Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore DenTranChuaThapTinhNamDinh

DenTranChuaThapTinhNamDinh

Published by THƯ VIỆN TIỂU HỌC TÂN QUANG, 2023-07-09 13:48:12

Description: DenTranChuaThapTinhNamDinh

Search

Read the Text Version

Tông), để bụng căm ghét cho nên tìm ngưòi tài giỏi khắp bốn phương để dạy cho Quốc Tuấn. Khi sắp qua đời An Sinh Vương cầm tay Quốc Tuấn mà trối trăng rằng: “Nếu con không vì cha mà lấy được thiên hạ thì ở nơi suối vàng cha không sao nhắm mắt được.” Quốc Tuấn ghi nhớ lời cha nhưng không cho đó là lời nói phải. Khi vận nước lung lay chức lớn và quyền nắm quân đã sẩn trong tay, ông liền đem lời cha dặn nói với hai gia nô là Yết Kiêu và Dã Tượng. Hai gia nô can rằng: - Kế ấy nếu thành thì được phú quý một đời nhưng để lại tiếng xấu đến ngàn năm. Nay đại vương phú quý như thế chưa đủ hay sao? Chúng tôi thà chết già với kiếp gia nô chứ không mong làm quan mà bỏ cả trung hiếu, trọn đời xin được tôn người bán thịt dê tên là Duyệt làm thầy mà thôi^*^ Quốc Tuấn nghe Icd ấy, cảm phục đến phát khóc, khen ngợi hai ngưcd mãi không thôi. Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương tức Trần Quốc Nghiên. - Xưa nay ai cũng muốn có thiên hạ để truyền cho con cháu. Con nghĩ sao về việc này? Hưng Vũ Vương trả lời: Việc đó dẫu là người khác họ cũng không nên làm, huống chi là đối với người trong cùng một họ. Quốc Tuấn cho là phải. Lại một hôm Quốc Tuấn đem Xưa vua nước Sở là Sở Chiêu Vưcfng chạy loạn ra nước ngoài. Bấy giờ chỉ có một người bán thịt dê tên là Duyệt đi theo phò tá. Hết loạn ữ ở về Sở, Chiêu Vương ban thưởng cho Duyệt Duyệt từ chối mà nói rằng: Nhà vua mất nước khiến tôi không được đi bán thịt dê. 94

chuyện này nói với người con thứ là Hưng Nhượng Vương (Trần Quốc Tảng) Quốc Tảng liền tiến đến thưa: Như Tống Thái tổ kia, vốn chỉ là một lão nông vậy mà còn có thể thừa cơ dấy lên lấy được cả thiên hạ huống là... Quốc Tuấn rút gươm kể tội: - Loạn thần đều do tặc tử mà ra! Nói rồi định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội tói khóc van xin chịu tội thay, bấy giờ Quốc Tuấn mới tha. Ông dặn Hưng Vũ Vương rằng: Sau này khi nào ta chết, phải đợi đến lúc đậy nắm quan tài, rồi mói cho Quốc Tảng vào viếng^^^ Đối với vua Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn một lòng cung kính trung thành, đối vód quý tộc và đồng liêu, ông mực thước giữ đức hoà thuận, đối với quân sĩ và trăm họ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn nặng lòng thương yêu. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất (1257 - 1258) Trần Quốc Tuấn là người “tiết chế mọi việc quân” với tài điều binh khiển tướng ngay trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Thát lấn thứ nhất ông đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của quân dân Đại Viẹt. Năm 1282, vua Trần mở hội nghị vương hầu tướng lĩnh ở Bình Than (Trần Xá - Hải Dương). Năm 1283 Trần Quốc Tuấn được cử làm Quốc công tiết chế chỉ huy toàn bộ quân đội nhà Trần. (1) Đại Việt sử ký toàn thư. Bản kỷ quyển 6 tờ 9-b và tờ 10 - a. 95

Năm 1285, quân Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ 2, với những mưu lược tài giỏi ông đã lãnh đạo quân đội nhà Trần tiêu diệt toàn bộ 50 vạn quân Mông cổ, giải phóng toàn đất nước. Cuộc đời binh nghiệp của Trần Quốc Tuấn được viết lên như một bản anh hùng ca ở cuộc kháng chiến lần thứ 3 của nhà Trần (1287 - 1288). Toàn bộ quân Nguyên Mông đã bị tiêu diệt trên chiến trường Thăng Long, Vạn Kiếp và kết thúc mộng xâm lăng của chúng trên chiến trường tại trận địa Bạch Đằng lịch sử, vào ngày 9 tháng 4 năm 1288. Đây là một trong những trận chiến lừng danh trong lịch sử nhân loại. Trần Quốc Tuấn, vị tướng ba lần đại thắng Nguyên Mông là một trong những vị tướng nổi tiếng thế giới (Trích Những nền văn minh thế giói - NXBVHTT - Tr 277). Sau cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược lần thứ 3 một thời gian không lâu, Trần Quốc Tuấn trở về phủ đệ an dưỡng tuổi già, chăm lo trang ấp, viết sách tổng kết khoa học quân sự và kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đón vua Trần Anh Tông về thăm, ô n g đã viết “Lâm Chung di chúc”, hiến kế dựng nước và giữ nước. Những chân lý bất hủ được ghi trong bản di chúc này: - “Vua tôi đồng tâm anh em hoà mục, cả nước góp sức giặc phải bó tay”. - “Khoan thư sức dân, để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300) tức ngày 5 tháng 9 năm 1300 Trần Quốc Tuấn qua đời tại phủ đệ Vạn Kiếp. Triều 96

Đền Bảo Lộc, xã M ỹ Phúc, huyện M ỹ Lộc thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Ảnh: Vũ Công Hội)

Lăng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn thôn Bảo Lộc, xã M ỹ Phúc, huyện M ỹ Lộc (Ảnh: Vũ Công Hội)

đình tổ chức quốc tang, truy tặng ông là Thái sư thượng phụ thượng Quốc công Nhân Vũ Đại vương. Khi sắp mất ông dặn con: “Ta chết thì phải hoả táng, lấy vật tròn đựng xương bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào...?”. n - M ối quan hệ gia đình, ịanh em m ột Trần Hưng Đạo) Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn có người anh trai Hưng Ninh Vương Trần Tung (1230 -1297) là một võ tướng hai phen cầm quân đánh giặc Nguyên Mông. Sau khi giặc tan, nước nhà thái bình, ông lui về ở phong ấp Tịnh Bang đổi tên làng Vạn Niên, ông học thiền sư và ngộ đạo với thiền sư Tiên Dao ở Tịnh Xá Phước Đường. Vua Thánh Tộng tặng hiệu là: Tuệ Trung Thượng Sĩ và gửi thái tử Trần Khâm đến học Thiền với ông. * - Em gái: Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu (tên họ Trần Thị Thiều) là vợ vua Trần Thánh Tông, mẹ vua Trần Nhân Tông. - Em trai: Trần Quốc Khang. Sách ĐVSKTT chép “Năm Đinh Dậu (1237)... lập công chúa Thuận Thiên họ Lý làm vợ của Hoài Vương Liễu (anh vua) làm Hoàng hậu Thuận Thiên, giáng Chiêu Thánh làm công chúa. Bấy giờ Chiêu Thánh không có con mà Thuận Thiên (vợ Trần Liễu) đã có mang Quốc Khang 3 tháng” ĐVSTTT tập II, Trl5. - Anh trai: Trần Doãn. Trần Doãn được phong là Vũ Thành vương, nhưng rất tiếc là vì những hiềm khích nội bộ, năm 1257 Vũ Thành Vương Trần Doãn đã đem cả gia quyến chạy sang 97

Trung Quốc và bị viên thổ quan của Trung Quốc ở phủ Tự Minh bắt nạp cho triều Trần . Các con, cháu của Hưng Đạo vưomg Trần Quốc Tuấn. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành công chúa (tên họ là Trần Thị Anh) có 4 người con trai, một người con gái. 1. Trần Quốc Hiến: Võ tướng có tài là phò mã của vua Trần Thánh Tông (chồng của Thiên Thuỵ công chúa). 2. Trần Quốc Nghiên: Võ tướng có tài lại cũng là người có công tổ chức khẩn hoang. Chứih ông là người biến nhiều vùng đất hoang vu của khu vực Hải Dương (tỉnh Hải Dương ngày nay) thành đồng ruộng tốt tươi xóm làng trù phú. 3. Trần Quốc Tảng: Võ tướng có tài. ô n g có con gái là Hoàng Hậu của vua Trần Anh Tông (bà Thuận Thánh Hoàng hậu). 4. Trần Quốc Uất (Uy): Võ tướng tài. 5. Khâm Từ Hoàng hậu: vợ vua Trần Nhân Tông, vị vua thứ 3 của triều Trần. 6. Ngoài ra Trần Hưng Đạo còn có người con gái nuôi. Đại Hoàng Anh Nguyên quận chúa là vợ của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão, người có công lớn trong cuộc chiến tranh vệ quốc lần thứ 2 và thứ 3. Cháu nội Hưng Đạo Vương là Tư đồ Văn Hụê Vương Trần Quốc Triều (con trai Trần Quốc Tảng) là trọng thần dưới triều Trần Minh Tông. 98

- Có thể khẳng định gia đình Hưng Đạo Đại vưcmg Trần Quốc Tuấn là một trong những trụ cột chính của vương triều Trần. Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), tiết chế thống lũih chư quân, Hưng Đạo Đại vương qua đời. Cả triều đình vương triều Trần và quân dân Đại Việt, chìm trong nổi tiếc thương vô hạn! Đại việt sử ký toàn thư ghi; Khi Hưng Đạo đại vương mất, vua bãi chầu 10 ngày. Nhân Tông và vua tại vị truyền cho trăm họ mặc tang phục, nhà vua đi xe mộc ngựa trắng, thân hành đốc việc dùng quan tài bằng đồng liệm táng. 99

LẢNG M ộ TRẦN HƯNG ĐẠO Theo lòd dặn của ông thì vườn An Lạc xưa ở đâu? Theo Nam Định địa dư chí^‘^ của Ngô Giáp Đậu thì Bảo Lộc là ncd lập ấp đầu tiên của An Sinh Vương Trần Liễu gọi là ấp An Lạc. Và theo các bậc cao niên ở địa phương, thôn Bảo Lộc xưa có tên là làng An Lạc cách Tức Mặc hơn 3 km về phía Bắc có đền Bảo Lộc thờ Hưng Đạo Đại vương cùng thân phụ, thân mẫu và gia tộc của ông. Trong đền còn lưu giữ quả chuông khắc chữ Hán: “An Lạc từ chung” (chuông đền An Lạc) Có nhiều khả năng tuân theo di chúc của cha, các con của Trần Quốc TuỂừi đã đưa tro xương của cha về an táng ở cố hương? Cách đền Bảo Lộc 600m về phía đông có lăng mộ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Lăng xây gạch rộng, xung quanh có vườn cây gần bờ sông Châu thuộc thôn Bảo Lộc xã Mỹ Phúc ngoại thành Nam Định. Đại tự nhỂừi vữa trên vòm cửa: ‘Trần đại Vương lăng” (Lăng thờ vị đại vương họ Trần) Câu đối nhỂùi vữa: “Đằng giang khải hoá thiên sinh Thánh Nam Việt ư tư nhạc giáng thần” (1) T\\r liộu hiên đang lưu tại Thư viện tủứi Nam Định. 100

(Trận đánh biến hoá ở Bạch Đằng trời rộng sinh ra Đức Thánh Nổi tiếng thiêng liêng trên đất Việt núi cao có vị giấng thần) Hoặc câu đối: “Ngọc cốt di truyền thang mộc ấp Kim thân xuất hiện Bảo Lộc hương (Xương ngọc vẫn truyền: còn để ở ấp thang mộc Mình vàng vẫn hiện tại thôn Bảo Lộc quê hương) Theo các bậc cao niên làng Bảo Lộc kể lại phần lăng mộ của Ngài trước đây chỉ là một ngôi miếu nhỏ, có am thờ bằng đất. Vào mùa mưa tháng 8, ngày kị của Ngài thưcmg bị ngập lụt. Trong những năm gần đây được sự quan tâm của chính quyền địa phương, ngành VHTT cùng vói sự tài trợ của những người có tâm đức, lăng mộ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã được tôn tạo khang trang bề thế. Song song với những dòng chính sử chép về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, trong dân gian vùng Bảo Lộc vẫn còn lưu truyền những câu thơ về Trần Quốc Tuấn: “Sống Kiếp Bạc Thác Trần Thương Quê hương Bảo Lộc Chuyện kể rằng: Năm Canh Tý (1300) Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn xa giá về cố hương khi đến kho lương của nhà Trần ở Trần Thương (nay thuộc xã Nhân Đạo huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam) rồi thác ở đây. Năm đó ông 72 tuổi. 101

thể theo nguyện vọng của Người trước lúc lâm chung, triều đình đã lập 72 đám tang rước về bốn phía đánh lạc hướng không biết đâu là đám tang thật, mục đích để giấu mộ, phòng về sau giặc phương Bắc tìm thấy! í Rất lạ thay vào lúc nửa đêm dân làng hai bờ sông Châu thấy rực lên một thứ ánh sáng kỳ ảo hình chiếc quan tài bằng đồng trôi bồng bềnh giữa sông lúc ẩn lúc hiện, từ từ về phía ấp An Lạc. Người dân Bảo Lộc cùng các làng lân cận mang lụa điều làm cầu, đèn hương, cờ trống chật kín bờ sông xin được rước về nhưng đều không được. Hôm sau tại ấp An Lạc (vị trí lăng mộ hiện nay) trên gò đất cao nổi lên một gò đất mới hình một nấm mộ, mối đùn lên thành câm địa. Thấy việc kì lạ nhân dân trong vùng mang hương hoa đèn nến đến vái lạy. Hơn bảy trăm năm qua, trong tiềm thức dân gian vẫn coi đây là nơi yên nghỉ vĩnh hằng của người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. 102

nư sơ ĐỔ BÀI TR Í THỜ Tự TẠ I ĐỂN b ả o l ộ c . 1 Sơ đồ bài trí thờ tự Chú thích vị trí thờ tự tại đền Bảo Lộc. 1.2. tượng lính canh cửa, ở hai bên cửa hiên. 103

*Bàn thờ công đồng. 3. Bài vị để trên ngai, nội dung bài vị ghi: Trần triều hiển thánh, trác vĩ, trí trung đại nghĩa, long công vĩ tích, nhân vũ, Hưng Đạo Đại vương thần vị. 4. Nơi có bát nhang công đổng có chữ Bảo Lộc linh từ. 5. Tượng Trần Quốc Tuấn tước phong Hưng Đạo Đại vương đúc bằng đồng ngồi trong khám long đình ở gian giữa. 6. Tượng con cả Hưng Đạo vương tức Hưng Vũ vương Quốc Hiến (kỵ ngày 24/4). 7. Tượng Phạm Ngũ Lão, có bài vị cùng để trong khám. 8. Tượng Trần Hưng Đạo. 9. Bài vị thờ Nguyễn Chế Nghĩa để trên ngai. 10. Ngai để mũ thờ của Hưng Đạo Đại vương. 11. Bài vị có chữ Yết Kiêu (gia thần của Hưng Đạo Đại vương). 12. Bài vị có chữ Dã Tượng (gia thần của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn). 13. Tượng Trần Quốc Tuấn. 14. Tượng thầy dạy văn. 15. Tượng thầy dạy võ. 16. Bát nhang công đồng. 17. Tượng Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo Đại vương. 18. Tượng vợ ông Trần Quốc Tuấn (Trần Thi Anh tức Thiên Thành công chúa, kỵ ngày 28/9). 19. Tượng Thiên Đạo Quốc mẫu tên là Trần Thi Nguyệt kỵ ngày 1 tháng 6 104

20. Tượng Quyên Thanh (vợ Phạm Ngũ Lão). 21. Tượng Đại Hoàng (Nhân Tông hoàng hậu). Câu đối đại tự ca ngọi công đức của Trần Quốc Tuấn tại đền Bảo Lộc: Thử địa vi thánh phụ sở cư thiên cổ c ố truyền thang ấp xứ Kim thiên k ế tiền nhân chi vạn kiếp niên do lại lộc hương an. (Đất này nod thánh phụ ở năm xưa ngàn thuở vẫn nên thang ấp đấy, Ngày nay nối tiền nhân từng dựng đặt muôn năm nhờ cậy lộc hương đây) Đại tự khắc gỗ tại toà tiền đường: Đông A thượng phụ (Vị thượng phụ của nhà Trần) Chí trung đại nghĩa (Rất trung thành vì nghĩa lớn) Uy linh lẫm liệt Khải Định nguyên niên Vụ Bản huyện Hào Kiệt tổng Cao Phương x ã Giáp Nhất thôn Vụ Bình cung tiến. (Oai thiêng lừng lẫy) Khải Định năm đầu (1916) thôn Giáp Nhất xã Cao Phương tổng Hào Kiệt, huyện Vụ Bản, Vụ Bình kính cẩn dâng lên Chấn Nam thiên Bính Tuất niên đông phụng tạo. 105

Mộc ân đệ tử thượng nguyên Lê Xá Lê Đức Khiêm cung tiến. (Lừng lẫy dưới trời nam Chế tạo mùa đông năm Bính Tuất .. Mộc ân đệ tử xã Lê Xá huyện Thượng Nguyên là Lê Đức Khiêm kính cẩn dâng lên). Đền Bảo Lộc xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc trong những năm gần đây cũng tổ chức lễ khai ấn vào đêm 14 tháng giêng đó là việc làm theo lệ khai ấn ở phủ Thiên Trường xưa. Quả ấn của đền Bảo Lộc bằng đồng có niên đại từ thòi Nguyễn, hình vuông, tay nắm đúc hình 2 con rồng quả ấn cân nặng 3,lkg trong khắc chữ nổi: “Nam Lộc linh từ. Hưng Đạo Đại vương chi bảo”. Dịch: Đền thiêng ở ấp Bảo Lộc trấn Sơn Nam. Dấu ấn của Hưng Đạo Đại vương Vào ngày 20 tháng 8 âm lịch và ngày 14 tháng giêng hàng năm du khách về dự lễ hội đền Bảo Lộc dâng hương đức Thánh Trần có thể hình dung được phần nào về lịch sử thời Trần thế kỷ XIII, XIV, có thể nghĩ về các quan hệ vua và tôi, tổ tiên và con cháu, thày và trò, cha mẹ và con cái, con trai và con rể, con đẻ và con nuôi, chủ tướng và bộ tướng, tướng lĩnh và binh sĩ, bộ máy hành chính. Đổng thời cũng có thể cảm nhận được sáu bảy thế kỷ vừa qua lòng dân vẫn ngưỡng vọng các danh nhân lịch sử, danh nhân văn hoá của quê hương đất nước thời Trần. 106

TƯỢNG Đ À I TRẦN HƯNG ĐẠO Đây là một công trình thể hiện sự quan tâm của tỉnh, thành uỷ, UBND tỉnh và thành phố Nam Định thực hiện ước mơ của nhân dân và du khách về tưởng niệm các vua Trần, các Thái sư, các trọng thần có công xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt (thế kỉ XIII). Đặc biệt Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn - một anh hùng dân tộc có công lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Năm 2000 nhân kỉ niệm 700 năm ngày mất của Người, Đảng bộ quân và dân tỉnh Nam Định đã tổ chức long trọng lễ dựng tượng Quốc Công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn với chất liệu bằng đồng. Tượng cao 10m22, phần bệ cao 6m50 đặt tại một vị trí đẹp của quảng trường 3 - 2 thành phố Nam Định. Tượng đài biểu thị cho sức mạnh vươn lên của tinh thần dân tộc, của lòng dân đối với một vị tướng Việt Nam thế kỷ XIII đứng giữa quảng trưòmg 3 - 2 , tay phải giơ cao cuốn binh thư, còn tay trái để trên đốc kiếm. Một chiến công hiển hách của quân dân Đại Việt và Quốc Công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là trận Bạch Đằng giang được lịch sử ghi nhận là một trong những trận chiến lừng danh trong lịch sử nhân loại. Những lớp sóng bạc đầu phía sau thân tượng đài cùng 18 cọc Bạch Đằng ở thảm cỏ bên phải và bên trái tượng đài gợi cho người đời nay và muôn đời con cháu mai sau về 107

một thời oanh liệt của ông cha ta trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Tượng đài Quốc Công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn tại quảng trường 3 - 2 thành phố Nam Định là một tượng đài hoành tráng, đậm đà bản sắc dân tộc. Phần tượng đồng được làm 9 khoanh: khoanh nặng nhất 2 tấn 8, khoanh nhẹ nhất 1 tấn 8, với tổng trọng lượng của tựơng đài là 24 tấn, khuôn viên đặt tượng rộng Iha. Có thể nói đây là một công trình văn hoá hoành tráng, có tầm cỡ thế kỉ, là một trong những điểm thuộc quần thể di tích văn hoá Trần tại Nam Định. 108

Tượng đài Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn dựng tại quảng trường 3-2 thành phố Nam Định (Ảnh tư liệu)

Chùa Đệ Tứ phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định (Ảnh: Hoàng Văn Đồng)

CHÙA ĐỆ Tứ Thuộc khu dân cư Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định. Chùa Đệ Tứ có tên tự là “Đại Thánh Quán” được xây dựng ở phía tây bắc thôn Đệ Tứ, cách trung tâm thành phố Nam Định khoảng 2km vế phía đông. Từ khu di tích lịch sử - văn hoá đền Trần - chùa Tháp theo quốc lộ 10 qua cầu Vĩnh Giang đến ngã tư Cửa Kho rẽ trái khoảng 200m là đến chùa Đệ Tứ. Đây là một ngôi chùa xây dựng trên nền móng cung Đệ Tứ thuộc hành cung Thiên Trường được các vua Trần xây dựng vào thế kỷ XIII dành cho các vương phi, công chúa, hoàng thân quốc thích nghỉ ngơi. Sách Đại Nam nhất thống chí viết; “Chùa Đại Thánh Quán ở xã Đệ Tứ, huyện Mỹ Lộc là hành cung thứ tư (Đệ Tứ hành cung) do nhà Trần xây dựng. Sau dân sở tại dùng chữ Đệ Tứ làm tên xã, lại dựng chùa ở đấy”... Chùa thờ phật, thờ Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật và tướng quân Phạm Ngũ Lão là những danh tướng, danh thần nổi tiếng có công trong 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Câu đối ghi lại địa danh Đệ Tứ thuộc hành cung thiên Trường xưa: 109

“Đệ Tứ, dữ Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, đ ế vương cung hiển tích. Trang Ngoại, cập Trang Thượng, Trang Trung, Trang Hạ cung hậu điện dữ linh ” Tạm dịch: “Đệ Tứ cùng Đệ Nhất, Đệ Nhì, Đệ Tam cung của đế vương còn rõ dấu Trang Ngoại vói Trang Thượng, Trang Trung, Trang Hạ đất xưa công hầu vẫn còn thiêng” . Đệ Tứ cũng khá thuận tiện về giao thông đường thủy và đường bộ, dấu vết dòng sông cổ ở hai phía đông, tây làng có thể thông sang Vĩnh Giang hoặc thông sang sông Vị Hoàng. Vết tích của một con đường đi bộ từ các thôn Đệ Nhất, Đệ Nhì, Phương Bông thuộc xã Mỹ Trung chạy sang đây và dấu vết của con đường “Chúa Ngự” đền Trần đi sang vẫn còn rất rõ. Dấu vết thời Trần ở Đệ Tứ khá rõ nét với trung tâm là khu vực chùa Đại Thánh quán. Đây là nơi có phế tích cung điện thời Trần như nội dung câu đối ở chùa đã ghi: “Địa hoán Trần cung vạn cổ danh lam lưu thắng tích Di đà bảo hiệu, thập phương chư hiệu tất xưng danh ” Tạm dịch; (Hàng vạn năm còn thắng tích trên đất cung điện thời Trần Bảo hiệu chốn phật đường của thập phương chính là đây) Tại khu vực chùa có nơi gọi là “Ao Kho” với truyền thuyết là nơi kho tàng của nhà Trần, rồi đình Đim là nơi nhân dân tìm 110

thấy những mảng thóc cháy, Nền Quán là nơi đã phát hiện thấy một con sóc đá thời Trần, một số đầu rồng, đầu chim phượng, mô hình tháp đất nung... Phía nam chùa có khá nhiều đá chân tảng chạm bông hoa sen nở rộ, còn cả đôi sóc đá là tác phẩm điêu khắc công phu của thời Trần. Phía bắc chùa là cánh đồng mang tên “Thượng Viên” tức là Vườn Trên, phía đông chùa là khu vực ao có nhiều đá hộc, và loại đá cuội khó tìm với nhiều mảnh gạch, mảnh gốm cổ. Rồi trên cánh đồng “Viên VT’ tức là đuôi vườn ở phía nam chùa với các khu “Cồn Xăng”, “Mả Nghệ” còn vương lại trên và trong lòng đất, những bao nung là phương tiện để bảo vệ đổ gốm, khi nung trong lò. Những hòn đá chân tảng có chạm hoa sen, nhiều mảnh gốm cổ thời Trần, nhiều mảnh ngói... có thể đây là nơi sản xuất vật liệu và làm gốm phục vụ cho sinh hoạt của hoàng thành. Trên cơ sở địa thế cũng như dấu vết thời Trần, ở Đệ Tứ tháng 12 năm 1975 Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam và Ty văn hóa Nam Hà đã tiến hành đào hố thám sát tại sân chùa, đã đào trúng những viên gạch hoa lát thành hàng như một sân gạch hoa cổ, kết quả này đã dẫn đến quyết định khai quật khảo cổ học tại khu chùa này để nghiên cứu di tích thời Trần. Đợt khai quật này tiến hành từ ngày 23 - 1 - 1976 đến ngày 18 - 3 - 1976. Hố khai quật hoạch định tại sân chùa Đệ Tứ và má ngoài cổng phía nam chùa. Diện tích khai quật là phía nam chùa. Ngoài ra còn đào một hố thám sát 2m X Im trong phạm vi chùa. Kết quả khai quật như sau: 111

Dưới độ sâu từ 0,5m đến l,lm do lớp đất dầy mỏng khác nhau, ngoài lớp đất canh tác, lớp mảnh gạch ngói hiện đại, dưới đó là lớp chứa đựng nhiều hiện vật của phế tích như mảnh gạch, ngói, mảnh lá đề, mảnh đầu rồng, đầu chim phượng đất nung. Đặc biệt đã tìm thấy công trình kiến trúc; - Lớp gạch vỉa như bó thềm nhà. - Lớp gạch mỏng như đá kê chân cột - Ba mảng sân lát bằng gạch vuông có hoa văn và lát bằng gạch vuông trơn, kích cỡ, họa tiết có khác nhau. *Nghiên cứu p h ế tích này, có th ể xác định như sau: Đây là phế tích của công trình kiến trúc cổ, được xây dựng chếch bắc 15 độ. Từ ngoài vào trong có các hạng mục công trình: + Sân mặt trên lát bằng gạch vuông có cạnh là 34cm, loại gạch hoa này màu sắc đỏ tươi, họa tiết là những hoa dây cách điệu. + Tiếp đó là một nền nhà hình vuông. + Sau nền nhà này là sân giữa, sân này lát gạch vuông có cạnh lớn hơn 30 cm. Họa tiết trang trí là hoa cúc, đường triện chạy xung quanh, loại họa tiết này công phu hơn, bề thế hơn. + Tiếp đến là một nền nhà hình chữ nhật, rồi đến sân sau lát bằng gạch vuông trơn, chỉ lẫn vào ít viên gạch vuông có hoa văn. Điều lưu tâm ở đây là hai sân gạch hoa, tuy hai sân này không còn đầy đủ, nhưng với mảng lớn rất đẹp, được lát theo kiểu chéo góc đặc biệt, khác hẳn với lối lát bình thường. Kỹ thuật nung gạch rất chín, màu sắc đỏ tươi, chất liệu mịn màng, 112

họa tiết phong phú, đường nét mềm mại, tinh tế... thể hiộn tài nghệ đồng thời thể hiện giá trị, tầm vóc của sân rồng từ đó mà suy ra sự kỳ công của cung điện. Các nền nhà đều có nhánh thông sang hai bên, nhánh đó có lẽ là nhà cầu, nối công trình phụ với cung điện chính. Ngói lọp ở đây là ngói mũi hài nhưng có cả hai loại là mũi hài đcm và mũi hài kép. Cạnh đó còn có những hiện vật trang trí trên bờ nóc bờ chẩy là những hình chim phượng, hình rồng, hình lá đề có lưỡng long chầu nguyệt gắn trên ngói nóc cong cong đủ biết sự kiến tạo cung điện về phần mái như thế nào. Ngoài ra phế tích còn một số hiện vật gốm vỡ như bát đĩa, men ngọc, men trắng, men lưcm, cách làm và họa tiết cầu kỳ đẹp đẽ cũng minh chứng cho trình độ chế tác cũng như sự hoành tráng của cung điện xưa. Chùa Độ Tứ là một di tích khảo cổ học giúp cho viộc nghiên cứu các cung điộn phủ đệ thời Trần. Công trình kiến trúc chùa hiộn nay được xây dựng trên một khu đất cao ráo rộng 3000m^ thiết kế kiểu nội công ngoại quốc gồm: Bái đường 5 gian 2 chái, tam bảo 4 gian và thượng điện 3 gian. Bái đường 5 gian, bộ khung làm bằng gỗ lim, 6 bộ vì kèo gia công theo phong cách chồng rường giá chiêng, bẩy tiền bẩy hậu. Tại đây, trên các cấu kiện kiến trúc đều soi chỉ tạo dáng má chai và trang trí hoạ tiết lá lật. Để mở rộng không gian nơi thờ cúng, toà tiền đường trốn một hàng cột cái. Theo nội dung dòng chữ Hán khắc trên Thượng lương thì công trình được trùng tu vào năm Thành Thái 18 (1906). 113

Tam bảo 4 gian xây quay dọc nối mái với tiền đường và thượng điộn. Bộ khung công trình làm bằng gỗ lim kiểu bốn hàng chân cột, vì kèo kiểu chổng rường bẩy kẻ. Tại các nghé kẻ có chạm lá lật công phu. Toà thượng điện 3 gian xây dựng đon giản kiểu thu hồi bít đốc mái lợp ngói nam, vì kèo quá giang bằng gỗ lim. Ngoài công trình chính tổng thể chùa Đệ Tứ còn có các hạng mục như Nhà thờ tổ, nhà khách tăng phòng, phủ mẫu, hành lang và hệ thống tường bao tạo thành kiểu chữ quốc khép kín. + Công trình phủ thờ mẫu xây hìiứi chữ điiưi gồm: Tiền đường 3 gian, hậu cung 2 gian. Bộ khung tiền đường làm bằng gỗ lim vì kèo chồng rường bẩy tiền bẩy hậu. Toà hậu cung 2 gian khung lim bốn hàng chân cột vì kèo mê cốn. Tất cả các hạng mục công trình kiến trúc của chùa tuy đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần, lần gần đây nhất năm 2006 - 2007 rứiưng vẫn giữ được phong cách kiến ưúc truyền thống: Bộ khung bằng gỗ lim, mái lợp ngói nam, phần nền lát gạch Bát Tràng. Hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim được làm theo kiểu thượng song hạ bản đặt trên ngưỡng bằng gỗ có chân quay. Trước cách mạng tháng 8, hàng năm từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 8 hàng năm đình chùa Đệ Tứ tổ chức lễ hội. Trong hội có tổ chức đua thuyền. Trong những năm gần đây chùa Đệ Tứ tổ chức lễ hội từ 15 đến 20 tháng 8 như lễ hội ở đền Trần - chùa Tháp, phưcmg Lộc Vượng, đền Bảo Lộc xã Mỹ Phúc... Theo thống kê, hiện nay chùa Đệ Tứ còn giữ: - Câu đối: 06 114

- Đại tự; 13 - Bia đá: 06 (niên hiệu Tự Đức 34 (1881), Thành Thái 13 (1901), bia Duy Tân 10 (1916), Khải Định 4 (1919), Khải Định 7 (1922). - Chuông: 01, niên hiệu Tự Đức 20 (1876) - Tượng thờ: 28 Quần thể di tích văn hoá thời Trần đang được Nhà nước tập trung đầu tư tôn tạo mở rộng đường giao thông và cải tạo cảnh quan môi trường. Tương lai di tích chùa Đệ Tứ sẽ có nhà trưng bày cổ vật thời Trần đã tìm thấy ở đây. Sân lát gạch hoa trước sân chùa cũng sẽ được khai quật lại và làm nhà che mưa che nắng để phục vụ đón khách tham quan. Do vậy chùa Độ Tứ sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy các giá trị lịch sử - văn hoá trong quần thể di tích Trần ở Nam Định. 115

Phần II MỘT S ố DI TÍCH THỜ CÁC VUA TRẦN VÀ CÁC VỊ DANH TƯỚNG, DANH THẦN N ổ l TIẾNG Đ ÌN H B Á I Thuộc thôn Bái, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Đình Bái nằm trong một khuôn viên chật hẹp, canh hồ Truyền Thống, thuộc phường Lộc Vượng. Từ đường Trần Hưng Đạo theo đường vành đai hồ Truyền Thống khoảng 300m là tới di tích. Đình Bái thờ tướng Lư Cao Mang (1248 - 1328). ồ n g là một trong những vị tướng giỏi dưód quyền của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đã có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Làng Bái xưa là nơi tướng Lư Cao Mang chiêu mộ dân binh, huy động vật lực lập phòng tuyến bảo vệ hành cung Thiên Trường và hoàng tộc nhà Trần. Quy mô kiến trúc đình Bái hiện nay rất nhỏ, dựng kiểu chữ đinh gồm 2 toà: Tiền đường và cung cấm. Toà tiền đường 3 gian, bộ khung bằng gỗ lim bốn hàng chân cột, vì kèo chồng rường câu đầu kẻ truyền. Phần hiên di tích đổ mái bằng, trên 116

hiên đắp trang trí hoạ tiết lưỡng long chầu nguyột. Cung cấm 2 gian làm kiểu tiền đao hậu đốc, mái lợp ngói nam. Theo thống kê, đình Bái còn lưu giữ được: - Câu đối: 02 - Đại tự: 01 - Tượng thờ: 06 - ĐỒ thờ khác: 24 Một năm di tích có 2 ngày lễ. Mồng 3 tháng 3 là lễ Mẫu. Ngày 10 tháng 11 là ngày kỵ thành hoàng Lư Cao Mang. Cả 2 ngày lễ diễn ra với quy mô nhỏ, dân làng tổ chức dâng hưomg, tế lễ. 117

CHÙA CẢ Số 174 Hàn Thuyên, phường Vỵ Xuyên, thành phố Nam Định. Từ trung tâm thành phố Nam Định (quảng trường 3 - 2 ) theo đường Hùng Vương khoảng 300m, rẽ phải theo đường Hàn Thuyôn khoảng 700m là tód di tích. Theo “Thành Nam xưa” của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Lý thì tại chùa có một quả chuông niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6 thời Mạc Phúc Nguyên (1553) có ghi lại lịch sử hình thành ngôi chùa như sau: Chùa trước đây xây dựng ở phố Bến Ngự, đến thời Mạc Đăng Chính (1530 - 1539) nước sông Vị Hoàng dâng cao, bờ sông bị lở, có người họ Trần ở đất làng Vị Hoàng đã chuyển ngôi chùa về một khoảng đất rộng ở vị trí hiện nay. Theo nội dung văn bia hiên dựng tại tam bảo thì chùa có tên chữ là “Thánh Ân tự” , được xây dựng từ thời Trần, là nơi tu hành của một số hoàng phi, công chúa thời Trần. Hiện nay chùa thờ Riật và là trụ sở của Giáo hội Phật giáo tỉnh Nam Định. Chùa trước đây kiến trúc theo kiểu chữ đinh, mặt quay về phía Tây. Đến thời Nguyễn chùa được trùng tu lại theo kiểu tiền chữ nhất hậu chữ đinh: Bái đường 5 gian, Trung đường 7 gian, tam bảo 5 gian. Ngoài ra chùa còn có một số hạng mục: Nhà tổ 5 gian, hành lang mỗi bên 8 gian. 118

Chùa hiện nay đã được xây mới hoàn toàn với chất liệu bê tông cốt thép theo kiểu chữ đinh hai tầng tám mái. Theo thống kê, chùa Cả hiện còn lưu giữ được: - Câu đối: 03 - Đại tự: 04 - Tượng thờ: 07 - Đồ thờ khác: văn bia 26, khánh đồng 01, chuông đồng 02. Lễ hội truyền thống: Chùa tổ chức theo các ngày lễ trọng của Phật giáo trong năm Ngày lễ Phật đản (1 5 -4 ), ngày lễ Vu Lan (15 - 7) và các ngày sóc (mồng 1), ngày vọng (ngày 15) hàng tháng. 119

CHÙA CÔI SƠN (Chùa Đệ Tam) Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến cầu Viềng xã Mỹ Phúc (5 km), đến đây rẽ trái theo đường trục xã khoảng 500m, tiếp tục rẽ phải qua cánh đổng lúa 200m là tới di tích. Chùa Đệ Tam nằm ở phía tây bắc thôn Độ Tam xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc giữa cánh đồng, xa khu dân cư. Địa điểm xây dựng chùa liên quan đến cung Độ Tam thuộc hành cung Thiên Trường xưa của nhà Trần. Chùa thờ Phật. Tương truyền, dưới thời Trần, chùa là nơi tiếp nhận và nuôi dưỡng con em của các binh sĩ tử trận trong kháng chống quân xâm lược Nguyên - Mông nên có tên gọi là Cồi Sơn tự. Tổng thể công trình kiến trúc của chùa gồm nhiều hạng mục phân bổ như sau: Chùa chính, nhà tổ, phủ mẫu, nhà khách. Các hạng mục trên được xây dựng trên một khuôn viên rộng. Chùa chính xây kiểu chữ đinh gồm: Tiền đường và tam bảo. 5 gian tiền đường xây cuốn vòm, trước hiên tiền đường là gác chuông xây 2 tầng 8 mái. Tam bảo 2 gian, bộ khung bằng bê tông kiểu bốn hàng cột, mái bê tông gắn ngói nam. 120

Phủ mẫu xây kiểu chữ đinh quay về hướng đông gồm: Tiền đường 3 gian bộ vì bằng gỗ lim kiểu quá giang kèo cầu. Cung cấm 1 gian xây cuốn vòm, mái gắn ngói nam. Nhà tổ xây quay hướng tây nam kiểu chữ đinh: Gồm tiền đường 3 gian và hiên đổ mái bằng, cung cấm 3 gian xây cuốn. Nhà khách 5 gian, 3 gian giữa vì kèo quá giang bằng bê tông, 2 gian bên đổ mái bằng, hiên tây. Theo thống kê, Chùa Đệ Tam còn lưu giữ được: 02 câu đối; 02 bức đại tự; 19 pho tượng thờ; 02 quả chuông (1 có niên hiệu Bảo Đại 17 (1942), 1 chuông mới). Lễ hội truyền thống và các sinh hoạt văn hoá dân gian tại di tích: Tổ chức theo các ngày lễ trọng của Phật giáo trong năm: Ngày lễ Phật đản là (15 - 4), ngày lễ Vu Lan (15 - 7) và các ngày sóc (mồng 1), ngày vọng (15 hàng tháng), nhà chùa và nhân dân tổ chức cúng âm hồn binh sĩ nhà Trần đã tử trận. 121

ĐÌNH CẢ (Đình Chạ, đinh Đệ Nhất) Đình Cả nằm trên địa bàn thôn Đệ Nhất, xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, địa điểm xây dựng cung Đệ Nhất thuộc hành cung Thiên Trường xưa của nhà Trần. Do vậy trong tương lai di tích đình Cả sẽ cùng vói các di tích: Đền Trần, chùa Tháp, đền Bảo Lộc, chùa Đệ Tứ tạo thành một quần thể tham quan du lịch, góp phần phát huy giá trị lịch sử, giáo dục truyền thống của địa phương. Từ thành phố Nam Định đi theo đường Trần Thái Tông (đường 38A cũ) lên chợ Viềng xã Mỹ Phúc (5 km). Đến đây rẽ phải theo đường liên xã về cầu Bơi, sau đó rẽ trái khoảng 300m là tói di tích. Đình Cả thờ Dũng Dược đại vương, ô n g là vị tướng có công phò giúp Hùng Duệ vương đánh giặc, giữ nước. Sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã xây dựng đền thờ ngay trên khu đất lúc sinh thời ông cùng gia đình sinh sống và lập nghiệp để tri ân công đức. Đặc biệt, đình Cả còn là nơi phối thờ Long Khánh đại vương, Uy Linh đại vương. Theo ngọc phả và truyền thuyết địa phương thì Long Khánh đại vương tên thật là Phạm Ngộ ngưòi huyện Giáp Sơn (Hải Dương), ô n g đã cùng anh trai là Phạm Mại theo giúp nhà Trần lập nhiều chiến công trong cuộc kháng 122

chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, từng được cử giữ chức Đồng tri thượng thư Tả ti sự. Khi nhận nhiệm vụ chỉ huy đạo quân bảo vệ phía đông hành cung Thiên Trường, Phạm Ngộ đã tuyển chọn hai con trai của ông Dương Thành ở trang Đệ Nhất làm tướng tả, hữu trông nom việc quân, ông còn cho lập ba đồn binh tạo thế chân vạc trấn giữ vùng đất phía bắc phủ Thiên Trường, giúp nhân dân Đệ Nhất và các làng xã lân cận xây dựng cuộc sống bình yên, no ấm. Những năm cuối đời, Thượng tướng Phạm Ngộ và hai vị tướng họ Dương về sống tại trang Đệ Nhất. Sau khi ba ông mất, nhân dân địa phương cho lập ba ngôi đình: Đình Tây thờ Thượng tướng Phạm Ngộ (duệ hiệu là Long Khánh đại vương), đình Đông và đình Trần thờ hai vị tướng họ Dương (duệ hiệu là: Vĩnh Hựu đại vương và Uy linh đại vương). Sau này do thời gian và chiến tranh tàn phá, ba ngôi đình này đều đã không còn nên nhân dân Đệ Nhất đã rước bài vị, tượng ba ông về phối thờ tại đình Cả, Công trình kiến trúc của đình Cả gồm 3 toà làm theo kiểu tiền chữ nhất hậu chữ đinh. Toà tiền đường có 5 gian khung lim kiểu bốn hàng chân CỘ L Hệ thống vì kiểu chồng rường. Công trình được tu sửa lớn vào năm Thành Thái tứ niên (1892). Mặc dù qua nhiều lần tu sửa nhưng hên các cấu kiện kiến trúc gỗ của công trình vẫn còn bảo lưu nhiều giá trị nghệ thuật thời Hậu Lê thế kỷ x v n - x v in . Toà trung đường gồm 5 gian bộ khung bằng gỗ lim bốn hàng chân cột, hệ thống vì kèo gia công kiểu chồng rường bẩy tiền, bẩy hậu. Toà trung đường được trùng tu tôn tạo năm 123

Thành Thái 11 (1899). Trên các cấu kiện kiến trúc của công trình đều được chạm khắc các đề tài “Lá lật”, “lá hoả” công phu. Cung cấm đình Cả xây quay dọc giao mái vói toà trung đường, và chia thành hai cung, cung ngoài 3 gian, cung trong 2 gian. Bộ khung công trình làm kiểu chồng rường, bốn hàng chân cột. Đây là hạng mục kiến trúc còn giữ nhiều mảng chạm khắc mang đậm dấu ấn văn hoá thế kỷ XVIII góp phần khẳng định giá trị nghệ thuật cho tổng thổ công trình kiến trúc. Tượng Dũng Dược đại vương đặt tại khám giữa, gian chính tẩm được làm bằng gỗ, khám cao l,90m, tỷ lệ cân đối dáng vẻ oai phong. Các họa tiết trên mũ, áo, đai rồng cầu kỳ với các đề tài long chầu, phượng múa, sóng nước hoa chanh... Tượng đặt trong long ngai cao l,3m tạo dáng chắc khoẻ với các mảng chạm mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX ). Hai khám thờ hai bên đặt tượng Long Khánh đại vương (tướng quân Phạm Ngộ) và Uy Linh đại vương. Hai pho tượng này cao l,63m ngồi trên ngai rồng vói các hoạ tiết được chạm khắc tinh xảo. Hàng năm vào ngày kỵ của các vị thành hoàng và công chúa Quang Mỹ, nhân dân địa phương đều tổ chức tế lễ theo nghi thức truyền thống. Ngày 15 tháng 4 là dịp kỷ niệm ngày sinh của Thánh cả Dũng Dược đại vương ra đời, làng mở hội trong 3 ngày: 14, 15, 16. Trong dịp này, phần lễ có nghi thức dâng dương, rước, tế, phần hội có đánh cờ, kéo co, đấu vật, leo cầu kiều, bắt vịt, đặc biệt có tổ chức hát chèo. 124

ĐÌNH ĐÔNG ĐỆ TAM Từ thành phố Nam Định theo đưcfng Trần Thái Tông đến cầu Viềng xã Mỹ Phúc (5 km), từ đây theo đường 38A đi Hữu Bị khoảng 200m là tói di tích. Đình nằm về phía đông của thôn Đệ Tam, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc nên gọi là đình Đông. Theo các nguồn sử liệu vào thời Trần, Đệ Tam là một trong bốn cung điện được các vua Trần xây dựng giành cho các vương phi, quý tộc sinh sống. Do vậy địa điém xây dựng đình Đông cũng nằm trong khu vực có liên quan đến cung Đệ Tam thuộc hành cung Thiên Trường xưa của nhà Trần. Hiện nay, di tích đình Đông nằm ở vị trí có nhiều di tích đã xếp hạng như: Đền - chùa Lựu Phố nơi thờ Thái sư Trần Thủ Độ, đình Cả Độ Nhất, chùa Đệ Nhất (xã Mỹ Trung) nơi thờ các danh tướng của nhà Trần. Đình Đông Đệ Tam nằm sát đường 38A đi Lý Nhân - Hà Nam có nhiều điều kiện để phát huy giá trị. Căn cứ vào ngọc phả, sắc phong lưu giữ tại di tích, đình Đông Đệ Tam thờ Sứ quân Trần Lãm (Trần Minh Công) và tướng Trần Dũng Lược (hiệu là Dũng Lược đại vương), người con của quê hương Đệ Tam. Việc thờ tự tại di tích xuất phát từ ý tri ân công đức tới Sứ quân Trần Lãm cùng với tướng Trần Dũng Lược đã về đất Đệ Tam xưa chiêu mộ dân binh, huy động sức ngưòi, sức của theo giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước ở thế kỷ X. 125

Địa điểm xây dựng đền nằm trong cung Đệ Tam thuộc hành cung Thiên Trường xưa. Hiện nay tại di tích còn lưu giữ được một số hiện vật như: Đầu rồng đất nung, gạch, ngói ... mang phong cách nghệ thuật thời Trần. Đình được xây dựng theo kiểu tiền chữ nhất hậu chữ đinh, mặt quay về hướng nam trong một khuôn viên rộng, kề sát đường 38A đi Hữu Bị. Toà tiền đường có kết cấu ba gian 2 chái, bộ khung bằng bê tông kiểu kèo cầu quá giang, mái gắn ngói nam, nền lát gạch đỏ 30 X 30cm. Công trình vừa được dân làng phục dựng lại trên cơ sở dấu vết kiến trúc trước đây. Trung đường 3 giần bộ khung bằng gỗ lim, vì kèo quá giang cánh ác, nền lát gạch đỏ. Tại đây, trên tăm ván bưng của gian giữa còn có mảng chạm hoạ tiết tứ linh mang phong cách nghệ thuật thòi Hậu Lê thế kỷ XVIII. Cung cấm 1 gian bộ khung bằng gỗ lim, vì kèo chồng rường. Theo thống kê, đền Đông Đệ Tam còn lưu giữ được: 05 câu đối; một bức đại tự; 03 đạo sắc phong (Niên hiệu: Tự Đức 33 (1880), Khải Định 2 (1917), Khải Định 9 (1924)); pho tượng thờ Trần Minh Công với đặc điểm mất một tay). Đặc biệt tại đình còn lưu giữ được viên ngói nóc kiểu lá đề bằng đất nung mang phong cách độc đáo của thời Trần. Hàng năm vào ngày 9, 10 tháng 4 âm lịch, dân làng tổ chức lễ dâng hương, tế tưởng nhớ công lao của Trần Minh Công. Trước đây, có tổ chức rước kiệu và một số trò chơi dân gian như: Đánh vật, chọi gà, đánh cờ ... Ngày 9 tháng 9, dân làng tổ chức lễ kỵ hậu tưởng nhớ công đức của người bỏ tiền của xây dựng, tu sửa ngôi đình này. 126

ĐÌNH ĐỔNG MAI Đình Đồng Mai nằm ở đầu thôn Đồng Mai xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc gần đường đê Á Họd. Đình Đồng Mai là địa điểm có lịch sử xây dựng liên quan đến các danh tướng của nhà Trần. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến ngã ba đền Trần (3km), rẽ trái qua chùa Tháp, sau đó rẽ phải lên dốc Lốc (l,5km ). Đến đây rẽ trái theo đê Ất Hợi khoảng 500m, đến dốc Mai rẽ trái theo đường vào thôn khoảng 400m là tới di tích. Di tích đình Đồng Mai và địa bàn thôn Đồng Mai xưa có liên quan khá mật thiết đến cuộc đời và công tích của tướng Lư Cao Mang (1248 - 1328). ô n g là tuỳ tướng thân cận của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc TuỂùi, lập được nhiều công trạng đối vói đất nước. Trong cuốn “Ngọc phả Cao Mang Đại Vương công thần tướng thòi Trần” viết bằng chữ Hán, hiện còn lưu giữ tại đình Đồng Mai ghi rõ: Cao Mang sinh ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1248), là con ông Lư Thuỷ Châu và bà Hàn Thi Xuân, quê ở xã Cự Xá, huyện Đông Triều (Quảng Ninh). Ngay từ năm lên 6 tuổi Lư Cao Mang đã được cha mẹ tìm thầy giỏi cho học nên đã sớm trưcmg thành một người văn võ toàn tài. Năm Cao Mang 18 tuổi, ông được quan phủ Trần Thì 127

Kiến tiến cử vào chức Chu Tào tuỳ vận sứ. Sau đó, ông được Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chọn làm nha tướng, tuỳ tướng cận thần. Dưới trướng của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, ông đã cùng với các tướng Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyên Địa Lô chuẩn bị tốt cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Nguyên Mông dành thắng lợi. Năm 1269, Lư Cao Mang đã từng chỉ huy đoàn sứ bộ Lê Đà, Đinh Củng Viên sang nước Nguyên bàn việc biên giới. Ông còn chỉ huy bảo vệ các đoàn sứ bộ sang Nguyên vào các năm 1272, 1275. Cả ba lần sang Nguyên, ông đều bảo vệ an toàn cho sứ bộ. Lư cao Mang còn giúp Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật lên đạo Đà Giang để dẹp nội loạn và giúp Trần Thì Kiến giữ gìn bình an ở phủ Thiên Trường. Năm Tân Tỵ (1281) Cao Mang lấy vợ ngưctì xã Như Thức (nay là xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc), tên là Lê Thị Thuý. Sau đó ông được Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chọn làm tuỳ tướng thân cận. Từ đó, Hưng Đạo vương đi đâu đều có ông đi theo như việc tiếp đón sứ Nguyên, điều hành quân đội ở các lộ Hải Đông, chống giặc ở Gia Lâm, Trường Yên cũng như bảo vệ Thượng hoàng nhà Trần khi rút lui cũng như việc phản công..., việc nào ông cũng lập được nhiều công lớn. Giai đoạn kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba, Lư Cao Mang trực tiếp điều quân tại Yên Hưng, phản công địch giành nhiều thắng lợi. ô n g còn cùng vói Trần Địa Lô, Nguyễn Chế Nghĩa dưới sự chỉ huy của Phạm Ngũ Lão đánh giặc ở Bạch Đằng, trấn trị các vùng xung yếu như Lạng Sơn, 128

Chi Lăng; giúp Vưcfng triều Trần tổ chức kháng chiến tự vệ giành thắng lợi và giữ gìn bình yên trong đất nước. Trong thời gian làm quan và sinh sống tại phủ Thiên Trường, Lư Cao Mang có nhiều đóng góp với vưcmg triều Trần và quê hương. Đối với nhân dân Đồng Mai, Như Thức (xã Mỹ Thắng - Mỹ Lộc), ông khuyến khích nhân dân phát triển sản xuất, làm thuỷ lợi, tạo điều kiện cho dân xây đền - chùa, giữ gìn thuần phong mỹ tục nơi làng quê. Sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ông tại khu cư dinh cũ của gia đình ông ở làng Đồng Mai để phụng sự. Truyền thuyết ở Đồng Mai và các làng xã quanh đó có nhắc tới khu dinh trong, dinh ngoài rộng trên 2 mẫu (tại cánh đồng thôn Đồng Mai hiện nay) là nền nhà của tướng Lư Cao Mang. Tại đây, nhân dân địa phương đã phát hiện thấy nhiều mảnh sành, gạch, gốm, chân tảng đá, đầu rồng, đất nung thời Trần. Đây có thể là những phế tích của công trình kiến trúc cổ thời Trần, giúp cho việc nghiên cứu về thời Trần và quê hương nhà Trần toàn diện hơn. Đình Đồng Mai nằm chung với công trình chùa trên khu đất rộng với diện tích 2.235m^. Di tích làm kiểu chữ đinh gồm tiền đường 5 gian, cung cấm 2 gian. Theo dòng chữ Hán khắc trên thượng lương thì tiền đường được trùng tu vào năm Thành Thái 6 (1894). Bộ khung công trình làm bằng gỗ lim kiéu bốn hàng cột, hệ thống vì kèo gia công kiểu thượng chồng rường, hạ kẻ truyền, bẩy tiền, bẩy hậu. Trên các đầu xà, bẩy và các con rưcfng chạm hoạ tiết mai hoá long, lá lật đường nét mềm mại. 129

Toà cung cấm 2 gian, bộ khung làm kiểu quá giang kèo cầu, mái lợp ngói nam. Ban thờ chính giữa đặt ngai và bài vị thờ tướng Lư Cao Mang. Bên cạnh đình còn có công trình chùa, phủ mẫu có mặt bằng hình chữ đinh gồm: 7 công trình vói 18 gian lớn nhỏ tạo thành thế khép kứi bảo vệ công trình. Theo thống kê, đình Đồng Mai hiện còn lưu giữ được 03 câu đối; 02 bức đại tự; 65 đồ thờ. Đặc biệt tại di tích còn lưu giữ được bản thần tích viết vào năm Thành Thái 2 (1890), nội dung ca ngợi công đức của tướng Lư Cao Mang. Hàng năm tại di tích diễn ra những kỳ lễ hội sau: - 15 tháng 2 và 12 tháng 12 âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của thành hoàng Lư Cao Mang. - Ngày 9 tháng 3 tổ chức tế thần trong dịp này thường tổ chức trong 2 ngày. Ngoài việc tế lễ còn có rước nước từ sông Châu về đình để tế lễ cầu may, - Ngày 5 tháng 5 tổ chức lễ thượng điền. Ngày 25 tháng 10 lễ hạ điền. 130

ĐỂN HẬU BỔI (Đền Thái Sư) Đền Hậu Bồi tọa lạc trên khu đất cao ở cánh đồng “Vườn Nhiên” Thuộc thôn Hậu Bổi Đông, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, trước mặt là dòng sông Vĩnh và khu di tích lịch sử - văn hoá đền Trần - chùa Tháp. Do vậy, di tích đền Hậu Bồi hiện nay nằm trong khu vực có nhiều điều kiện để phát triển tiềm năng văn hoá du lịch trong quần thể di tích Trần ở Nam Định. Từ thành phố Nam Định, theo đường Trần Thái Tông, đến cầu đá Vĩnh Giang rẽ trái theo quốc lộ 10 khoảng 500m, sau đó rẽ phải qua chùa Phổ Minh, đến cầu Bùi rẽ phải theo đường trục xã khoảng lOOm là tới di tích. Đền Hậu Bồi thờ Thượng Tướng Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải (1240 - 1294) và vợ ông là Phụng Dương công chúa (1244 - 1291). Hậu Bổi cũng là một vùng đất có liên quan mật thiết đến cuộc đcd và sự nghiệp của Thái sư và phu nhân. Sách “Thái vi quốc tế ngọc ký” - phần ngọc phả nhà Trần cho biết: “Sau gia Miễu thì khu Lộc Quý dành cho Trung Vũ đại vương Thủ Độ, khu Thiên Bồi (Hậu Bồi) dành cho Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, khu Bảo Lộc dành cho Hưng Đạo vương Quốc Tuấn. Tất cả đều đặt dân tạo lệ, ấp thang mộc”. Như vậy, ngoài khu vực Thái ấp Độc Lập (Cao 131

Đài - Mỹ Thành), khu vực Thiên Bồi (Hậu Bồi - Mỹ Phúc) cũng có thể coi là đất thang mộc mà vua Trần ban cấp cho Thái sư Trần Quang Khải và phu nhân. Nhưng có thổ, việc ban cấp đất ở vị trí sát hành cung Thiên Trường cho các quý tộc quan lại cao cấp còn mang những ý nghĩa khác. Chúng ta biết rằng, thái ấp Độc Lập (Mỹ Thành - Mỹ Lộc) của Thái sư Trần Quang Khải cách hành cung Thiên Trường (Lộc Vượng - thành phố Nam Định) khoảng 10 km về phía nam. Tư liệu lịch sử và truyền thuyết địa phương cho biết, vì là người nắm giữ cương vị trọng thần trong triều nên Thái sư Trần Quang Khải thường xuyên không có mặt tại Độc Lập. Người chủ nhân thực sự cai quản và quán xuyến mọi công việc nơi thái ấp là Phụng Dương công chúa. Mỗi khi Thái sư Trần Quang Khải và các quan lại cao cấp khác tới hành cung Thiên Trường yết kiến Thái thượng hoàng và vua để bàn việc nước cần phải có nơi nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Vì vậy rất có thé Thái sư đã lập tư diiưi tại đất Thiên Bồi (Hậu Bổi) để ở mỗi khi hội triều. Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết địa phương. Các cụ cao niên trong làng Hậu Bổi còn truyền lại, noi dựng đền chính là tư dinh của Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Và hướng của ngôi đền cũng trùng vód hướng của ngôi nhà xưa kia Thái sư đã chọn trông về cung Trùng Quang, Trùng Hoa để bày tỏ lòng trung hiếu của mình đối với vua cha và vương triều Trần. Công trình kiến trúc đền Hậu Bồi được xây dựng theo kiểu chữ nhị gồm 2 toà: Tiền đường và cung cấm. Toà tiền đường 5 gian 2 chái, dài 15,7m, mái lợp ngói nam. Bộ khung công trình 132

làm bằng gỗ lim theo kiểu 4 hàng chân, vì nóc kiểu chồng rường giá chiêng, vì nách kiểu kẻ trường bẩy tiền, bẩy hậu. Hiện nay trên thượng lương của tiền đường ghi dòng chữ: “Duy Tân thập bát niên thập nhất nguyệt”, có nghĩa thượng lương công trình đặt vào tháng 11 năm 1914. Như vậy, tiền đường ngôi đền đã được tu sửa vào năm 1914. Cung cấm xây trên nền đất cao trội hơn tiền đường 30cm nối mái với tiền đường. Bộ khung thiết kế kiểu kèo cầu trốn cột, riêng phần hiên tạo dáng mê cốn bẩy tiền. Trên các tâừn ván mê của gian giữa chạm kiểu triện tàu lá dắt, hai gian bên chạm hoạ tiết phượng hàm thư. Theo thống kê, đền Hậu Bồi còn lưu giữ được 02 bức đại tự; 12 đạo Sắc phong (Từ niên hiệu: Thiệu Trị 6 (1846) đến niên hiệu Duy Tân 9 (1924). Đồ thờ khác: 62 trong đó tiêu biểu nhất là tượng thờ Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải và Phụng Dương công chúa... Hàng năm tại di tích diễn ra các^kỳ lễ hội; - Lễ khai ấn 14, 15 tháng giêng, dân làng tổ chức lễ rước sang đền Trần để cùng tham gia lễ hội. - Ngày 3 tháng 7, ngày 22 tháng 3 âm lịch là ngày kỵ giỗ của Thái sư Trần Quang Khải và công chúa Phụng Dương, tại đền Hậu Bồi, nhân dân địa phương tổ chức linh đình để tưởng nhớ công lao của các vị thần. Ngoài nghi thức, dâng hương, rước, còn có nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ như: Hát chèo, múa “Bài bông” tương truyền do Thái sư sáng tác mừng đất nước thoát khỏi nạn ngoại xâm. 133

CHÙA HÓP (Tiên Sa tự) Chùa Hóp nằm ở vị trí đầu thôn, cạnh đường trục xã, thuộc thôn Hóp, xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến cầu đá Vĩnh Giang, rẽ trái theo quốc lộ 10 khoảng 500m, sau đó rẽ phải về cầu Bùi (xã Mỹ Phúc), Đến đây, đi tiếp theo đường liên xã khoảng 2km sau đó rẽ trái theo đường vào thôn khoảng 200m là tới di tích. Chùa thờ Phật. Chùa xây quay về hướng nam ttong khuôn viên rộng gồm nhiều hạng mục: + Chùa chúủi dựng kiểu chữ đinh gồm: Tiền đường, tam bảo. Ba gian tiền đường có bộ vì quá giang chồng rường bẩy tiền. Tam bảo 2 gian xây cuốn vòm. + Nhà tổ 3 gian khung gỗ lim bộ vì chồng rường. + Nhà khách xây dựng hai bên tiền đường chùa chính, có 2 phòng đổ mái bằng nền lát gạch men. Theo thống kê, hiện nay chùa Hóp còn lưu giữ được: - Câu đối: 04 - Đại tự; 03 - Chuông: 01, niên hiệu Bảo Đại 8 (1983) - Tượng thờ: 16 Tổ chức theo các ngày lễ trọng của Phật giáo trong năm: Ngày lễ Phật đản ( 1 5 - 4 ) , ngày lễ Vu lan (15 - 7) và các ngày sóc (mồng 1), ngày vọng (ngày 15) hàng tháng. 134

ĐÌNH KÊNH Đình Kênh còn có tên gọi là đình Động Kính thuộc thôn Kênh, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Di tích kề sát đường Kênh gần đô thị mới Hoà Vượng nên có nhiều điều kiện để phát huy giá trị. Từ thành phố Nam Định theo đưòfng Điện Biên khoảng Ikm, rẽ phải theo đường Kênh Ikm là tới di tích. Đình Kênh thờ bài vị Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Ông là con trai thứ ba của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng là vị tướng lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285) và thứ 3 (1288). Cuộc đời của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng gắn với trọng trách trấn giữ vùng cửa Suốt (Cẩm Phả - Quảng Ninh) nơi địa đầu đông bắc của tổ quốc. Sách “Trần triều hiển thánh chính kinh tập biên” cho biêt: Trần Quốc Tảng ra trấn giữ vùng cửa Suốt từ sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285) vód lý do ông đã làm phật ý cha “không theo đúng đạo làm con”. Năm 1286, trước khi cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ ba nổ ra, ông đã xin về triều lập công chuộc tội. Sau chiến thắng giặc Nguyên - Mông (tháng 4 năm 1289) Trần Quốc Tảng được phong chức Tiết độ sứ và tiếp tục được nhà Trần giao phó trọng trách trấn giữ miền Đông Bắc. 135

Sau khi Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng qua đời, nhân dân vùng Cửa Suốt nơi ông gắn bó phần lớn cuộc đời đã lập đền thờ ông. Sau ngôi đền được gọi là đền Cửa ô n g (nay thuộc địa phận phưèfng Cửa ông, thị xã cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh). Cùng với đền Cửa ông, ngày nay trên cả nước đã có nhiều di tích thờ Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Đình Kênh là một trong những di tích đầu tiên trên quê hương nhà Trần thờ Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Ngôi đình làm quay hướng đông trong một khuôn viên hẹp, kề sát với chùa Kênh. Đình làm kiểu chữ đinh: Tiền đường 5 gian, bộ khung bằng gỗ lim, bộ vì làm kiểu chồng rường giá chiêng. Cung cấm 3 gian, mái cuốn vòm nối mái với tiền đưòmg. Chính giữa cung cấm là nhang án, bài vị thờ Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Theo thống kê, đình Kênh hiện còn lưu giữ: - Câu Đối: 04 - Đại tự: 02 - Đồ thợ tự: 45 Ngày 10 tháng giêng là lễ hội xuân: Nhân dân tổ chức dâng hương, lễ khánh lão. Ngày 6 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày kỵ của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng nhân dân tổ chức lễ hội vód quy mô nhỏ, có tế nam quan, nữ quan. 136

ĐỂN KHỔNG TỬ (Văn Miếu, Thánh Miếu) Đền Khổng Tử hiện nay thuộc thôn Liễu Nha, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. Di tích nằm xa khu dân cư, giữa cánh đồng, cách di tích đền Trần - chùa Tháp khoảng l,5km về phía đông nam. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông qua ngã ba đền Trần khoảng 200m rồi rẽ trái theo đường liên thôn khoảng 50m là tới di tích. Di tích thờ Khổng Tử và Tứ phối (là bốn học trò xuất sắc của Khổng Tử: Mạnh Tử, Tử Tư, Nhan Hồi, Tăng Sâm). Nhiều tài liệu xác nhận, đền Khổng Tử (Văn Miếu) tại Liễu Nha được dựng từ thời Trần. Ngọc phả đền Thái Vi (Hoa Lư - Ninh Bình) đã cho biết việc xây dựng các công trình tại hành cung Thiên Trường và các làng xã ven hành cung như sau: “Làm nội cung để các hậu ở, làm nội khố để trữ tiền lưcfng... phía sau cung ở bờ bắc sông Vĩnh lập cung Hoa Nha và đặt Văn Miếu”. Sách “Nam Định tỉnh chf ’ của Nguyễn ô n Ngọc nêu cụ thể hơn: “Văn miếu của huyện (Mỹ Lộc) được xây từ thời Trần Thái Tông tại địa phận xã Hoa Nha nay là làng Liễu Nha, tạc tượng thánh và tượng tiên hiền để vua thân hành đến lễ. Đến thời Lê dùng làm cung phủ Thiên Trường. Khi Gia Long làm vua cũng dùng đình này làm Văn miếu của tỉnh để tế”. 137

Như vậy, việc lập Văn miếu thờ Khổng Tử tại khu vực làng Liễu Nha (Mỹ Phúc - Mỹ Lộc) từ thời Trần đã cho thấy sự trân trọng, hiếu lễ của nhà Trần đối vói đạo nho trong đường lối trị quốc, an dân, xây dựng nên một triều đại phong kiến thịnh trị. Công trình kiến trúc: Đền nằm trong khuôn viên rộng sát đường liên thôn trong một không gian thoáng đãng. Công trình kiến trúc của đền hiện nay còn lại dấu vết kiến trúc của toà tiền đường gồm 5 gian, bộ khung bằng gỗ lim kiểu bốn hàng chân cột, vì bằng gỗ lim kiểu kẻ trường, chồng rường. Trên các cấu kiện kiến trúc còn có nhiều mảng kiến trúc chạm khắc thời Nguyên. Theo thống kê, đền Khổng Tử còn lưu giữ được: - Bia thờ: 01 niên hiệu Duy Tân 1 (1907). - Đồ thờ khác: 10 Hàng năm vào ngày 17 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phưcmg có tổ chức làm lễ dâng hương đức Khổng Tử và bốn học trò xuất sắc của ông. Trước đây vào dịp này các chức sắc hàng huyện phải về tổ chức tế lễ. 138

CHÙA LA (Phổ Quang tự) Chùa nằm giữa cánh đổng về phía bắc thôn La, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. Di tích nằm cách đền Trần - chùa Tháp khoảng 2km về phía tây bắc. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến cầu đá Vĩnh Giang rẽ trái theo quốc lộ 10 khoảng 500m, sau đó rẽ phải về cầu Bùi (xã Mỹ Phúc), Từ đây rẽ trái theo đường trục xã khoảng Ikm rồi rẽ phải theo đường vào làng khoảng 500m là tới di tích. Chùa La thờ Riật. Vị trí xây dựng chùa sát với khu vực hành cung Thiên Trường xưa của nhà Trần. Rất có thể đây là ngôi chùa được xây dựng dưói thòi Trần và có liên quan đến hoạt động của Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập. Hiện tại chùa có một số cổ vật mang phong cách thời Trần. Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng nằm giữa cánh đồng xa khu dân cư. Chùa chính xây quay hướng tây theo kiểu chữ đinh, công trình được khởi công xây dựng lại vào ngày 16/10/2005. Toàn bộ các cấu kiện kiến trúc gỗ của chùa cũ được hạ giải và bảo quản tại nhà kho phía sau chùa. Công trình kiến trúc của chùa La hiện nay gồm 2 toà: Bái đường và tam bảo. Toà bái đường 5 gian, tam bảo 3 gian được xây theo kiểu cổ đẳng hai lớp mái, khung bê tông. 139


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook