp tâm hồn người Việt Nam. Ngợi ca núi sông hùng vĩ, diễm lệ thực chất là ngợi ca, tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân. Không có nhân dân từ bao đời với tâm hồn cao quý, khát vọng cao đẹp thì không có những thắng cảnh kỳ thú để con cháu đời đời chiêm ngưỡng. - Ngẫm về công lao to lớn của nhân dân, về truyền thống của ông cha trong suốt 4000 năm lịch sử, nhà thơ không khỏi rưng rưng bồi hồi xúc động, rạo rực niềm mến yêu. Thán từ “ôi” và dấu ba chấm cuối đoạn đã truyền đến người đọc những những xúc cảm sâu lắng, đó là biểu hiện của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chính luận và chất trữ tình, cảm xúc kết hợp với suy tưởng tạo nên vẻ đẹp riêng của thơ Nguyễn Khoa Điềm. Tiểu kết: - Đoạn thơ đầy ắp chất liệu văn học dân gian. Đó là những sự tích huyền thoại, truyền thuyết. Chính chất liệu dân gian độc đáo, mới mẻ ấy đã mở ra một thế giới vừa bình dị, mộc mạc, vừa thiêng liêng bay bổng. Thể thơ tự do, sử dụng nhiều câu thơ dài, kết cấu quy nạp, biện pháp nghệ thuật liệt kê, giọng thơ tự sự ; ngôn từ, hình ảnh đẹp, giàu sức liên tưởng, triết lí... là những đặc sắc nghệ thuật nổi bật trong đoạn thơ. - Thể hiện một đề tài quen thuộc, nhưng thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn mang những nét riêng, mới mẻ, sâu sắc . Những nhận thức mới mẻ về vai trò của nhân dân trong việc làm nên vẻ đẹp của đất nước ở góc độ địa lý-văn hóa càng gợi lên lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với đất nước cho mỗi người. 6. Đoạn thơ: Em ơi em ...Có nội thù thì vùng lên đánh bại. Tư tưởng đất nước của nhân dân ở phương diện lịch sử và văn hóa 6.1. Khái quát: Tham khảo 5.1 6.2. Năm câu thơ: Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm đất nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Nhìn vào lịch sử 4000 năm của đất nước và khẳng định chính nhân dân làm nên lịch sử - Sau khi đã khẳng định vai trò của nhân dân làm nên bức tranh địa lý- văn hóa muôn màu muôn vẻ, nhà thơ tiếp tục bày tỏ những suy tư, nhận thức của mình về vai trò của nhân dân trong việc làm ra lịch sử và truyền thống 46
của đất nước. Em là nhân vật trữ tình không xác định, cũng có thể là sự phân thân của tác giả để độc thoại với chính mình. Cụm từ \"em ơi em\" khiến cho đoạn thơ trở thành lời thủ thỉ, tâm tình tha thiết và dễ đi vào lòng người. Với những tâm tình tha thiết ấy, nhà thơ đã đưa chúng ta về quá khứ, lịch sử 4000 năm Đất Nước và thể hiện niềm tự hào trước lịch sử lâu đời của dân tộc. Lịch sử ấy ai mà không tự hào nên nó đã trở thành nguồn cảm hứng của bao nhiêu thi sĩ: Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm! Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? - Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc. Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng... - Nhìn vào chiều dài lịch sử lâu đời của đất nước, nhà thơ đã không nhắc lại các triều đại hay kể tên các bậc vua chúa, các vị anh hùng mà nhắc đến nhân dân. Trong đoạn thơ nhà thơ viết hoa chữ \"Nhân dân\" để thể hiện sự trân trọng, mến yêu. Nhân dân là những con người vô danh đã cống hiến và hi sinh cho đất nước một cách tự nguyện. Nhân dân là biết bao thế hệ những người con gái, con trai, là 4000 lớp người trong lịch sử. Họ bằng tuổi với thế hệ thanh niên thời chống Mĩ. Họ là những con người bình thường nhưng chính họ đã làm ra đất nước. Vì thế, đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người vô danh bình dị đó. Cụm từ \"bằng tuổi chúng ta\", và cụm từ \"giống ta lứa tuổi\" ở sau cho thấy đoạn thơ là lời thủ thỉ tâm tình hướng về thế hệ trẻ miền Nam vùng tạm chiếm giúp họ ý thức được vai trò, sứ mệnh của thế hệ mình mà đóng góp công sức để bảo vệ đất nước. 6.3. Các câu thơ: Cần cù làm lụng ...Có nội thù thì vùng lên đánh bại Nhân dân đã làm nên lịch sử như thế nào? - Họ cần cù lao động: Trong những câu thơ đầu của đoạn trích \"Đất nước\" nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cho thấy khởi thủy và quá trình lớn lên của đất nước chính là quá trình lao động lam lũ để làm ra hạt gạo, của cải vật chất \"Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng\". Đất nước lớn lên trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ bờ cõi, trong những cuộc trường chinh không ngừng nghỉ để bảo vệ đất nước \"Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc\". Và đến đoạn thơ này nhà thơ cho chúng ta thấy quá trình ấy đều là đóng góp của nhân dân. Đất nước 4000 năm lịch sử là 4000 thế hệ những người con gái con trai đã cống hiến, hi sinh. Họ đã làm nên đất nước, tạo ra lịch sử dân tộc bằng cách: \"Cần cù làm lụng\" 47
Sống trong một đất nước mà nông nghiệp là chính, người nhân dân ta từ bao đời chỉ cần cù lao động, chịu thương chịu khó để nuôi sống gia đình, góp phần làm nên đất nước. Cả cuộc đời họ chỉ gắn với con trâu, thửa ruộng và hầu như không ra khỏi lũy tre làng: Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu) - Họ chống giặc ngoại xâm: Nhưng khi có giặc xâm lược, chính những người dân bình thường ấy chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Người con trai sẽ ra trận, người con gái ở nhà trở thành hậu phương vững chắc. Khi giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh, đánh giặc đến cùng giống như lời nhân vật chị Út Tịch trong \"Người mẹ cầm súng\" của Nguyễn Thi \"Còn cái lai quần cũng đánh\". Với tinh thần yêu nước nồng nàn, những người nông dân áo vải ấy vụt lớn lên: Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng (Đất nước - Nguyễn Đình Thi) Nguyễn Khoa Điềm đã nêu lên một sự thật lịch sử là trong bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước, có biết bao thế hệ cha anh dũng cảm chiến đấu, hy sinh và trở thành anh hùng mà tên tuổi của họ “cả anh và em đều nhớ”: Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ Nhưng cũng có hàng triệu, hàng triệu người cũng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước đã ngã xuống. Họ không phải là những anh hùng mà là những người dân vô danh, bình dị đã sống và chết giản dị và bình tâm, không ai nhớ mặt, nhớ tên của họ nhưng chính họ có công làm ra đất nước. - Tư tưởng đất nước của nhân dân ở chiều sâu văn hóa (Họ tạo ra, gìn giữ và truyền lại cho đời sau các giá trị vật chất và tinh thần của đất nước): Nhân dân không chỉ là người xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn là người làm nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng ấy là truyền lại cho thế hệ tiếp nối những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần như truyền hạt lúa, truyền lửa, truyền tiếng nói, truyền tên xã tên làng, đắp đập be bờ cho người đời sau trồng cây hái trái... Cha ông đã để lại cho con cháu nền văn minh nông nghiệp lúa nước ngàn đời, truyền cho con cháu ngọn lửa sáng ngời sau bao năm tháng sống trong tối tăm, lạnh lẽo. Truyền cho con thứ ngôn ngữ tiếng nói của riêng dân tộc mình, giữ cho mình cái văn hóa làng, xã trong mỗi chuyến di dân, tạo dựng cơ sở vật chất, đất đai để cho các thế hệ kế tiếp phát triển trên mảnh đất ấy... Để rồi trong cái nôi văn hóa truyền thống ấy, chúng ta được sinh ra và dần lớn lên, chập chững những bước đi đầu tiên trên mặt đất và bập bẹ 48
hai tiếng “mẹ, cha” ngọng nghịu. Tiếng nói đầu tiên là tiếng “mẹ” yêu thương, tiếng nói đầu tiên của ta cũng là tiếng nói của đất nước đã có tự bao đời. Tiếng nói ấy chính là “Hồn thiêng sông núi” (Huy Cận), là “Tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua” (Hoài Thanh). Ngay từ tiếng nói đầu tiên ấy, ta đã trở thành con người đất Việt, “Hồn thiêng sông núi” đã bắt đầu hình thành mạch ngầm trong huyết quản. Và những giá trị vật chất, tinh thần ấy rồi sẽ theo chúng ta trong suốt cuộc đời, khiến ta tự hào được trở thành con cháu Rồng, Tiên. Tiểu kết: Với hình ảnh thơ giản dị, mộc mạc, giọng thơ vừa tự sự vừa trữ tình… Tác giả đã chọn tư liệu văn hóa dân tộc trong ca dao, thể hiện cảm xúc, ý nghĩ. Hiện lên rõ mồn một là chân dung tinh thần của nhân dân. Tâm hồn dân tộc gửi vào trong dân gian gian nay trở thành chiều sâu văn hóa. Nhìn ở cả chiều dài, chiều rộng và chiều sâu đều thấy được vai trò của nhân dân vừa làm ra vừa bảo vệ. Cho nên “Đất Nước này là đất nước của nhân dân”. Đoạn thơ vừa là lời tâm tình,vừa là lời nhắn nhủ của nhà thơ với tất cả mọi người phải nhận thức đúng vai trò to lớn của nhân dân trong việc làm nên truyền thống lịch sử, văn hóa của đất nước bằng chính lòng biết ơn của mình. 7. Đoạn thơ: Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân ...Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi Đất nước nhân dân thể hiện qua chiều sâu văn hóa và lời ca ngợi non sông đất nước 7.1. Khái quát: Tham khảo 5.1. 7.2. Đoạn thơ: Để đất nước này là đất nước của Nhân dân ... Đi trả thù mà không sợ dài lâu Tư tưởng đất nước của nhân dân ở phương diện văn hóa, văn học dân gian - Có thể nói “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca thể hiện nhận thức về của nhà thơ về đất nước. Đất nước chính là trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân dân. Khi mạch cảm xúc lên cao trào nhà thơ đi đến khẳng định 'Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân\". Vế câu \"Đất Nước của Nhân dân\" được nhà thơ lặp lại hai lần như để khẳng định sâu sắc rằng nhân dân chính chủ thể làm nên đất nước và cho thấy đây cũng chính là cảm hứng chủ đạo được thể hiện trong suốt đoạn trích và cả chương V của bản trường ca. Vế câu thứ hai “Đất Nước của ca dao thần thoại” được nhà thơ đặt ở cuối câu để nhấn mạnh, đã gợi lên một không gian đất nước đầy thiêng liêng, kì diệu. Đó là đất nước của những câu ca dao dân ca đầy yêu thương, tình nghĩa, là bài ca về tình yêu lao động, về tinh thần lạc quan, yêu đời... mà ở đó ta cảm nhận được sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam. Đó là đất nước của thần trụ trời, làm trụ đẩy trời lên cao tạo nên trời đất, vũ trụ, muôn loài... Ở đây, nhà thơ nhắc đến hai thể loại văn học dân gian tiêu biểu của người Việt là ca dao, thần thoại là để khẳng định đất nước của nền văn hóa, văn học dân gian đậm đà bản sắc dân tộc. Văn hóa, văn học dân gian là linh hồn dân tộc, là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân do chính nhân dân sáng tạo, lưu truyền. Nó là sản phẩm tinh thần, 49
tâm tư tình cảm, là trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân nên nhắc đến văn hóa văn học dân gian, ca dao thần thoại là nhắc đến nhân dân và để khẳng định chính nhân dân đã sáng tạo ra đất nước. - Để chứng minh \"Đất Nước của ca dao, thần thoại\", nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lấy lại ý ba câu ca dao có nội dung sâu sắc để nói về ba phẩm chất đã trở thành truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam. Trong đó: + Câu thơ “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi” lấy lại ý của câu ca dao: Yêu em từ thuở trong nôi Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru Chính ca dao, vẻ đẹp của tâm hồn cha ông trong văn học đã \"dạy anh biết\" truyền thống chung thủy, say đắm mãnh liệt trong tình yêu để anh biết yêu em chân thật, thủy chung. + Câu thơ \"Biết quý công cầm vàng từ những ngày lặn lội\" lấy lại ý từ câu ca dao: Cầm vàng mà lội qua sông Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng Ca dao chứa trong nó văn hóa, thói quen, tập quán, nếp nghĩ nếp cảm của người Việt Nam. Nó không chỉ dạy anh biết yêu mà còn dạy cho anh biết người Việt Nam không quý trọng vật chất mà trọng tình trọng nghĩa, quý trọng sức lao động, có truyền thống nhân nhân nghĩa, thủy chung. + Hai câu thơ \"Biết trồng tre đợi ngày thành gậy - Đi trả thù mà không sợ dài lâu” lấy lại ý từ câu ca dao: Thù này ắt hẳn còn lâu Trồng tre thành gậy, gặp đâu đánh què Cụm từ \"Dạy anh biết\" và điệp từ \"biết\" được được lặp lại 3 lần, trong đó có 2 lần đứng ở đầu các câu thơ đã khẳng định ca dao như nguồn sữa mẹ dạt dào nuôi lớn tâm hồn người Việt Nam. Cũng chính ca dao đã dạy cho anh biết truyền thống quyết liệt, bền bỉ và kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm. Truyền thống ấy giúp ta lí giải vì sao trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, gần trăm năm bị Pháp đô hộ và không biết bao lần bị giặc ngoại xâm chiếm giữ nhưng đến nay đất nước vẫn toàn vẹn, thống nhất. 7.3. Bốn câu thơ: Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… Lời ca ngợi non sông đất nước - Vẻ đẹp của những dòng sông: Kết lại đoạn trích \"Đất nước\" là những cảm nhận rất tinh tế, là lợi ngợi ca vẻ đẹp của quê hương, đất nước. Mở đầu đoạn thơ là thán từ \"Ôi\" chứa nhiều cảm xúc. Đó là cảm xúc ngỡ ngàng nhưng chứa đầy sự trìu mến, tình cảm yêu thương khi khám phá ra vẻ đẹp của những con sông khi nó chảy về đất Việt. Câu thơ \"Ôi, những dòng sông đều bắt nước từ đâu\" xác nhận một đặc điểm về địa lí là hầu hết các con sông trên đất nước ta đều có nguồn gốc từ bên ngoài, các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Mê kông... đều bắt nguồn từ các nước lân cận. Nhưng nhà thơ thấy không cần xác 50
Search
Read the Text Version
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
- 36
- 37
- 38
- 39
- 40
- 41
- 42
- 43
- 44
- 45
- 46
- 47
- 48
- 49
- 50
- 51
- 52
- 53
- 54
- 55
- 56
- 57
- 58
- 59
- 60
- 61
- 62
- 63
- 64
- 65
- 66
- 67
- 68
- 69
- 70
- 71
- 72
- 73
- 74
- 75
- 76
- 77
- 78
- 79
- 80
- 81
- 82
- 83
- 84
- 85
- 86
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- 92
- 93
- 94
- 95
- 96
- 97
- 98
- 99
- 100
- 101
- 102
- 103
- 104
- 105
- 106
- 107
- 108
- 109
- 110
- 111
- 112
- 113
- 114
- 115
- 116
- 117
- 118
- 119
- 120
- 121
- 122
- 123
- 124
- 125
- 126
- 127
- 128
- 129
- 130
- 131
- 132
- 133
- 134
- 135
- 136
- 137
- 138
- 139
- 140
- 141
- 142
- 143
- 144
- 145
- 146
- 147
- 148
- 149
- 150