Phía sau chùa chính còn có các hạng mục: Nhà tổ, phủ mẫu, nhà khách, tăng phòng tạo thành thế khép kín. Nhà tổ xây kiểu chữ đinh gồm: Tiền đường 3 gian, hậu cung 1 gian xây cuốn vòm, nền lát gạch men. + Phủ mẫu xây chữ đinh gồm: Tiền đường 3 gian đổ mái bằng, cung cấm 1 gian xây cuốn. + Nhà khách 5 gian, 3 gian giữa lợp ngói tây, hiên mái bằng, 2 gian bên đổ mái bằng. Theo thống kê, hiện nay chùa còn lưu giữ được: - Đại tự; 01 - Tượng thờ: 29 - Đồ thờ khác: 30 Tổ chức theo các ngày lễ trọng của Phật giáo trong năm: Ngày lễ Phật đản (15-4), ngày lễ Vu Lan (15 - 7) và các ngày sóc (mồng 1), vọng (ngày 15) hàng tháng. 140
ĐỂN LAN HOA (Đền Phù Nghĩa) Đền Lan Hoa nằm ở trung tâm của phường Lộc Hạ, cách thành phố Nam Định khoảng 2 km về phía đông nam. Hiện nay di tích nằm trong một khu vực có nhiều trường học, bệnh viện và các cơ quan của tỉnh, rất thuận tiện đường giao thông nên việc tuyên truyền phát huy giá trị của di tích rất thuận lợi. + Từ trung tâm thành phố Nam Định đi theo đường Trường Chinh đến ngã tư Phù Nghĩa, rẽ trái khoảng 1 km, sau đó rẽ phải theo đường liên thôn 200m là tới di tích. + Từ khu di tích đền Trần - chùa Tháp theo quốc lộ 10 đi qua cầu Vĩnh Giang đến ngã tư Đệ Tứ, rẽ phải theo đường Phù Nghĩa Ikm là đến di tích. Đền Lan Hoa thờ Lệ Trinh nguyên phi, thiếp yêu của vua Trần Thái Tông. Bà tên thật là Lê Thị Tuyết, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1219, tại xã Mai Sơn (nay là thôn Mai Thanh, xã Yên Tân, huyện Ý Yên). Tháng 10 năm 1255, vua Trần Thái Tông sai người lập cung Lan Hoa thuộc thôn Phù Hoa (Phù Nghĩa) cho Lệ Trinh nguyên phi cai quản. Trong hơn 30 năm (1255 - 1290) sinh sống tại đây, bà đã khuyến khích nhân dân phát triển sản xuất, chăn nuôi, mở chợ, tích luỹ lương thực phục vụ đời sống và triều đình. Tại đây, Nguyên phi sai dựng chùa Phổ Quang (chùa Phù Nghĩa) và mở chợ Phù Hoa. Sau khi bà mất, nhân dân đã lập đền thờ suy tôn bà là thành hoàng làng. 141
Trước đây đền Lan Hoa có 3 toà; Tiền đường, trung đường và cung cấm. Qua thời gian, chiến tranh, thiên tai giặc dã đến nay di tích còn lại 2 toà: Trung đường và cung cấm, kết cấu mặt bằng kiểu chữ đinh. Toà tiền đường 5 gian, bộ khung bằng gỗ lim có bốn hàng chân cột, công trình có 6 bộ vì gia công kiểu kẻ truyền, chồng rường. Trên các cấu kiện kiến trúc đều được soi chỉ, chạm khắc hoa văn lá lật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Cung cấm gồm 4 gian xây quay dọc, giao mái với toà tiền đường, công trình xây cuốn vòm, mái gắn ngói nam. Theo thống kê, di tích đền Lan Hoa phưcíng Lộc Hạ còn lưu giữ được: - Tượng: 03 - Bia: 01, niên hiệu Khải Định 10 (1925), - Ngọc phả: 01, soạn vào niên hiệu Thành Thái 1 (1889) - Đổ thờ khác: 77. Đặc biệt nhất là ngai và bài vị thờ Lệ Trinh Nguyên phi mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê thế kỷ XVII. Di tích còn bảo lưu được một số sinh hoạt văn hoá diễn ra vào các ngày: Ngày 15 tháng 1 âm lịch: Dân làng tổ chức lễ đầu năm (tết Nguyên Tiêu). Mồng 10 tháng 12 âm lịch: Dân làng tổ chức lễ hạ điền, kỷ niệm ngày Lệ Trinh nguyên phi về mở đất Phù Hoa sinh sống. Ngoài các kỳ lễ quan trọng trên, vào ngày sinh, ngày kỵ của các vị thần thờ tại di tích và ngày 20 tháng 8 là ngày mất của Đức Thánh Trần, nhân dân địa phương tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm. 142
ĐÌNH LIỄU NHA (Đình Đỏ) Đình Liễu Nha thuộc thôn Liễu Nha, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. Di tích nằm giữa cánh đồng trong khuôn viên rộng, cách di tích đền Trần - chùa Tháp khoảng l,5km về phía tây nam. Từ thành phố Nam Định theo đưcmg Trần Thái Tông qua ngã ba đền Trần khoảng 200m, rẽ trái theo đường vào thôn khoảng lOOm là tới di tích. Đình Liễu Nha thờ Sứ quân Trần Lãm (Trần Minh Công). Ông là vị tướng có công lớn giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước vào thế kỷ X. Tương truyền, làng Liễu Nha xưa là địa bàn hoạt động của Sứ quân Trần Lãm, vì vậy sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã lập đền thờ để tri ân công đức. Dưới thời Trần, Liễu Nha là một làng cổ thuộc ngoại vi của hành Cung Thiên Trường. Đình xây kiểu chữ đinh quay hướng nam. Toà tiền đường 3 gian 2 chái, bộ khung làm bằng bê tông cốt sắt, bộ vì quá giang bằng bê tông giả gỗ, mái chảy đổ bê tông. Cung cấm xây 1 gian, làm kiểu mái chảy gắn ngói nam. Theo thống kê, đình Liễu Nha còn lưu giữ được: - Đại tự: 01 - Đồ thờ khác: 21 Địa phương tổ chức dâng hương kỷ niệm ngày mất của Sứ quân Trần Lãm vào ngày 10 - 4 âm lịch hàng năm. 143
ĐỂN LỘC QUÝ (Đền Lốc) Đền Lộc Quý còn có tên gọi là đền Lốc thuộc thôn Lốc xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. Theo các nguồn tư liệu lịch sử, đây chính là vùng đất mà triều đình nhà Trần đã giành cho Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ. Di tích nằm trong khu vực có liên quan đến hành cung Thiên Trường xưa của nhà Trần nên trong tương lai di tích sẽ có nhiều điều kiện để phát huy tốt các giá trị. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến cầu đá Vĩnh Giang, rẽ trái theo quốc lộ 10 khoảng 500m, sau đó rẽ phải về cầu Bùi (xã Mỹ Phúc). Đến đây, đi tiếp theo đường trục xã khoảng l,5km là tới di tích. Đền Lộc Quý thờ Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ (1194 - 1264). Ồng là bậc khai quốc công thần, góp công đầu giúp nhà Trẩn dựng nên vương nghiệp. Theo sách “Thái vi quốc tế ngọc ký” - phần ngọc phả nhà Trần thì ngoài khu gia Miêu ở Quắc Hương (Bình Lục - Hà Nam), Thái sư Trần Thủ Độ còn được vua Trần ban cấp đất thang mộc ở khu Lộc Quý (Mỹ Phúc - Mỹ Lộc). Làng Lộc Quý (Lốc) có vị trí kề sát hành cung Thiên Trường, vì vậy cũng giống như việc xây dựng khu dinh thự tại Hậu Bồi của Thái sư Trần Quang Khải, ở đây Thái sư Trần Thủ Độ đã lập dinh thự. Mặc dù khu thái ấp chính của ông ở 144
Quắc Hương (Bình Lục - Hà Nam), nhưng hẳn mỗi khi có việc nơi triều chính ông lại về ở tại Lộc Quý nghỉ ngơi. Ngoài Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, đền còn phối thờ phu nhân của ông là Linh Từ quốc mẫu Trần Thi Dung và tướng Lư Cao Mang là những nhân vật lịch sử thời Trần có mối liên quan với quê hương Lộc Quý (Lốc). Công trình kiến trúc: Đền Lộc Quý xây quay về hướng tây nam, trước mặt là ao đền bên phải là đường liên xã. Đền được dựng theo kiểu chữ nhị gồm: Tiền đường và cung cấm. 5 gian tiền đường vừa được dân làng hưng công xây dựng đầu năm 2004 với vật liộu bê tông cốt sắt. Tại đây các cấu kiện đều được kẻ vẽ trang trí đề tài lá lật, mây tản, theo phong cách nghê thuật truyền thống. Cung cấm gồm 3 gian bộ khung làm bằng gỗ lim kiểu quá giang, kèo cầu cánh ác. Trên vì hiên là các cấu kiện kiểu chồng rường bẩy tiền, mái lợp ngói nam. -Tượng thờ: 03 (Tượng Thái sư Trần Thủ Độ, Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung và tướng Lư Cao Mang). Hàng năm, tại di tích diễn ra hai kỳ lễ trọng: Ngày 7 tháng 7 âm lịch là ngày kỵ của Thái sư Trần Thủ Độ, nhân dân tổ chức dâng hương. Ngày 15 đến ngày 20 tháng 8 dịp lễ hội đền Trần. Trước đây làng cho rước kiệu lên đền Trần tế giao hiếu, hiện nay chỉ tổ chức lễ dâng hương. 145
ĐỂN Lựu PHỐ Đền Lựu Phố thuộc thôn Lựu Phố, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. Trước đây, Lựu Phố là đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Mỹ Lộc. Hiện nay, Lựu Phố là một trong 15 thôn của xã Mỹ Phúc. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến chợ Viềng khoảng (4km), sau đó đi tiếp khoảng 200m, rồi rẽ trái theo đường làng khoảng 200m là tói di tích Xung quanh đền Lựu Phố trong vòng bán kính 1,5 km có đền Bảo Lộc, đền Thiên Trường, chùa Tháp là những di tích lịch sử - văn hoá thời Trần đã được Nhà nước xếp hạng. Với vị trí trên di tích đền - chùa Lựu Phố sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy tốt các giá trị lịch sử - văn hoá trong quần thể di tích Trần ở Nam Định. Đền Lựu Phố thờ Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ (1194 - 1264). Ông là một nhà chính trị, quân sự tài giỏi, góp nhiều công lao giúp nhà Trần dựng nên đế nghiệp. Với chức vị Điện tiền chỉ huy sứ dưới triều Lý, Trần Thủ Độ đã dần thâu tóm mọi quyền lực trong tay, rồi sắp đặt cho cháu là Trần Cảnh vào cung kết duyên cùng Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của nhà Lý. Ngày 12 tháng 12 năm 1225, cũng do sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho phu quân là Trần Cảnh (Trần Thái Tông), mở đầu cho triều đại nhà Trần. 146
Đền Lựu Phố thờ Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ vói ý nghĩa ông đã về đây xây dựng vườn Lựu (Lựu viên) khi nhà Trần lập hành cung Thiên Trường. Truyền thuyết địa phương cho biết, sau khi đất nước thanh bình, mặc dù được phong thái ấp ở Quắc Hương (Bình Lục - Hà Nam) nhưng Trần Thủ Độ vẫn về đây khai hoang củng cố ấp An Lạc. ông cũng về chùa Lựu Phố ban phát vàng bạc để nhân dân tôn tạo chốn cửa thiền. Tại đền Lựu Phố hiện còn câu đối nói về sự gắn bó của ông vói quê hương: ‘T h á i sư lựu trạch thiền niên đại, Lựu P h ố tân từ vọng cổ phương”. (Nền cũ nhà Thái sư ngàn năm vẫn thế, Đền mới nơi Lựu Phố muôn thuở còn vang). Cùng với Thái sư Trần Thủ Độ, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cũng được nhân dân phối thờ tại đền. Trần Quốc Tuấn (1228 - 1300) là danh tướng kiệt xuất trong cả 3 lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII. Khi ông mất được vua Trần truy tặng là Thái sư Thượng phụ, Thượng quốc công nhân vũ Hưng Đạo Đại vương. Dân gian suy tôn ông là bậc Thánh (Đức Thánh Trần). Đền Lựu Phố cùng với đền Bảo Lộc, đền Cố Trạch và khoảng hai trăm di tích trên địa bàn tỉnh Nam Định thờ Trần Quốc Tuấn đã nói lên lòng thành kính, biết ơn của nhân dân đối với vị anh hùng dân tộc - người con của quê hương nhà Trần. Ngoài thờ hai nhân vật lịch sử thời Trần, đền Lựu Phố còn thờ hai cha con Thám hoa Hà Nhân Giả. Theo truyền thuyết 147
địa phương thì vào thời Hậu Lê có ông Nguyễn Tân Thanh người sứ Kinh Bắc cùng với con trai là Nguyên Mạnh Trinh về đất Lựu Phố xin trú ngụ. Sau đó, Nguyên Mạnh Trinh thi đỗ Thám hoa rồi đổi tên là Hà Nhân Giả. Sau khi hai cha con Thám hoa mất, nhân dân thờ làm thành hoàng làng. Đền Lựu Phố được xây dựng trên khu đất rộng hơn 5 sào Bắc Bô, kề sát đường liên thôn. Xung quanh di tích còn có nhiều cây lưu niên, cây bóng mát tạo cho di tích một không khí trong lành. Đền Lựu Phố làm quay hướng tây, Công trình được xây dựng theo kiểu tiền nhất, hậu đinh. Toà tiền đường 5 gian dài 14 m, rộng 8 m, bộ khung làm bằng gỗ lim kiểu bốn hàng chân cột, vì kèo kiểu chồng rường giá chiêng kẻ bẩy. Toà trung đường dài 8m, rộng 4m, bộ khung thiết kế kiểu thượng mê cốn hạ bẩy kẻ, được soi chỉ tạo dáng ống tơ mềm mại. Cung cấm 2 gian xây quay dọc kích thước dài 4,5m, rộng 3,5m nối mái trung đưcmg. Công trình gồm 3 vì kèo làm theo kiểu cuốn vành mai, trên đó nhấn tỉa hoạ tiết “tứ linh, tứ quý”. Theo dòng chữ Hán khắc trên thượng lương của toà tiền đường thì đền Lựu Phố được trùng tu vào năm Bảo Đại 2 (1927). Đặc biệt nhưng năm gần đây đền Lựu Phố đã được Nhà nước đầu tư kinh phí và tu bổ công trình như hiện nay. Bên cạnh đền có ngôi chùa Lựu Phố. Chùa xây dựng cạnh đền. Công trình làm kiểu chữ đinh gồm bái đường 5 gian, tam bảo 3 gian. 148
Toà bái đường dài l l m , rộng 6m, bộ khung bằng gỗ lim thiết kế kiểu chồng rường giá chiêng đoín giản, mái lợp ngói nam. Nối liền với toà bái đường là 3 gian tam bảo. Tam bảo dài 6m, rộng 4m, bộ khung công trình làm kiểu bốn hàng chân cột, vì kèo cuốn vành mai. Theo dòng chữ Hán khắc trên thượng lưofng toà bái đường thì ngôi chùa được trùng tu vào năm Bảo Đại 5 (1930). Theo thống kê, đền - chùa Lựu Phố hiện còn lưu giữ được: - Câu đối: 25 - Đại tự: 16 - Bia đá: 01, niên hiệu Tự Đức 20 (1868) - Sắc phong: 05 (1 đạo niên hiệu Duy Tân 5 (1911) và 4 đạo Khải Định 9 (1924)). - Tượng thờ: 22 - ĐỒ thờ khác: 52 Để tưcmg nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc đối vói quê hương đất nước, trước đây cứ vào trung tuần tháng 8 âm lịch (Từ ngày 15 đến ngày 20), hai thôn Lựu Phố và Bảo Lộc tổ chức rước kiệu, tế giao hiếu. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, vào dịp này cả hai thôn cùng mở hội, tế lễ riêng tại hai đình. Trong lễ hội có các trò chơi dân gian như: Múa rối nước, chọi gà, cờ tướng, hát chèo, hát văn... 149
CHÙA MAI HƯƠNG (Thiên Phúc tự) Chùa Mai Hương xây dựng ở đầu thôn trên đưèmg vào thôn Cấp Tiến, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. Di tích nằm cách đền Bảo Lộc khoảng 200m về phía bắc. + Từ thành phố Nam Định du khách theo đường Trần Thái Tông đến cầu đá Vĩnh Giang, rẽ trái theo quốc lộ 10 khoảng 500m, sau đó rẽ phải về cầu Bùi (xã Mỹ Phúc). Từ đây, đi tiếp theo đường liên xã khoảng 2km về dốc Lốc là đến di tích. + Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến qua chợ Viềng, đến đê Ât Hợi, rẽ trái qua đền Bảo Lộc 200m là đến di tích. Chùa thờ Phật. Tương truyền, chùa Mai Hương do Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung tôn tạo và mở rộng vào thời Trần. Tuy nhiên, tại chùa hiện nay không thấy có sự thờ tự đối với bà. Chùa Mai Hương được xây dựng vào năm 2000 theo kiểu chữ đinh gồm: Bái đường 5 gian xây kiểu cổ đẳng 2 lớp mái lọp ngói nam bộ khung công trình làm bằng bê tông giả gỗ, vì kèo kiểu quá giang kèo cầu. Tam bảo 3 gian, khung bê tông vì kèo giả gỗ kiểu quá giang kèo cầu. + Nhà tổ 3 gian vì quá giang kèo cầu, lót cót ép, lọp ngói tây. 150
+ Phủ mẫu xây chữ đinh, tiền đường 3 gian, cung cấm 1 gian. Toà tiền đường vì kèo quá giang câu đầu bằng bê tông, mái ngói nam, cung cấm 1 gian đổ mái bằng. Theo thống kê, hiện nay chùa Mai Hương còn lưu giữ được: - Câu đối: 03 - Đại tự: 05 - Bia đá: 01, niên hiệu Vĩnh Thịnh 1 (1705) (nhiều chữ đã bị mờ). - Tượng thờ: 32 - Đồ thờ khác: 28 TỔ chức theo các ngày lễ trọng của Phật giáo trong năm: Ngày lễ Phật đản (15 - 4), ngày lễ Vu Lan (15 - 7) và các ngày sóc (mồng 1), vọng (ngày 15) hàng tháng. 151
ĐÌNH - PHỦ PHƯƠNG BÔNG Đình thuộc thôn Phương Bông, xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc. Di tích nằm cách đình Tây Đệ Nhị, chùa Quỳnh Đô (nơi thờ các hoàng hậu, vương phi và các vị tướng của nhà Trần) khoảng 500m về phía nam. Đình Phương Bông cùng với các di tích trên sẽ tạo thành cụm di tích có nhiều điều kiện để phát huy giá trị. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông về cầu Viềng xã Mỹ Phúc (5km), rẽ phải theo trục đường liên xã khoảng 500m là tód di tích. Căn cứ vào các đạo sắc thì đình Phương Bông thờ Dũng Dược đại vương, ô n g là vị tướng thời Hùng Vương có nhiều công lao giúp dân, giúp nước. Sau khi ông mất, nhân dân địa phương lập đền thờ tự, các triều đại phong kiến đã sắc phong cho ông là Bản cảnh thành hoàng. Theo truyền thuyết địa phương và bài vị thờ tại di tích, đình Phương Bông là nơi phối thờ Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải (1240 - 1294), ngưcd đã có công lao đóng góp vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta dưới thời Trần. Làng Phương Bông xưa là nơi Thái sư Trần Quang Khải có nhiều gắn bó. Trước đây, trong dịp lễ hội tưởng nhớ công lao của ông vào ngày 3 tháng 7 hàng năm, nhân dân địa phương thường diễn lại diệu múa “Bài Bông” do 152
Thái sư sáng tác để ăn mừng chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông. Phủ Phương Bông thờ Ngọc Đôi công chúa và Dung Hoa công chúa. Theo sắc phong lưu giữ tại phủ thì đây là hai vị công chúa thời Lê - Trịnh có mối liên quan đến khu vực Phương Bông nên dân làng lập đền thờ tự tri ân. Đình nằm trong khuôn viên rộng bên cạnh còn có 2 công trình phủ và miếu. Cảnh quan di tích rộng, tiện đường giao thông nên thuận lợi cho việc phát huy giá trị di tích. + Đình xây kiểu chữ đinh gồm: Tiền đường 5 gian, bộ khung bằng gỗ lim, bốn hàng chân cột, bộ vì gia công kiểu chồng rường kẻ trường, nền lát gạch đỏ, mái lợp ngói nam. Cung cấm xây kiểu tiền đao hậu đốc gồm 4 gian, bộ khung bằng gỗ lim, bốn hàng chân cột, bộ vì mê cốn, mái lợp ngói nam. + Phủ mẫu xây hình chữ đinh, vì kèo quá giang, quy mô thấp nhỏ, mặt quay về hướng bắc nhìn ra sông Vĩnh. Toà tiền đường 3 gian, theo dòng chữ Hán khắc trên thượng lương thì công trình được dựng năm Bảo Đại 14 (1941). Cung cấm 2 gian bộ khung bằng gỗ lim, mái lợp ngói nam. + Miếu xây hình chữ đinh gồm: Tiền đường 3 gian, khung gỗ lim, bộ vì kèo cầu quá giang, cung cấm 1 gian xây cuốn. Theo thống kê, đình - phủ Phương Bông còn lưu giữ được: - Sắc phong: 08 (Niên hiệu: Tự Đức 6 (1853), 2 đạo Khải Định 9 (1924), Duy Tân 5 (1911), 2 đạo Duy Tân 3 (1909), Đồng Khánh 2 (1887)). 153
- Tượng thờ: 05 - Câu đối: 02 - Đại tự: 04 - Đồ thờ khác: 05 Hàng năm vào những dịp kỵ giỗ mẫu và các vị thành hoàng: Ngày 10 tháng 3, ngày 3 tháng 7, ngày 15 tháng 11 âm lịch, dân làng tổ chức dâng hương tưởng niệm. 154
ĐÌNH TÂY ĐỆ NHỊ (Tây Điện) Đình Đệ Nhị toạ lạc ở đầu thôn Đệ Nhị, xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, có vị trí là trung tâm của xã, sát đường hên xã nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy giá tn. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến chợ Viềng (4 km). Đến đây rẽ phải theo đường trục xã khoảng 500m là tới di tích. Đình Tây Đệ Nhị thờ tướng Lư Cao Mang (1248 - 1328). Ông là một trong những vị tướng giỏi dưới quyền của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, đã lập nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Trước và trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285), Lư Cao Mang được Hưng Đạo đại vương chọn làm tuỳ tướng thân cận theo giúp việc đón tiếp sứ Nguyên, điều hành quân đội ở lộ Hải Đông (Quảng Ninh), chống giặc ở Gia Lâm (Hà Nội), Trường Yên (Ninh Bình), bảo vệ hoàng tộc nhà Trần trong những lần rút lui và phản công chiến lược. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 3 (1288), Lư Cao Mang trực tiếp điều quân tại Hưng Yên, phản công địch giành nhiều thắng lọi. ô n g cùng 155
các tướng Nguyễn Địa Lô, Nguyễn Chế Nghĩa, dưới sự chỉ huy của Điện suý Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đánh giặc ở Bạch Đằng, giúp vương triều Trần tổ chức kháng chiến thắng lợi. Sau đó, ông lại được nhà Trần cử đi trấn giữ các vùng sung yếu như Lạng Sơn, Chi Lăng, giữ yên bờ cõi. Thời gian làm quan tại phủ Thiên Trường, cũng như sau này khi về sinh sống cùng vợ con tại Như Thức (Mỹ Thắng - Mỹ Lộc), ông vẫn thưcmg xuyên qua lại giúp đỡ nhân dân Đệ Nhị, Như Thức và các làng xã phụ cận hành cung Thiên Trường phát triển sản xuất, làm thuỷ lợi, tạo dựng đền - chùa, giữ gìn thuần phong mỹ tục cho quê hương. Việc thờ tự tướng Lư Cao Mang tại đình Tây Đệ Nhị (Mỹ Trung) cùng các di tích khác như: Đình Đồng Mai (Mỹ Trung), đình Bái (Lộc Vượng), đình La, đình Hóp, đền Lộc Quý (Mỹ Phúc) cho thấy rất có thể đây là những địa bàn liên quan đến hoạt động quân sự của tướng Lư Cao Mang. Tại đây, ông đã tập hợp lực lượng, huy động nhân lực, vật lực xây dựng phòng tuyến bảo vệ hành cung Thiên Trường và hoàng tộc nhà Trần trong những lần rút lui và phản công chống quân Nguyên - Mông. Ngoài thờ tướng Lư Cao Mang, di tích còn phối thờ Dũng Dược đại vương, công chúa Lý Chiêu Hoàng và tướng quân Lê Phụ Trần. Trước đây Dũng Dược đại vương (vị tướng thời Hùng vương) được thờ ở đình Đông Đệ Nhị. Do việc xây dựng một số công trình phúc lợi của địa phương nên đình Đông Đệ Nhị bị dỡ bỏ, nhân dân đã rước bài vị và đồ thờ tự Dũng Dược đại vương về đình Tây Đệ Nhị phối thờ cùng Lư Cao Mang. 156
Năm 1237, Lý Chiêu Hoàng bị giáng xuống làm công chúa và được sắp đặt kết duyên cùng tướng quân Lê Phụ Trần. Tướng quân Lê Phụ Trần tên thật là Lê Tần. Do ông có nhiều công lao đóng góp với đất nước nên được vua Trần ban họ quốc tích, đổi là Lê Phụ Trần. Tương truyền, sau khi Lý Chiêu Hoàng kết duyên cùng tướng quân Lê Phụ Trần, hai ông bà đã về sinh sống tại cung Đệ Nhị (Mỹ Trung) cho tới khi mất. ông bà thường cấp tiền bạc, ruộng đất giúp đỡ nhân dân Đệ Nhị ổn định cuộc sống. Sau khi ông bà qua đời, nhân dân lập miếu thờ, sau này rước về phối thờ tại đình Tây Đệ Nhị cùng tướng Lư Cao Mang. Đình Tây Đệ Nhị toạ lạc trên một khu đất cao ráo thoáng đãng, trước mặt là dòng sông Vĩnh Giang. Phía bắc đình còn có chùa Đệ Nhị nơi thờ Lệ Trinh nguyên phi, Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu (mẫu hậu của vua Trần Nhân Tông), Ngôi đình kiến trúc gồm 2 toà có mặt bằng xây dựng kiểu chữ đinh. Toà tiền đường 3 gian 2 chái có kích thước dài 13,8m, rộng 5,8m. Bộ khung toà tiền đường được tạo bởi 4 vì kèo thiết kế kiểu thượng chồng rường hạ kẻ truyền. Hai vì đầu hồi thiết k ế kiểu kẻ moi trụ lửng. Các cấu kiện kiến trúc tại tiền đường đều được chạm khắc hoa văn cánh sen, lá lật mang phong cách thời Nguyễn. Nâng đỡ hệ thống vì kèo là bộ khung lim 4 hàng chân cột, gồm 8 cột cái và 8 cột quân. Tất cả các chân cột được kê trên chân tảng đá chạm khắc cánh sen. Cung cấm của đền gồm 3 gian xây quay dọc nối mái với tiền đường có kích thước dài 6,25m, rộng 3,65m. Bộ khung công trình làm bằng gỗ lim kiểu 4 hàng chân cột, hệ thống vì làm kiểu mê cốn 157
Theo thống kê, đình Tây Đệ Nhị còn lưu giữ được: - Câu đối: 06 - Đại tự: 06 - Sắc phong: 07 (Niên hiệu: Cảnh Hưng 44 (1783), 2 đạo Thiệu T ậ 6 (1846), Duy Tân 6 (1909) và 3 đạo Khải Định 9 (1924)) - Chuông: 01 niên đại Thành Thái 13 (1901) - ĐỒ thờ khác: 54. Tiêu biểu nhất trong hệ thống di vật, cổ vật của di tích là: Bức đại tự “Tâm như nhật nguyệt” (tấm lòng thanh tao trong sáng như mặt trăng, mặt trời) được làm năm Bảo Đại 12 (1937); hệ thống cửa võng tại gian giữa tiền đưòĩig và hệ thống nhang án tại toà tiền đường. Đó là những hiện vật được đục chạm công phu với nhiều đề tài rất sinh động. Hàng năm vào các ngày kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của các vị thần làng, nhân dân địa phương đều tổ chức tế lễ để tỏ lòng biết ơn những người đã có công vói dân với nước. Trước đây lễ hội được tổ chức với quy mô khá lớn, với nhiều nghi thức. Hiện nay chủ yếu là các nghi thức đơn giản như dâng hương, rước, tế vào các ngày 15 tháng 2 và 14, 15 tháng 8 âm lịch. 158
ĐÌNH TÂY ĐỆ TAM Đình Tây được xây dựng về phía tây thôn Đệ Tam, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. phía trước là đình Văn Hưng và nhà thờ họ giáo, cách thành phố Nam Định khoảng 4km về phía đông bắc. Xung quanh di tích có các di tích: Đền Hậu Bồi, Lựu Phố và đền Trần, chùa Tháp do vậy sẽ tạo thành một quần thể di tích văn hoá Trần thu hút đông đảo khách tham quan nghiên cứu di tích. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông khoảng 4 km đến cầu Viềng xã Mỹ Phúc, sau đó đi rẽ trái khoảng 500m là tới di tích. Đình Tây Đệ Tam thờ Sứ quân Trần Lãm (Trần Minh Công). Sử cũ chép, Trần Lãm vốn quê ở Quảng Đông (Trung Quốc) dời về phương nam vào thời Ngô vương (939 - 944) cùng gia đình làm nghề đánh cá tại cửa biển Bố Hải (Thái Bình). Năm 944, Ngô vương mất, đất nước dần roi vào tình cảnh loạn ly, chia cắt. Lúc này tại Bố Hải Khẩu (Thái Bình), Trần Lãm tập hợp lực lượng đắp thành xây dựng căn cứ kháng chiến. Ông tự xưng là Trần Minh Công và trở thành một trong 12 sứ quân cát cứ. Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy binh dẹp loạn, ông đã đem toàn bộ lực lượng theo giúp Đinh Bộ Lĩnh và được Đinh Bộ Lĩnh tôn làm nghĩa phụ. Sau khi lên ngôi vua, Đinh Tiên Hoàng đã tôn nghĩa phụ Trần Lãm làm Giám quốc đại vương. 159
Đình Tây Đệ Tam thờ Sứ quân Trần Lãm với ý nghĩa tưởng nhớ lúc sinh thời ông đã về đây chiêu mộ dân binh, quyên góp lương thực để dấy binh dẹp loạn, giúp nhân dân địa phương ổn định đời sống. Việc thờ tự Sứ quân Trần Lãm tại đình Tây Đệ Tam và các di tích: Đình Đông Đệ Tam, đình Văn Hưng, đình Liễu Nha (Mỹ Phúc), đình Thanh Khê (Mỹ Trung) và đình Đệ Tứ (Lộc Hạ) đã gián tiếp khẳng định vai trò và vị trí của vùng đất Nam Định đối với sự nghiệp thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh thế kỷ X. Ngoài thờ Sứ quân Trần Lãm, đình Tây Đệ Tam còn thờ tướng Trần Dũng Lược. Theo cuốn thần tích “Đinh triều gia tướng Chiêu linh hiển ứng Dũng Lược đại vương ” hiện lưu giữ tại di tích thì Trần Dũng Lược sinh ra và lớn lên tại làng Đệ Tam, sau này theo phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lập nhiều công lao. Khi ông mất, được nhân dân địa phương suy tôn là Bản cảnh thành hoàng. Các triều đại phong kiến về sau sắc phong cho ông là: Chiêu linh hiển ứng Dũng Lược đại vương. Sang thế kỷ XIII, Đệ Tam là vùng đất thuộc hành cùng Thiên Trường của nhà Trần. Cùng với hàng loạt các cung điện khác, cung Đệ Tam được xây dựng dành cho cho các hoàng thân quốc thích. Hiện nay, tại đình Tây Đệ Tam còn lưu giữ bài vị thờ Lệ Trinh nguyên phi, thiếp yêu của Hoàng đế Trần Thái Tông. Ngọc phả và truyền thuyết địa phương cho biết, sau khi Lệ Trinh nguyên phi mất, nhân dân các làng Phù Nghĩa (Lộc Hạ), Đệ Nhị (Mỹ Trung), Đệ Tam (Mỹ Phúc) lập miếu thờ để tri ân công đức bà đã có công dựng chùa, mở chợ dạy 160
dân quanh vùng phương thức làm ăn, tạo lập nên những làng quê trù phú. Đình Tây Đệ Tam được xây dựng trên một khu đất rộng 3250m^, xa khu dân cư. Tổng thể di tích gồm: Đình nằm chính giữa, bên phải là miếu thờ Lệ Trinh nguyên phi, bên trái là giải vũ. Đình Tây quay hướng đông, mặt bằng làm kiểu tiền nhất hậu đinh. Toà tiền đường 5 gian, rộng 13,5m, sâu 6,5m. Ba gian giữa lắp cửa bức bàn. Bộ khung toà tiền đường làm bằng gỗ lim với 12 cột cái, 12 cột quân, hệ thống vì nóc làm kiểu chổng rường giá chiêng, vì nách phía trước làm kiểu kẻ trường, vì nách phía sau làm kiểu chồng rường bẩy kẻ. Đặc biệt trên các ván bưng các ô thông phong phía trong 3 gian giữa tiền đường còn lưu giữ được mảng chạm khắc tứ linh, hoa lá mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê thế kỷ XVII. Trung đường và hậu cung xây hình chữ đinh. Toà trung đưcmg 3 gian rộng 6,5m, sâu 5,5m. Có kết cấu khung bằng gỗ lim, vì kèo kiểu thượng kèo cầu hạ quá giang. Chạm khắc tại đây đơn giản. Cung cấm một gian xây nối liền với trung đường, xây mái chảy lợp ngói nam, diện tích khoảng 9m^. Tại đây đặt khám và tượng thờ Trần Minh Công. Theo thống kê, đình Tây Đệ Tam còn lưu giữ được: - Câu đối: 03 - Đại tự: 03 - Sắc phong: 05 (Niên hiệu; Tự Đức 33 (1880), Đồng Khánh 2 (188ồ, Khải Định 2 (1917), 2 đạo Khải Định 9 (1924)) 161
- Tượng thờ: 01 (tượng thờ Trần Minh Công). - Đồ thờ khác: 54. Tiêu biểu nhất là bản thần tích “Đinh triều gia tướng Chiêu linh hiển ứng Dũng Dược đại vưoíig” đưọíc soạn lại vào năm Tự Đức 12 (1859). Lễ hội truyền thống tại di tích tổ chức vào ngày 10 tháng 4 âm lịch. Đây là ngày hội có quy mô lớn nhất trong năm. Bên cạnh các nghi thức rước, tế lễ, dân làng còn tổ chức các trò chơi như; Đấu vật, chọi gà, tổ tôm điếm. 162
ĐÌNH TỨC MẶC Đình Tức Mặc nằm ở trung tâm của phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Di tích kề sát trụ sỏ Uỷ ban nhân dân phường, trong khuôn viên rộng rãi rất thuận tiện cho việc tham quan nghiên cứu. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến cầu Sắt rẽ trái khoảng 700m là tới di tích. Thần tích và truyền thuyết địa phương cho biết, đình Tức Mặc thờ thành hoàng Thục Côn công chúa, tên huý là Phạm Thị Côn. Bà là vị tướng có công theo Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Hán xâm lược giành lại nền độc lập cho dân tộc từ những năm 40 - 43 (sau công nguyên). Địa bàn Tức Mặc xưa là nơi bà mộ quân để tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Làng Tức Mặc là trung tâm của hành cung Thiên Trường xưa, là quê hương của nhà Trần. Công trình kiến trúc: Đình làm quay về hướng nam theo kiểu chữ đinh gồm tiền đường 5 gian 2 chái, cung cấm 2 gian. Tiền đường 5 gian, bộ khung làm bằng gỗ lim kiểu bốn hàng cột, hệ thống vì kèo gồm 6 bộ gia công kiểu câu đầu chồng rường, kẻ trường. Cung cấm 2 gian thiết kế kiểu tiền đao hậu đốc. Nối giữa tiền đưòfng với cung cấm là một sân nhỏ, rộng l,2m, dài 3m lát bằng gạch đỏ. Hai gian cung cấm mái bê tông gắn ngói nam. Đây là nơi thờ Thục Côn công chúa. 163
Giải vũ 5 gian, mái ngói tây, vì kèo quá giang đo(n giản. Theo thống kê, đình Tức Mặc hiện còn lưu giữ: - Câu đối: 09 - Đại tự: 03 - Bia thờ: 02 (Niên hiệu: Đức Nguyên 2 (1675) và 1 bia không rõ niên đại.). - Đồ thờ khác: 36 Ngày 24 tháng 4 âm lịch hàng năm là ngày chính kỵ của thành hoàng Phạm Thục Côn. Đây là ngày lễ lớn nhất trong năm, nhân dân địa phương tổ chức rước kiệu quanh làng. Trước năm 1945, vào ngày hội, dân làng còn tổ chức các trò chơi dân gian như: Bơi chải, chọi gà, kéo co, đấu vật. Hiện nay chỉ còn rước tế với quy mô nhỏ. Ngoài ra cứ ba năm một lần nhân dân làng Tức Mặc cùng nhân dân làng Thượng Lỗi tổ chức rước tế giao hiếu vào ngày 24 tháng 11(âm lịch). Vào dịp lễ hội Trần 20 tháng 8(âm lịch) và lễ khai ấn 14 tháng giêng, nhân dân tổ chức rước kiệu về đền Trần. 164
ĐỂN VẠN KHOẢNH (C ổ Trạch từ, Khải X ã tổ từ) Ngôi đền nằm ở phía đông bắc thôn Vạn Khoảnh xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. Theo truyền thuyết tại địa phương thì Vạn Khoảnh là vùng đất được bà Diệp Diệu Hiền thứ phi của vua Trần Thuận Tông cùng em gái là Diệp Diệu Hoa có công chiêu dân khai khẩn bãi bồi ven sông Châu lập nên vào những năm cuối triều Trần. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến cầu Viềng xã Mỹ Phúc (5 km). Từ đây đi thẳng lên đê Ất Hợi khoảng 2km, sau đó rẽ trái theo đường vào thôn khoảng 500m là tới di tích. Đền Vạn Khoảnh thờ Thái tổ Trần Thừa; Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; Diệp minh phi và công chúa Trần Bạch Hoa. Theo tương truyền, vào cuối thế kỷ XIV khi nhà Trần bước vào giai đoạn suy yếu, bà Diệp Minh phi huý là Diệu Hiền là thứ phi của vua Trần Thuận Tông (1377 - 1399) đã cùng em gái Diệp Diệu Hoa và con gái là công chúa Trần Bạch Hoa về ở ẩn tại vùng đất ven sông Châu, sát hành cung Thiên Trường. Tại đây, bà đã chiêu tập dân khai khẩn các bãi bồi ven sông rồi lập ra làng Vạn Khoảnh. Sau đó, Diệp Minh phi đã cho xây dựng ngôi đền để thờ các vị tổ nhà Trần. Sau khi bà và con gái mất, nhân dân đã lập bài vị phối thờ cùng các vị tổ nhà Trần để tri ân công đức. 165
Những năm gần đây, nhân dân địa phương đã rước bài vị Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn từ đền Bảo Lộc về phối thờ tại đền. Qua khảo sát nghiên cứu cho thấy, hiện nay tại Nam Định ngoài đền Thiên Trường (Lộc Vượng) chỉ có đền Vạn Khoảnh là nơi thờ Thái thượng hoàng Trần Thừa. Vì vậy, vấn đề này cần phải tiếp tục nghiên cứu, mà trước mắt là những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ tốt ngôi đền Vạn Khoảnh. Đền Vạn Khoảnh nằm trong khuôn viên phía sau là nhà dân và sông Châu Giang, phía trước là cánh đồng và đường đi Lý Nhân- Hà Nam, đưòíng đến di tích rất khó khăn không có điều kiện để phát huy giá trị. Đền làm kiểu tiền chữ nhất hậu chữ đinh: Toà tiền đường 3 gian được dân làng phục dựng năm 1992, bộ vì kiểu quá giang trốn cột (quá giang bằng bê tông), bẩy tiền bằng chất liệu bê tông, mái lợp ngói tây. Trung đường 3 gian khung gỗ lim, vì kèo quá giang, nền lát gạch men Trung Quốc. Cung cấm 1 gian mái chảy đổ bê tông gắn ngói nam. Trên bệ thờ gian giữa đặt ngai, bài vị thờ thuỷ tổ Thái thượng hoàng Trần Thừa. Theo thống kê, đền Vạn Khoảnh còn lưu giữ được: - Sắc phong: 05 (niên hiệu: Tự Đức 6 (1853), Tự Đức 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Khằi Định 9 (1924)). Nhân dân địa phương tổ chức lễ tưởng niệm công ơn các vị thần vào các dịp: 1 5 - 1 8 tháng giêng; 15 đến 20 tháng 8 và ngày 10 tháng 12 âm lịch với nghi thức chủ yếu là dâng hương. 166
ĐÌNH VĂN HƯNG (Đình Kim Hưng) Đình thuộc thôn Văn Hưng, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, được xây dựng giữa thôn, gần đường 38A nằm cách đền Trần - chùa Tháp khoảng l,5km về đông nam. Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến khu vực chợ Viềng xã Mỹ Phúc (4,5 km), rẽ trái theo đường ven chợ khoảng 200m là tới di tích. Đình Văn Hưng thờ hai vị thần là Quang Hiển đại vương và Sứ quân Trần Lãm (Trần Minh Công). Theo truyền ngôn, đình Văn Hưng nguyên trước chỉ thờ Quang Hiển đại vương, ông là một vị quan văn dưới triều Trần. Nhưng sau thời kỳ cải cách ruộng đất (năm 1957), đình Đông ở Văn Hưng nơi thờ Sứ quân Trần Lãm do điều chỉnh địa giới hành chính nên bị cắt chuyển về làng Đệ Nhị (Mỹ Trung) và bị dỡ bỏ nên nhân dân đã rước bài vị Sứ quân Trần Lãm về phối thờ tại đình Văn Hưng. Đình Văn Hưng thuộc đất làng cổ Văn Hưng (Kim Hưng) xưa, nơi nhà Trần cho lập nhà Học ở phủ Thiên Trường để đào tạo cho con em hoàng tộc và nho sinh trong vùng. Đình nằm quay về hướng tây trong một khuôn viên hẹp. + Công trình kiến trúc của đình hiện nay chỉ còn lại 2 gian cung cấm xây cuốn vòm lợp ngói nam. 167
+ Phủ mẫu xây dựng kiểu chữ đinh: Tiền đường 3 gian, vì kèo bê tông giả gỗ, mái lợp ngói nam. Cung cấm 2 gian mái lợp ngói nam, nền lát gạch men. Trước đây nhân dân địa phưoỉng vẫn tổ chức lễ dâng hương, rước tế vào ngày 15 tháng 2 và 15 tháng 8 là ngày kỵ của Quang Hiển đại vương. Khoảng vài ba thập kỷ gần đây, nhân dân tổ chức lễ dâng hương vào ngày 10 tháng 4 là ngày kỵ của Sứ quân Trần Lãm. 168
CHÙA VỌNG CUNG Đây là ngôi chùa có từ thời Trần, được xây ở trung tâm phủ Thiên Trường. Năm 1883 khi cho xây thành bằng gạch, Điện Kính Thiên hay Đình Vọng Cung (chùa Vọng Cung ngày nay) được xây dựng trong thành. Đình Vọng Cung được xây dựng trong một vườn cây xanh, mái cong lợp ngói mũi hài, cột gỗ lim to đen bóng, phía trước là một sân gạch đỏ tươi nơi các quan đầu tỉnh ngày rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy và Tết Nguyên Đán đến cúng lễ. Ngày 17/9/1945, Hội Phật giáo được UBHC Thành phố Nam Định cho chuyển Vọng Cung làm nơi thờ Phật và là nơi tu hành của các tăng ni, Phật tử được đổi tên thành chùa Vọng Cung để mọi người tới bái vọng. Đây là một sự kiện lịch sử lớn trong đương đại, lúc đương thời cố Hoà thượng trụ trì Thích Tâm Thi - pháp danh Tuệ Tạng nguyên Thượng thủ tăng già toàn quốc đã nói “Trong một đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở nước ta, Vọng Cung được chuyển thành chùa là một lịch sử đầu tiên trong thòi đại” . Năm 1947, khi quân Pháp trở lại xâm chiếm Thành phố chúng đã cho san bằng chùa Vong Cung. Năm 1948 - 1950 được nhân dân giúp đỡ các tăng ni phật tử đã xây lại chùa. 169
Năm 1954 - 1964 chùa được tu bổ thành Bảo sái cho mọi người chiêm bái. Năm 1965 máy bay đánh Mỹ đánh sập mái chùa Năm 1966 ngôi chùa mới được xây dựng. Năm 1972 giặc Mỹ lại đánh bom san phẳng chùa. Năm 1973 chùa xây dựng được 5 gian nhà nhỏ để thờ Phật. Năm 1974 - 1975, chùa được xây thêm 10 gian nhà nhỏ để tiếp khách với 2 cổng lớn và hàng rào phía trước dài lOOm. Năm 1983 - 1988 chùa được xây các nhà chính với nội, ngoại thất như ngày nay. Hiện nay chùa Vọng Cung đã được xây dựng tại 28 đường Trần Phú trên diện tích đất 3000m^ Bắc giáp trường THCS Quang Trung, Nam giáp đường Trần Phú, Đông giáp đường, Tây giáp đường Đông Kinh Nghĩa Thục. Chùa Vọng Cung được các kiến trúc sư dựa trên các mái chùa cổ kính của miền Bắc cùng vói lý luận hiện đại đã thiết kế thành một ngôi chùa cổ kim kết hợp mang đậm đà bản sắc dân tộc. Chùa Vọng Cung toạ lạc theo hướng Nam và được chia thành 4 khu: chính giữa là ngôi bảo điện 2 tầng, tầng trên là Bảo điện, tầng dưới là giảng đường với các thư phòng. Bên phải ngôi bảo điện là khu 2 tầng (thấp hơn nhà bảo điện), tầng trên là tổ đường, tầng dưới tiếp khách thăm chùa. Khu nhà Tứ Ân nằm vuông góc với nhà thờ Tổ, được xây theo hình chữ u, giữa có sân rộng. Giữa sân là một đài hương hình hoa sen để khách thắm hương cầu nguyện. Bên trái ngôi bảo điện là ngôi 170
nhà khách lưu trú. Cách một khoảng sân nhỏ giữa ngôi bảo điện là con đường lát gạch xi măng đến 5 ngôi bảo tháp, phía trước vườn bảo tháp là một dãy cây cổ thụ, cây cảnh quý hiếm, sát bên vườn tháp là khu lăng mộ. Chùa Vọng Cung là một công trình kiến trúc khép kín, cân xứng, hài hoà chuẩn mực, các khối liên kết với nhau tạo nên một công trình kiến trúc không gian sân - vườn - nhà rất hợp lí, làm cho mỗi người khi bước chân vào chùa đều cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng, thanh thoát. 171
PHỤ LỤC LỄ HỘI TRUYỂN THỐNG TẠI ĐỂN TRẦN - CHÙA THÁP Di tích lịch sử văn hoá đền Trần - phường Lộc Vượng thành phố Nam Định ngày nay được xây dựng trên nền của Tiên miếu xưa. Sách Đại Việt sử kí toàn thư kỉ nhà Trần ghi: “Tân Mão năm thứ 7 (1231)... Mùa thu tháng 8, vua ngự đến hành cung Tức Mặc làm lễ hưỏmg ở Tiên miếu, ban yến cho các bô lão trong hương và cho lụa theo thứ bậc khác nhau...” . Như vậy đương thời vua (Trần Thái Tông) đã về làm lễ ở Tiên miếu. Đến năm 1239 vua sai Phùng Tá Chu về xây cung điện ở hương Tức Mặc. Tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262) nhân dịp Thượng hoàng ban yến tiệc tại quê nhà vua Trần Thánh Tông quyết định xây dựng cung triều nhà Trần ở Tức Mặc. Trải qua gần một ngàn năm do thời gian, chiến tranh cung triều nhà Trần không còn tồn tại nhưng con cháu dòng họ Trần cùng với các triều đại phong kiến thời Lê, thời Nguyên và nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều quan tâm tu bổ và tôn tạo khu di tích - lịch sử văn hoá đền Trần - Tiên miếu xưa và cũng chính là “Thái miếu” của nhà Trần (1225 - 1413). Song song với việc tu bổ công trình kiến trúc của khu di tích đền Trần thì việc tổ chức lễ kỉ niệm ngày sinh, ngày mất của 14 vua Trần cùng các danh tướng, danh thần và các vị thần 172
có liên quan đến mảnh đất phát tích đế vương cũng được nhân dân địa phương và nhà nước của các triều đại tổ chức rất long trọng. Đó là việc làm thể hiện đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của hậu thế đối với các bậc tiền nhân. L Kính chép truyền thuyết dân gian ở thôn Tức Mặc về ngày lễ ở đền Cố Trạch: - Ngày kị An Sinh Vương: ngàyl tháng 4 kính cập liệt vị truy tôn Hoàng đế (Tức từ thân sinh An Sinh Vương Trần Liễu trở lên). - Ngày kị Thiện Đạo Quốc mẫu: mùng 1 tháng 6. - Ngày kị Hưng Đạo Đại vương: 20 tháng 8. - Ngày kị Thiên Thành công chúa: 28 tháng 9. - Ngày kị Hưng Vũ Vương: 24 tháng 4. * Kính cập tứ vị vương tử, vương nữ, vương tế, vương tôn. Ngày kị 2 vị thành hoàng: Thành Hoàng Lê phụ Trần sắc phong Uy Minh trấn quốc đại vương thượng đẳng thần: Ngày 5 tháng giêng, phối thờ Lư Cao Mang đại vương. Kính cập bản xứ thổ thần. - Từ mùng 1 đến mùng 5 tháng giêng lễ Tết Nguyên đán. - Ngày 30 tháng chạp lễ trừ tịch, ngày 22 tháng chạp lễ Táo quân. Đại lễ m ùa xuân và hội truyền thống T rần Hưng Đạo Như đã nêu lịch lễ hội ở trên, kỷ niệm ngày sinh - ngày mất của các vua và hoàng tộc triều Trần tại khu di tích đền Trần - chùa Tháp có tới trên hai mươi ngày nhưng đại lễ mùa xuân - lễ khai ấn vào giờ Tý (23 giờ đêm 14 đến 1 giờ sáng 173
ngày 15 tháng giêng) và ngày hội truyền thống Trần Hưng Đạo 20 tháng 8 (âm lịch) là tấp nập hơn cả. Đại lễ mùa xuân - lễ khai ấn tại khu di tích đền Trần - chùa Tháp. Tìm trong thư tịch cổ: 1. Tấm bia để ở hành lang bên trái chùa Tháp do Trần Trọng Hàng soạn khắc vào niên hiệu Duy Tân thứ 8 (1914) Trần miếu tự nam quan âm kiều kỷ. Cung thẩm Nam Định tỉnh Tức Mặc quý hương phụng sự Trần miếu, nguyên lệ mỗi tế xuân đán chi vọng hội đồng đại lễ. Địa phương quan phụng mạnh chí tế duy cẩn, tiền nhất nhật hương chi Tráng Kiện, Động Kính, Thượng Bái tam thôn hiệp' đồng đại lễ, phụng ấp Lộc Quý, Hạ Lộc, Hậu Bồi tam xã phụng nghinh long giá nghệ yết Phổ Minh tự, tham bái cung nghinh Trần triều nhân miếu Giác hoàng Tiên đế Trúc Lâm đệ nhất tổ hương lô tiên miếu đại tự lễ thành, thứ nhật phục nghinh hồi tự an vị đính tạ hồng cư. Hất kim tam niên nhất cử khâm tuân quốc điển chí long trọng dã. Gian nghinh đạo sở kinh ước thập dẫn ngoại hữu kiều yêu giá Đại Hán Khố Nhi xứ giao cừ chi thượng dĩ thông thủy lai dĩ vận nông công... Dịch nghĩa: Bài ký cầu Quan âm ở phía nam đền chùa nhà Trần Kính xét quý hương Tức Mặc thuộc tỉnh Nam Định noi thờ tự của nhà Trần. Nguyên lệ cũ cứ mỗi năm đến rằm tháng giêng thì hội đồng lễ lớn, các quan địa phương vâng mệnh trên làm lệ rất là 174
kính cẩn. Trước một ngày ba thôn Tráng Kiện, Động Kính, Thượng Bái hợp đồng với ấp thờ là ba xã: Lộc Quý, Hạ Lộc, Hậu Bổi xin rước long giá đến chùa Phổ Minh bái yết. Ngày ấy còn kính rước bát nhang tiên đế Trần triều nhân miếu Giác hoàng Trúc Lâm đệ nhất tổ, từ chùa tới miếu nhà Trần làm lễ lófn xong ngày hôm sau lại rước về chùa làm lễ yên vị đính tạ ơn to. Đến nay thì ba năm một lần tuân theo điển lệ quốc gia là rất long trọng. Trên quãng đường dài ước 10 dặm, có một ngôi cầu bắc qua trên con cừ tại xứ Đại Hán Khố Nhi chỗ hai dòng nước giao nhau, nơi dòng nước này cốt để lưu thông phòng khi hạn úng và thuyền bè đi lại tiện lợi của nhà nông... 2. Sách Nam Định dư địa chí của Nguyễn ô n Ngọc viết năm 1893 mục phong tục có viết: Đền thờ vua Trần ở xã Tức Mặc, hằng năm đến ngày rằm tháng giêng có hội vật, xã Đệ Nhị hằng năm đến ngày rằm tháng tám, xã Phụ Long ngày 18 tháng 7 đều có hội đua thuyền: Tục ngữ nói rằng: “Ba năm chúa mở khoa thi Đệ Nhất thì xướng, Đệ Nhì thì bơi Đệ Tứ thì đánh cờ người Phương Bông tứ xứ mồng mười tháng ba 3. Sách Nam Định địa dư chí lược của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh viết đầu thế kỷ XX gồm 2 tập thượng và hạ. Tập hạ viết về phong tục ở Tức Mặc như sau: Tức Mặc có lệ 15 tháng giêng đấu vật ỏ miếu Trần, Thựơng Lỗi có lệ thi xôi ngày 5 tháng giêng. E)ền Tức Mặc có lệ tế nam quan vào ngày 5 tháng giêng, tế nữ quan vào ngày 6 tháng giêng 175
tại nơi thờ bà Thục Côn. Phụ Long, Đệ Nhì có lệ thi chèo thuyền vào ngày 18 tháng 7. Phương Bông và Đệ Tứ hát bài bông^'^, đánh cờ, bói cá vào ngày 10 tháng 3, ngày này có lệ hát nữ “thái bình an lạc” buổi tối, ai hơn sẽ được thưởng một mâm xôi đỗ xanh và 10 quan tiền. Từ trong thư tịch cổ đến truyền thuyết ở địa phương, tục lệ đầu xuân miếu nhà Trần có quy định việc tế tổ trong những ngày này có tổ chức; rước nước, tế cá cùng những hình thức khích lệ võ công cũng như văn chương thơ phú... Hàng năm cứ đến ngày 14, 15, 16 tháng giêng có sự hợp tế của 8 xã, lúc đầu năm nào cũng thực hiện sau vì tốn kém cũng như việc tổ chức quá vất vả nên định lại vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Theo các văn bản Hán Nôm đã trình bày ở trên và khảo sát thực tế thì các xã có liên quan đến cung điện phủ đệ nhà Trần bao gồm: - Làng Lốc tức Lộc Quý thờ Thái sư Trần thủ Độ. - Làng Hậu Bồi thờ Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. - Làng Kênh tức Động Kính thờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. - Làng Bái tức làng Đại Bái thờ tướng Yết Kiêu. - Làng Bái Trạch thờ tướng Lư cao Mang. - Làng Hạ Lộc tức Bảo Lộc thờ Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Tương truyền điêu múa bài bông do Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải tổ chức trong cuộc mừng chiến thắng. 176
- Làng Tức Mặc thờ vua Trần Nhân Tông ở chùa Tháp. - Làng Vọc tức làng Thành Thị thờ vua Trần Nhân Tông Làng Vọc vốn nằm trên đất huyện Mỹ Lộc nhưng đến năm Thành Thái thứ 2 (1890) lại sáp nhập vào tổng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam. Do đường xá xa xôi và địa giới hành chính có sự thay đổi nên sau này ở đây chỉ đưa lễ đến tham gia không phải rước kiệu xuống nữa. Tại làng Tức Mặc dân làng rước kiệu “ngọc lộ” từ chùa Phổ Minh đưa bát hương Trúc Lâm đệ nhất tổ sang Trần Miếu vào chiều ngày 14. Theo lệ cổ vào ngày 14 tháng giêng, ông trưởng họ Trần lên chùa thắp hương tam bảo sau đó vào thượng điện nơi thờ Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông làm lễ xin rước bát nhang ra kiệu “ngọc lộ”. Đám rước có đầy đủ nghi trượng và đoàn tín đồ cầm phan theo sau. Theo sau kiệu “ngọc lộ” còn có kiệu thần của các xã Lộc Quý, Hạ Lộc, Hậu Bồi... Tuy chùa Phổ Minh và Trần Miếu chỉ cách nhau khoảng 400m mà phải khởi kiệu từ đầu giờ Mão (5h) đến cuối giờ Mão (7h) mới đến nơi. Khi đoàn kiệu đến Trần Miếu thì tế chủ rút 5 nén nhang ở lô nhang kiệu “ngọc lộ” cắm vào lô nhang ở đền Thiên Trường trước thần chủ của Đức vua Trần Nhân Tông và bắt đầu tiến hành tế lễ đến chiều 16 mới rước kiệu trở về chùa. Trưa ngày 14 còn rước bát nhang tổ họ Trần và choé nước xuống đền phố Hàng Tiện là nơi thờ Đức Thánh Trần, tế lễ một tuần rồi rước về đền Thiên Trường. Trước khi rước về có hái một chùm hoa hồng đem theo để cắm trên ban đền Thiên Trường, còn choé nước thì để lại Hàng Tiện làm nước Thánh. Lệ này đã lâu không thực hiện được nữa. Nhưng qua việc 177
khảo sát thực tế khiến những người làm công tác nghiên cứu cần có câu giải đáp mối quan hệ của tộc Trần giữa Tức Mặc và phố Hàng Tiện. Theo lệ xưa trước khi khai ấn, kiệu thần ở các nơi cũng như kiệu “ngọc lộ” đã được tề tựu tại Trần Miếu. Diễn biến đêm khai ấn được thực hiện như sau: Thường ngày ấn để ỏ cung cấm đền Cố Trạch. Đêm ngày 14 ban tổ chức chuẩn bị mực dấu, lụa vàng, giấy vàng dọc theo khổ khoảng 20x 40cm, trước giờ Tý tế chủ phải làm lễ ở đền Cố Trạch xin rước ấn ra kiệu. Đúng giờ Tý đoàn rước có nhạc cổ nghi trượng cùng đoàn người mặc áo tế rước từ Cố Trạch sang Thiên Trường, đặt ấn tại ban công đổng rồi tiếp tục xin khai ấn. Trước giờ phút linh thiêng của buổi khai ấn, chủ tế ngồi nghiêm trang ở chiếu giữa bổi tế dâng ấn cùng tập lụa, giấy đặt phía trước một cách trịnh trọng. Chiêng chống nổi lên và tế chủ lần lượt đóng ấn trên giấy, hoặc trên lụa vải. Mọi người vây quanh chờ đợi được nhận tờ điệp có dấu ấn của miếu nhà Trần. Bên cạnh dấu son ban tổ chức còn phải đề năm, tháng, ngày trong tờ điệp nhưng viết sao đủ số chữ để khi tính phải có chữ sinh (theo kiểu tính sinh, lão, bệnh, tử). Những người đến dự lễ khai ấn nhận được lá ấn đem về dán ở đền phủ từ đường hoặc tại gia, cầu mong đại tài, đại lộc mọi sự như ý. Mặc dù phải túc trực thâu đêm làm lễ khai ấn, nhưng sáng ngày 15 tháng giêng vẫn tổ chức rước nước trước khi đi, chủ tế vào lễ xin rút 1 nén nhang ở bát hương thờ thuỷ tổ và 14 nén nhang ở 14 lô nhang thờ Hoàng đế, rồi cắm vào bát nhang 178
công đồng, đặt trên kiệu bát cống. Đoàn phù giá trang nghiêm trong lễ phục cùng cờ biển kiếm quất uy nghi, phụng nghinh kiệu ra phía ngoài cổng đền rồi dừng lại làm lễ tế cáo trời đất cầu cho mưa thuận gió hoà, cầu cho quốc thái dân an. Sau đó đám rước tiếp tục diễu hành theo nhịp chiêng trống ra bến sông Hồng ở Hữu Bị cách bến sông Hồng chừng 3km. Khi đoàn kiệu đến bến sông đám rước dừng lại, ban tế chuẩn bị choé đựng nước xuống thuyền, chỏ ra giữa sông lấy nước tế. Người được cầm bình đi lấy nước được dân làng bình chọn từ trước, phải là người khoẻ mạnh, có đạo đức, con cháu đầy đủ, trong năm gia đình khồng có chuyện buồn, sau khi được dân làng chọn cử phải ăn chay, lên đền ở hàng tuần trước ngày mở hội. Khi thuyền rước nước ra giữa dòng sông thuyền được neo lại và bắt đầu làm lễ. Theo nhịp trống chiêng những gáo nước trong ở giữa dòng được múc lên đổ đầy bình phủ vải lụa đỏ chuyển lên kiệu trở về đền theo đường cũ. Nước rước về được múc chuyển vào các bát đưa lên ban thờ và bắt đầu tổ chức tế nước. Sau khi tế nước, lộc này được ban cho con cháu họ Trần uống, để nhắc nhở hậu duệ không quên nguồn gốc của tổ tiên, cũng như nghề sông nước mà ông cha đã từng trải, để từ đó dựng lên cơ nghiệp đế vương dòng tộc Đông A. Sáng ngày 16 tháng giêng, có lệ tế cá tại đền Thiên Trường. Cá gồm có 1 đôi cá triều đẩu, cá chép mỗi con 2 cân. Tất cả đều dùng cá sống được đựng vào trong 11 thùng sơn đỏ, đặt ở trước bát nhang công đồng. Tế từ mờ sáng đến giữa trưa thì rước cá này thả ra sông Hồng. Sáng 16 khi trời chưa sáng rõ thì dùng lễ chay tế trời đất ở 179
giữa sân, hướng về phía đồng bày lễ chay, dưới đặt lễ tam sinh, lễ cả con lợn sống, sau đó hạ lễ xuống thì trời sáng, đem số thịt ấy chia cho cả họ và biếu quan sở tại (mỗi lễ biếu đều 1 cân thịt và một cân xôi). Trưaló, cả họ hội ở giữa sân đền, cứ theo thứ vị mỗi ông trưỏmg chi vào lễ một tuần rồi ngồi uống rượu ăn xôi thịt. Đêm 16 tế tạ, quy định phải tế xong trước giờ Hợi. ' Vào tháng 8 tại đền Cố Trạch tổ chức lễ hội trong ba ngày: 19, 20, 21. Theo lệ cũ, hằng năm vào ngày 19 tháng 8 thì một số noi thờ đức Thánh Trần Hưng Đạo như các làng: Hữu Bị, Đệ Nhất nay thuộc xã Mỹ Trung, đền Nam Mỹ ở thành phố Nam Định phải rước kiệu có bát hương hay bài vị về đền Cố Trạch trước để tham dự lễ hội, Sáng ngày 20 tháng 8, các làng Hậu Bồi, Phương Bông thờ Thượng Tướng Thái sư Trần Quang Khải, làng Đệ Tứ thờ Chiêu minh vương Trần Nhật Duật tiếp tục rước kiệu về đền và đựơc làm lễ trước vì đây là các con của Hoàng đế nhà Trần. Các đoàn tế nam quan và nữ quan ở các nơi về lần lượt vào tế. Lễ hội đền Cố Trạch hằng ngày còn có đánh đu, đấu vật, cờ thẻ... Ban đêm các gánh chèo về diễn phục vụ bà con, làm cho không khí lễ hội thêm rộn ràng náo nhiệt. Đại lễ mùa xuân và hội truyền thống Trần Hưng Đạo hiện nay. Theo các bậc cao niên ở hương Tức Mặc phủ Thiên Trường xưa, nay thuộc phường Lộc Vượng thành phố Nam Định. Ngay từ khi ngôi nhà thờ đại tôn họ Trần được chuyển thành ngôi đền thờ các vua Trần của làng Tức Mặc thì lẽ khai ấn được tổ chức thường xuyên hàng năm để kỷ niệm một thời 180
vàng son của đơn vị hành chính phủ Thiên Trường xưa. Lễ khai ấn thường do quan đầu tỉnh về chủ trì sau này tỉnh giao cho huyện sở tại và những năm trước cách mạng tháng Tám giao cho Chánh tổng hoặc lý trưởng điều hành. Hiện nay lễ khai ấn do những người cao tuổi của địa phương đứng ra chủ ■ trì. Ban đầu lễ khai ấn được tổ chức trọng thể tại đền Thiên Trường. Từ năm Tự Đức thứ 6 (1853) đền Cố Trạch được xây dựng ngay bên cạnh đền thờ 14 vua Trần thì các quả ấn được để ngay trong chính cung đền này. Từ đó hằng năm địa phương tổ chức rước quả ấn từ đền Cố Trạch sang đền Thiên Trưòfng mới làm lễ khai ấn. Chuẩn bị cho đêm khai ấn, ngay từ buổi tối ngày 14 tháng giêng, các lão ông, lão bà và dân làng Tức Mặc đã tề tựu trước đền, trước là lễ thánh, sau tham dự buổi lễ trọng thể bắt đầu từ giờ Hợi (11 giờ đêm) người chủ trì buổi lễ khăn áo chỉnh tề vào chính cung làm lễ xin rước hòm ấn sang đền Thiên Trường. Trong hòm có hai con dấu: con dấu nhỏ trên mặt có hai chữ “Trần miếu” bằng chữ triện, con dấu lớn có chữ “Trần miếu tự điển” (lệ thờ tự tại đền Trần) khắc theo kiểu chữ chân. Cả hai con dấu đều bằng gỗ. Trước đây còn một con dấu bằng đồng khắc bốn chữ triện “Trần triều chi bảo” (dấu quốc bảo của triều Trần) con dấu này mới dùng làm lễ khai ấn nhưng do thời gian, chiến tranh con dấu này đã bị thất lạc. Đoàn rước hòm ấn được tổ chức rất trọng thể và đông vui. Đi đầu có cờ thần rồi đến phù giá bao gồm bát biểu, chấp kích, kiệu rước hòm ấn, các mâm hoa quả, đoàn bát âm, đoàn tế 181
cùng với dân làng và khách thập phương. Đoàn đi theo nhịp trống chiêng, vòng qua hồ dưới ánh sáng lung linh của đèn nến, sao trcd và hệ thống đèn cao áp Khi đoàn tế tiến vào trong đền Thiên Trường, tất cả tỏa ra hai bên cho đội tế tiến lên trước. Đội tế sắp xếp hàng ngũ và bắt đầu làm lễ tế xong, ông chủ tế thay mặt dòng họ Trần dâng một lá sớ lên các vua Trần. Khi các vị quan trên làm lễ khai ấn thì còn có một lá sớ nữa của chính quyền đương chức dâng lên. Các thủ tục tế, tấu sớ xong, người chủ cuộc tế dùng con dấu đóng lên tờ giấy đầu tiên, sau đó để các vị trong ban hành lễ đóng tiếp con dấu có chữ “Trần miếu tự điển” cho mọi ngưòd đưa về nhà dán lấy may và trừ tà dấu son đỏ đóng lên các tờ giấy vàng, Trước đây số dấu đóng phát ra không nhiều vì chủ yếu chỉ phục vụ cho dân làng Tức Mặc đến lễ và xin về. Hiện nay nhà đền còn dùng vải vàng thay cho giấy đóng dấu son lên dùng được bền và trang trọng, việc chuẩn bị ấn để phục vụ cho du khách nhà đền phải chuẩn bị trước hàng tháng. Kết thúc buổi lễ khai ấn các cụ già bao giờ cũng tổ chức tế tạ và mọi ngưòd ra về với không khí hồ hỏi vui vẻ. Trong những năm gần đây lễ khai ấn đầu xuân tại đền Trần đã trở thành một đêm hội rất đông vui. Nó không còn bó hẹp trong phạm ’’i làng Tức Mặc và nhân dân thành phố Nam Định mà du khách ở mọi miền đất nước đổ về đây xin “lộc ấn” rất đông. Nhiều du khách muốn đến với lễ khai ấn đầu năm để tìm hiểu nét đẹp văn hoá truyền thống, có người coi đây như một dịp du xuân độc đáo và mọi ngưòi đến khu di tích đền 182
Trần - chùa Tháp dâng hương tưởng niệm đều mong muốn được ban phúc lành cho gia đình và bản thân. Một điều rất có ý nghĩa trong nội dung lá ấn còn có dòng chữ: “Tích phúc vô cương”. Chữ tích ở đây có nghĩa là ban cho. Vậy du khách về dự lễ hội đền Trần nhận được ấn lộc đầu xuân nghĩa là được vua ban cho mọi điều phúc lành. Ngày 20 tháng 8 âm lịch kỷ niệm ngày mất của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn được tổ chức long trọng tại quần thể di tích văn hoá Trần tại Nam Định. Không chỉ tổ chức ở đền Cố Trạch, phường Lộc Vượng, đền Bảo Lộc mà trong những năm gần đây hội 20 tháng 8 được mở rộng ra cả khu vực các xã Mỹ Trung, Mỹ Phúc, Phường Lộc Hạ. Để cho phù hợp và khái quát hơn cả các lễ hội được mở vào tháng 8, xung quanh những xã liền kề thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cùng các tướng lĩnh thời nhà Trần, nên lễ hội này được gọi chung là “Hội truyền thống T rần Hưng Đạo”. Tại khu di tích đền Trần được mở cửa thường xuyên để đón khách tham quan, lễ Thánh, lễ vua. Chuẩn bị cho lễ hội 20 tháng tám, các bậc cao niên trong làng Tức Mặc chuẩn bị trước hàng tháng trời để ngày 20 tế Đức Thánh Trần tại đền Cố Trạch Rước kiệu: Đoàn rước được tổ chức trang vọng bao gồm nghi trượng, dàn bát âm, kiệu bát cống, đội tc nam cùng dân làng. Đi theo đoàn rước còn có đội sư tử, 5 đội múa rồng tham dự làm cho buổi lễ thêm tưng bừng. Cũng bắt đầu từ ngày 15 lễ hội được tổ chức quy mô hơn, nhân dân trong tất cả các tỉnh 183
thành về tham dự ngày càng đông hơn, các hoạt động văn hóa và nhiều trò chơi dân gian bắt đầu đi vào hoạt động. Thi đấu vật, biểu diễn võ thuật, chọi gà, đấu cờ tưófng... Cùng nhiều đội nghệ thuật quần chúng, nghệ thuật nghiệp dư của địa phương đã tham gia biểu diễn phục vụ lễ hội cả ban ngày và buổi tối trên sân khấu nổi trên sân đền. Các hoạt động vui chơi giải trí tại lễ hội đều được tổ chức tại khu vực đền Trần vì ở đây mới có mặt bằng có nhiều bãi rộng để mọi người tham gia, tại khu vực chùa Tháp do không gian hẹp nên chủ yếu để nhân dân về lễ và tham quan di tích. Dự tính của ban tổ chức mọi hoạt động văn hoá sẽ được đưa ra khu vực trước cửa đền Trần. Về hội còn có nhiều đội tế nam quan và nữ quan. Thường các đội phải cử người về trước để đăng ký ngày tế trước đền thờ đức thánh Trần là đền Cố Trạch, nhiều đội tế chuẩn bị rất kỹ, ngoài quần áo đồ lễ họ còn có cả đội nhạc riêng. Ngay từ ngày đầu hội, ban tổ chức lễ hội đã bắc rạp che bạt cả khu sân đằng trước đền Cố Trạch để phục vụ các đoàn về tế, có ngày hoạt động từ sáng đến tận đêm khuya. Đến với lễ hội nhân dân các nơi thường tổ chức thành từng đoàn, mỗi đoàn tuỳ số lượng người nhiều hay ít mà bố trí từ 2 đến 3 mâm chủ yếu là hoa quả, bánh trái trầu cau được têm cánh phượng, thuốc lá điếu được bóc ra cắm một cách nghệ thuật trên cac mâm hoa quả. Đây là những đoàn trình chầu vód những khăn áo xanh đỏ tím vàng dâng lễ vật tại các điện cùng những lá sớ tấu trình được các thày làm lễ kêu cầu điều may, điều phúc. 184
Ngày 20 tháng tám là ngày kỵ của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, vào buổi sáng bao giờ cũng kỷ niệm rất trọng thể. Các đồng chí lãnh đạo cao nhất của tỉnh, thành phố cùng các đoàn thể ban ngành có mặt để tham dự. Buổi lễ diễn ra tại sân đền Thiên Trường. Trước sân rồng, kỳ đài được trang trí một cách trang nghiêm. Sau diễn văn khai mạc, trích đọc Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là đến phần dâng hương, dâng hoa. Sau ba hồi chiêng trống vang lên rộn rã, 14 thiếu nữ dâng 14 mâm hoa lên các vua Trần. Tiếp theo là các bậc thái lão trong trang phục quần áo tế thay mặt dân làng vào dâng hương trước, sau đó các đoàn khách thập phương dâng hương một hàng dọc đi theo nhịp trống trầm hùng lần lượt tiến vào chính cung để thắp nén tâm hương. Đoàn làm lễ dâng hương từ đền Thiên Trường tiếp tục đi sang đền Cố Trạch để kính cẩn dâng hương đức Thánh Trần cùng gia quyến và các tướng lĩnh thân tín của Ngài. Lễ khai ấn đầu xuân và “Hội truyền thống Trần Hưng Đạo ở phủ Thiên Trường xưa, nay là khu di tích đền Trần - chùa Tháp và đền Bảo Lộc đang được nhân dân đến tham dự ngày càng đông. Quần thể di tích văn hoá Trần tại Nam Định đã và đang được nhà nước quan tâm đầu tư tôn tạo ngày một khang trang, trong tương lai du khách về dự lễ khai ấn đầu năm, thăm quê hương các vua Trần sẽ được thăm quan cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa xưa. 185
VĂN TẾ VĂN TÊ TRẦN TRIỂU (14 vua Trần, Hưng Đạo đại vương, vương cô) Duy: Việt Nam quốc, Nam Định tỉnh, thành phố, Lộc Vượng phường. Đinh Hợi niên, bát nguyệt, nhị thập nhật. Xuân tòng cổ lệ, kị nhật chí kỳ, tất dụng lễ dã cảm chiêu cao vu: Trần triều thập tứ vị hoàng đế bệ hạ Trần triều Hưng Đạo đại vương thượng đẳng thần Đương niên hành khiển tôn thần vị hạ Trần triều Vương phụ mẫu, vương nam tử, vương cô, vương gia gia thần liệt v ị ... Cung duy Hoàng đế bệ hạ, thông minh duệ trí, văn vũ toàn tài, Đại vương nhân lương quả cảm, trí dũng siêu phàm, tôn thần thế Thượng đế chi hiếu sinh, thừa chư linh chi chí đức. Phù hạ dân xứ xứ hoạch cát tường, hộ vạn ấp nhân nhân đồng phú dụ. Phục vọng: Tứ thời vô tật bệnh chi đa ưu, bát tiết hữu đinh tài chi lưỡng vượng. Thực lại lộ vô ngộ sài lang, thường đắc quan hữu nhân lương thiện. Dĩ văn vạn vọng! (Lễ ở Yên Tử, Thái Vi, Thái Đường... đều dùng bài này). 186
VĂN TÊ ĐỨC THÁNH TRẦN (Hưng Đạo Đại Vương) Ngày...tháng...năm... Chúng tôi... dâng tấm đan thành, trước di linh đức Trần H ưng Đạo Đại vương, khấn rằng: Trời mở Đông A một cõi nhờ máu gan xưa; Đất truyền Hồng Lạc muôn năm, tưỏng ông cha cũ. Nhớ linh xưa: Đức sách Kiền Khôn; Tài xoay vũ trụ. Trung hiếu không hai; Võ văn gồm đủ. Lòng ưu ái trong triều ngoài dã, thưomg xót nòi chung; Chí kinh luân dọc đất ngang trời, giúp vì nước tổ. Đem thân đài các, ra tay giữ vững âu vàng; Gặp lúc phong ba quyết trí nghiêng tuôn máu đỏ. Hai trận sông Đằng sôi nổi, giặc Bắc hồn kinh; Mấy năm đất Kiếp vang lừng, trời Nam mặt tỏ; Dư uy mặt nước réo ầm ầm, Chinh khí đỉnh non soi rực rỡ. “Đầu dẫu mất thề không hàng giặc” một Icd lẫm liệt, oai đông lân bang; Kiếm chưa mòn, tiếng vẫn reo thiêng, mấy bộ lược thao, danh truyền lịch sử. 187
Nay nhân: gặp tiết trung thu; Nhớ ngày tháng hoá. Mượn bút mực thay hương kỷ niệm, dâng khách cửu tuyền; Cùng anh em khắc mảnh đan tâm, lạy người thiên cổ. Ngọn kim phong hiu hắt, cỏ cây nhường thấu tấm tình thành; Hòn cố quốc mơ màng, hương khói như khod lòng luyến mộ. Dám xin: lấy lượng xét soi; Mở lòng ủng hộ. Anh hùng dẫu khuất, khi thiêng còn dắt lũ thanh niên; Nhiệt huyết chưa phai, đuốc sáng mong soi đường tiến bộ. Sao cho: nước lắm tài hay; Dân thêm giàu có. Hết nỗi hung hoang, sạch phường tham đố. Muôn tượng ngày thêm tô điểm, như thêu như vẽ, như hớn hở hoa xuân; Trăm nghề ngày một mở mang, càng giỏi, càng tinh, càng vẻ vang sinh thú. Rồi đây! Hàng chục triệu nào con, nào cháu, mài tim gan, trông nếp cũ cũng theo; Muôn nghìn năm nào gái, nào trai, luyện vây cánh, sấn đường mây thẳng trỏ. Cùng Âu Mỹ năm châu chen bước, so người này cho được thỏ thuê; 188
Cũng Rồng tiên trăm trứng chung bầu, soi gương trước khỏi điều thẹn hổ. Trời Nam, bể Á, công đức ngàn trùng; Non Kiếp, sông Đằng, khói hương muôn thuở. Nước có anh hùng là thế, lòng Trần sùng bái, mong được chứng minh, Đời dù tang hải đến đâu, lượng thánh cao thâm, dám xin tế độ. Thượng hưởng ! Chú thích: - Tấm đan thành: Tấm lòng son, lòng thành. - Đông A: Chữ Đông và chữ A ghép lại thành chữ Trần(họ của Himg Đạo Đại vưcmg). - Kiền khôn: Trời đất. - Âu vàng; Kim âu, biểu tượng của đất nước. - Sông Đằng, đất Kiếp; nhắc lại chiến công hiển hách chống quân Mông cổ xâm lược, trận đại thắng ỏ Bạch Đằng Vạn Kiếp. - Hung hoang: mất mùa, đói kém, hoang tàn. - Tham đố: Tham nhũng. 189
Search
Read the Text Version
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
- 36
- 37
- 38
- 39
- 40
- 41
- 42
- 43
- 44
- 45
- 46
- 47
- 48
- 49
- 50
- 51
- 52
- 53
- 54
- 55
- 56
- 57
- 58
- 59
- 60
- 61
- 62
- 63
- 64
- 65
- 66
- 67
- 68
- 69
- 70
- 71
- 72
- 73
- 74
- 75
- 76
- 77
- 78
- 79
- 80
- 81
- 82
- 83
- 84
- 85
- 86
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- 92
- 93
- 94
- 95
- 96
- 97
- 98
- 99
- 100
- 101
- 102
- 103
- 104
- 105
- 106
- 107
- 108
- 109
- 110
- 111
- 112
- 113
- 114
- 115
- 116
- 117
- 118
- 119
- 120
- 121
- 122
- 123
- 124
- 125
- 126
- 127
- 128
- 129
- 130
- 131
- 132
- 133
- 134
- 135
- 136
- 137
- 138
- 139
- 140
- 141
- 142
- 143
- 144
- 145
- 146
- 147
- 148
- 149
- 150
- 151
- 152
- 153
- 154
- 155
- 156
- 157
- 158
- 159
- 160
- 161
- 162
- 163
- 164
- 165
- 166
- 167
- 168
- 169
- 170
- 171
- 172
- 173
- 174
- 175
- 176
- 177
- 178
- 179
- 180
- 181
- 182
- 183
- 184
- 185
- 186
- 187
- 188
- 189
- 190
- 191
- 192
- 193
- 194
- 195
- 196
- 197
- 198
- 199
- 200
- 201
- 202
- 203
- 204
- 205
- 206
- 207
- 208
- 209
- 210
- 211
- 212
- 213
- 214
- 215
- 216
- 217
- 218
- 219
- 220
- 221
- 222
- 223
- 224
- 225
- 226
- 227
- 228
- 229
- 230
- 231
- 232