Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore TRUYỆN ĐỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

TRUYỆN ĐỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

Published by SÁCH HAY - SƯU TẦM, 2022-12-29 02:10:56

Description: Truyện lịch sử

Search

Read the Text Version

uống rượu và một hộp đựng trầu được trang trí rất khéo... Sau này Giôn Oaitơ lại được vào thành Sài Gòn một lần nữa. Ông mô tả bên trong thành khá kỹ càng: “Lúc trở lại cổng thành phía Nam, chúng tôi đi qua một cái kho lớn làm bằng tre, mái rạ. Trong kho có khoảng 250 khẩu đại bác đủ cỡ, nhiều khẩu bằng đồng đúc theo kiểu châu Âu. Các cỗ súng được đặt trên giá gỗ. Trong đống vũ khí này, tôi nhận thấy có nhiều khẩu pháo nhập được đúc từ thời vua Lui (Louis) XVI... Trong một trại gác gần cửa, có một vài người lính bị phạt đeo gông. Nhân dịp này tôi mới biết rằng gông của quân lính làm bằng tre, còn gông của các tội phạm khác được làm bằng gỗ lim nặng. Ở cổng thành phía Đông là một bức lũy và một cột cờ, phấp phới lá cờ nhiều màu của nước này vào ngày đầu tháng âm lịch… Bốn cửa thành đều làm theo kiểu Âu, bằng gỗ nặng có đóng thêm đai sắt cho chắc chắn. Những cây cầu bắc qua hào được thợ xây trang trí đẹp mắt”, “Góc thành phía Tây là một nghĩa địa dành cho quan lại, có những ngôi mộ xây theo kiểu Trung Hoa, vài tấm bia mộ được chạm khắc khá đẹp. Phía Đông Bắc có sáu ngôi nhà lớn được rào cọc xung quanh thành từng khu riêng. Mỗi khu nhà dài khoảng 120 bộ 49

(tương đương 42 m), rộng khoảng 80 bộ (tương đương 29 m). Các mái nhà lợp ngói tráng men, có rui và cột rất lớn. Đây là kho khí giới và lương thực. Những ngôi nhà của quân lính thì tồi tàn hơn, nằm giữa những bụi cây. Phía ngoài các tường thành có rất nhiều cây đại, một thứ cây có nhiều hoa trắng, tỏa hương thơm rất xa vào tháng 10, 11. Người ta trích từ hoa này một thứ dầu và coi là một phương thuốc trị lành mọi vết thương. Ở cổng thành, trên một đoạn đường dốc, có vài con voi của nhà vua, to hơn voi ở Ấn Độ. Những người quản tượng ngồi ngất ngưởng trên cổ voi, thổi những ống nhỏ báo cho mọi người tránh ra xa”. Theo Giôn Oaitơ, “Sài Gòn có một vị trí quân sự rất thuận lợi về phòng thủ, ở một vùng đất cao trên bờ sông có hình nón úp phủ đầy cây cối. Phần chóp nón đã được san phẳng lấy chỗ xây thành, có hào rộng và sâu bao quanh, lấy nước từ sông vào như một con kênh. Đây là một nơi phòng thủ đáng nể, có thể chống cự với sự bao vây dài ngày của quân đội châu Âu. Các tường thành bị phá hủy thời trước đã được xây lại theo một kiểu tốt hơn”... 50

TỔNG TRẤN GIA ĐỊNH LÊ VĂN DUYỆT Lê Văn Duyệt cùng cha là Lê Văn Toại cư trú ở vùng Rạch Gầm, Mỹ Tho. Khi Nguyễn Ánh chạy đến Rạch Gầm năm 1780, ông nguyện đi theo và được làm Thái giám Nội đình. Năm 1800, Lê Văn Duyệt dùng kế hỏa công, tiêu diệt hạm đội của quân Tây Sơn ở Thị Nại (Quy Nhơn). Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi đã phong ông làm Khâm sai Chưởng tả quân dinh, giao cho ông thống suất bộ binh ra đánh Bắc Hà. Thành công, ông được cử làm Kinh lược xứ Thanh - Nghệ. Dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng, Lê Văn Duyệt là quan đại thần được tin cẩn. Khi nào trong nước có loạn lạc hoặc khó khăn về ngoại giao, vua Nguyễn đều ủy thác cho ông. Gần 20 năm làm Tổng trấn Gia Định, ông được ban nhiều quyền hành như được phép tiền trảm hậu tấu (xử trước tâu sau), được quyền tuyển 51

mộ quan lại… Ông dẹp yên được các cuộc nổi dậy của người Khơme, được người dân Gia Định nể sợ gọi là “ông lớn Thượng”. Việc đầu tiên sau khi nhận chức Tổng trấn Gia Định là ông cho tiến hành điều tra dân số, khẩn hoang, lập đồn điền. Theo ông, muốn trừ trộm cướp, không gì bằng nuôi dân; nuôi dân không gì bằng cho dân ruộng đất để cày cấy. Từ đó, vùng Gia Định trở thành vựa lúa, dân cư no đủ, yên ổn làm ăn. Để bảo vệ biên giới Tây Nam, ông dâng sớ xin vua Gia Long cho đào kênh Vĩnh Tế làm đường thuỷ và đắp đường bộ từ Sài Gòn đi Nam Vang (nay là Phnôm Pênh). Ông luôn lo bảo hộ cho Chân Lạp. Khi Nặc Ông Chân, vua Chân Lạp, bị em là Nặc Ông Nguyên, có quân Xiêm giúp đỡ, thoán đoạt ngôi vua, chạy sang Đại Nam cầu cứu, Lê Văn Duyệt đã đem quân bảo vệ, hộ tống vua về nước, rồi rút đại binh về chỉ để lại Nguyễn Văn Thoại với hơn 100 quân lo bảo vệ vua Chân Lạp. Từ đó, quân Xiêm e ngại không dám đem quân sang đánh Chân Lạp nữa. Năm 1824, để trả ơn, Nặc Ông Chân xin cắt đất ba phủ cho nhà Nguyễn. Lê Văn Duyệt khuyên vua Minh Mạng chỉ nên nhận hai phủ ở gần Châu Đốc, Giang Thành để làm hàng rào cho trấn Gia Định, nhưng mọi thứ thuế thu 52

được ở hai phủ này đều trả cho Chân Lạp. Minh Mạng chấp nhận. Để các nước láng giềng e sợ quyền uy của Đại Nam, hằng năm ông tổ chức diễu binh sau Tết Nguyên đán và mời các sứ thần Chân Lạp, Xiêm sang dự khán. Quân lính Đại Nam thao diễn với lực lượng hùng hậu cùng các đội voi, hổ với quy mô lớn của thuỷ quân trên sông Sài Gòn. Lê Văn Duyệt mất ngày 30-7-1832, Minh Mạng thăng chức Thái bảo, lập đàn tế, an táng ở làng Bình Hoà, Gia Định. Sau đó Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) làm loạn, Minh Mạng xuống chiếu truy tội Lê Văn Duyệt, san phẳng mồ mả, truy đoạt chức và dựng bia với dòng chữ: “Chỗ này là nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp”. Khi Tự Đức lên ngôi, ra lệnh thủ tiêu tấm bia và cho xây lại mộ của ông. 53

KHO LƯU TRỮ QUỐC GIA ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM Ngày nay những du khách đến Huế có dịp đi qua đường Đinh Tiên Hoàng sẽ bắt gặp một tòa nhà nằm ở giữa lòng hồ Học Hải, đó chính là lầu Tàng Thư, nơi lưu giữ tài liệu của sáu Bộ và các Nha dưới triều Nguyễn. Mùa hè tháng Năm năm 1827, dựng lầu Tàng Thư (Tàng Thư lâu) ở phường Doanh Phong trong Kinh thành Huế. Khi đó Thự Thống chế Đoàn Đức Luận được giao trọng trách điều hành binh lính tham gia xây dựng lầu Tàng Thư lên đến 1.000 người. Việc xây dựng được tiến hành trong vòng 1 năm thì hoàn thành. Theo thống kê của Bộ Hộ và Bộ Binh, trong Tàng Thư lâu, bạ tịch về số địa bạ của toàn quốc năm 1907, tổng cộng tất cả có 157.348 bản. Mục đích và chủ trương xây dựng kho lưu trữ này của vua Minh Mạng được phản ánh trong tấm bia có tiêu đề “Tàng thư lâu ký” được 54

dựng tại đây (hiện tại không còn). Nội dung: “Thần nghe rằng sở dĩ sổ sách của nước nhà để lại đến ngày nay là nhờ có kho cất giữ chung ở một nơi cẩn thận, tránh xa nước và lửa để có thể lưu truyền lại lâu dài về sau, hầu làm khuôn phép đời đời. Nay kính theo tôn ý của Hoàng thượng, ngài dù bận rộn với muôn việc nước, nhưng cũng có lúc rỗi để quan tâm đến việc này mà ngài còn hạ lệnh xây tòa nhà lầu ở phía Đông Bắc của Hoàng thành. Đắp đất, xây đá và gạch, đào hồ sâu xung quanh, xây tường ở bờ bên ngoài quanh hồ, chỉ dụng nhiều vật hạng trong kho, nào có tiếc. Sau khi xây dựng xong, Hoàng thượng hạ lệnh cho các quan chuyên trách kiểm kê lại sổ sách, chọn ngày lành, chuyển đến tầng trên của tòa nhà lầu, tàng trữ tại đây để tỏ rõ sự phát huy mưu lược vào việc sử trụ to lớn, lưu truyền mãi mãi tấm gương tốt đẹp cho đời sau. Tòa nhà lầu xây cất để làm nơi tàng trữ sổ sách, cho nên kính cẩn đặt tên cho nó như thế. Ngày tốt, tháng Mạnh đông (tháng Mười) Bính Tuất năm Minh Mạng thứ 7 (1826)”. Qua tấm bia trên, chúng ta càng có cơ sở xác định, vua Minh Mạng là người đã sáng lập ra Tàng Thư lâu - Kho lưu trữ quốc gia đầu tiên của nước ta. 55

MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ VĂN THƯ GIẤY TỜ TRIỀU NGUYỄN Việc đóng dấu trên các văn bản được quy định rất cụ thể và chặt chẽ. Theo Đại Nam hội điển sự lệ (quyển 225) chỉ tính riêng loại bảo tỷ (ấn quý) của nhà vua triều Nguyễn có tới 14 ấn vàng, 6 ấn ngọc và 4 ấn” tôn tàng bảo tỷ” (ấn quý phải kính cẩn cất giữ) như Truyền quốc kim bảo, Truyền quốc ngọc tỷ… Mỗi loại ấn đều được quy định cách bảo quản sử dụng và thủ tục đóng ấn. Các chỉ dụ của vua đều đóng dấu “Ngự tiền chi bảo” trên chữ đề niên hiệu và trên hai chữ “Khâm thử”. Những văn bản có chữ “châu phê” thì đóng dấu” Ngự tiền chi bảo” phía cuối và chữ vua phê. Tất cả tấu sớ, công văn, trên những chỗ tẩy xóa, sửa chữa, bổ sung và chỗ giáp lai của văn bản đều phải đóng dấu “Văn lý mật sát bảo”, phải đặt hương án ở chính giữa nhà Tả vu và do quan chức của Bộ cùng Nội các thực hiện. 56

Đối với những văn kiện quan trọng cần đóng dấu “bảo tỷ” (ấn quý của nhà vua) thì phải tuân thủ một số nghi thức trang trọng. Bộ nha phải tâu trình xin phép trước và đến ngày, thuộc viên Nội các đem hòm ấn đặt trên hương án ở gian thứ nhất bên tả điện Cần Chánh, hai bên có hai quản vệ cầm gươm đứng chầu. Sau khi nhận rõ dấu niêm phong, viên giữ chìa khóa mở hòm ấn và thuộc viên Nội các kính cẩn đóng dấu trước sự chứng kiến của một hội đồng gồm đại thần các Bộ đương ban túc trực và Nội các (quy định từ năm Minh Mạng thứ 12, năm 1831). Ngày đóng dấu phải ghi nhật ký và quan chức hội đồng phải ký tên, đóng dấu quan phòng làm bằng chứng. Đóng dấu xong phải bỏ vào hòm ấn, niêm phong như cũ và giao cho Viện Cơ mật cất giữ (quy định từ năm Minh Mạng thứ 16, năm 1835). Nội các là văn phòng của nhà vua và cũng là nơi lưu giữ văn thư lưu trữ. Tất cả văn thư sau khi đã xử lý đều được lưu giữ tại Sở Bản chương của Nội các. Ba chương của Sở Bản chương còn lưu giữ văn thư của sáu Bộ và các nha môn của triều đình. Sở Bí thư trước là Tào đồ thư, Tào bí thư còn lưu giữ và bảo quản thơ văn ngự chế của vua, các loại sách của triều đình (quan thư) và các văn kiện ngoại giao. 57

Như vậy Nội các là nơi lưu giữ một khối lượng rất lớn văn thư và tư liệu của triều Nguyễn. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) dựng điện Đông các ở sau nhà Tả vu của điện Cần Chánh làm nơi chầu trực của phòng văn thư sau là Nội các thay phiên nhau vào túc trực ở Đông các gọi là “nhập các” và được cấp một loại bài ngà gọi là “nhập các nha bài”. Họ phải túc trực suốt ngày đêm, mỗi người một ngày một đêm1. _______________ 1. Khâm định Đại nam hội diển sự lệ, tập 14, tr28-31, Nxb. Thuận Hóa - Huế, 1993. 58

THẺ BÀI TRIỀU NGUYỄN Thẻ bài dưới triều Nguyễn cấp cho quan lại với mục đích chính để đi lại, ra vào làm việc trong cung điện của triều đình. Ngay từ thời Gia Long (1802-1820), đã xuất hiện thẻ bài. Ông Mixen Se-nhô (Michel Chaigneau) là người Pháp sinh ra ở Huế năm 1802, sinh sống tại đó đến năm 1819 có viết trong hồi ký Những kỷ niệm về Huế cho biết: \"Những người được phép đi qua các cửa của Hoàng thành như quan lại, Thị vệ, Hoàng thân... đều buộc phải đeo trên ngực hoặc quàng vào cổ một tấm thẻ, trên đó một mặt ghi cấp bậc, mặt kia để ghi phẩm hàm của từng người. Các thẻ ấy có dạng hình chữ nhật, cao 55 mm, rộng 25 mm. Phần đầu của thẻ là một điểm tròn nối lên và có lỗ để buộc dây đeo. Các thẻ bài bằng vàng, bạc, ngà hoặc gỗ mun. Thẻ của các quan Đại thần làm bằng vàng có dây đeo bằng lụa đỏ có pha lẫn vài sợi vàng. Thẻ của các quan khác thì bằng bạc với dây 59

buộc ít diêm dúa hơn. Thẻ của Thư lại bằng ngà với dây nhiều màu, còn những nhân viên phục dịch thì có thẻ bài gỗ mun với dây đeo bình thường màu đen. Ngoại trừ các quan, phàm những người đeo thẻ bài trước khi vào cửa buộc phải trình rõ cho lính gác thấy dấu hiệu đặc trưng của thẻ mình\". Sang đến thời Minh Mạng (1820-1840), việc đeo thẻ bài được quy định rõ trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Năm 1824, vua Minh Mạng có Chỉ Dụ: \"Lập ra hai tín bài bằng ngà cho chức vụ thanh tra gọi là Tuần tra. Thẻ bài kích thước: rộng 1 tấc(1) 8 phân(2), dài 2 tấc 5 phân, được gắn trên một cái cán cũng bằng ngà dài 1 tấc 5 phân và được chạm viền một khung hoa, ở giữa ghi Phụng chỉ Tuần tra mặt sau ghi ngày tháng lập thẻ bài\". Năm 1825, nhà vua cho phép làm các thẻ bài bằng bạc cho các Thị vệ, thẻ dài 1 tấc 5 phân, rộng 1 tấc. Năm 1826, cho phép “làm thẻ bài ngà nhỏ cho các Ty viên, mỗi bộ 1 tấm, để đủ số chỉ một Ty viên đeo vào trực chầu”. Như thế, ban đầu dưới triều Nguyễn, thẻ bài _______________ 1. 1 tấc = 1 dm. 2. 1 phân = 1 cm. 60

chủ yếu cấp cho những người có nhiệm vụ đặc biệt ra vào khu vực cung cấm. Năm 1831, vua cấp thẻ bài cho một Đại thần quan văn và một Đại thần quan võ, có thể ra vào cung cấm bất cứ khi nào có lệnh nhà vua triệu tập: “Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Văn võ Đại thần vào trực xin phái cấp cho hai tấm bài ngà, một tấm khắc những chữ Văn ban Đại thần vào trực, một tấm khắc Võ ban Đại thần vào trực”. Năm 1833, ban Dụ: “Nay cửa đại cung sửa sang lại, thể chế rất nghiêm, phàm quan viên lớn nhỏ đi lại trong cung, phải có thẻ bài để kiểm soát, mới tỏ ra cẩn mật. Trong đó như Đường quan các Bộ, Viện, Tự, Các về ban Văn, Thống quản quân dinh về ban Võ, cùng Lang trung sáu Bộ, đều là thường trực, nên chiểu ngạch số chế cấp. Còn ban Văn từ Viên ngoại lang, ban Võ từ Suất đội trở xuống, số người có nhiều, nên chiểu tùy nơi việc nhiều việc ít, chước lượng chế cấp. Thẻ bài nên dùng ngà hoặc sừng và chiều dài, rộng bao nhiêu phân tấc, cũng nên chiểu theo phẩm trật cao thấp mà làm...”. Đối tượng được cấp lúc đầu gồm: Thượng thư, Đô sát Tả ngự sử, Tả hữu Tham tri, Tả hữu Thị lang, các Đại lý tự, Thái thường tự, Quan lộc tự, Phủ doãn Thừa Thiên... Về sau được mở 61

rộng thêm nhiều như: Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ.... Cũng năm đó (1833), vua ban Dụ: “Đã chuẩn y Nghị của Bộ, Viện, Nội các, xin chế tạo thẻ bài bằng ngà, bằng sừng, cấp cho quan viên ngày thường ứng trực, để tỏ ra cẩn mật, nay chế cấp đều đã xong, trừ Hoàng tử và các chư Công (người được phong tước Công) không ở lệ ấy. Còn quan viên văn võ lớn nhỏ ở Kinh, cho đến Thư lại, binh lính theo lệ được ra vào cửa Đại cung, chuẩn đều chiếu theo thẻ bài của bản thân mình mà đeo. Viên Thủ hộ xét thực cho qua. Nếu không đeo thẻ bài, thì không cho đi lại cửa ấy. Ai trái luật thì chiếu luật trị tội, để giữ luật nghiêm cấm...”. Năm 1834, lại có Dụ: “nay đã đặt Viện Cơ mật, kiểu mẫu thẻ bài của Đại thần Viện ấy, chuẩn dùng bài vàng bọc bạc, trong khắc 4 chữ Cơ mật Đại thần. Nếu Đại thần Viện ấy đến Viện làm việc cơ mật quan trọng, thì đeo thẻ bài ấy, để cho phân biệt, còn ngày thường lui tới và ở nha làm việc, thì vẫn chuẩn cho đeo bài ngà nguyên hành”. Năm 1837, cấp bài ngà cho Trấn tây thành Tướng quân, Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát, Lãnh binh. Chỉ Dụ viết: “Chuẩn chế ngay cho Trấn tây Tướng quân một tấm bài ngà cho Tướng quân đeo; lại chuẩn chế bài ngà cho Tổng đốc, 62

Tuần phủ, Án sát, Lãnh binh các trực tỉnh, mỗi viên 1 tấm, phát giao nhận giữ lấy, viên nào gặp có tuyên triệu về Kinh, chuẩn cho đem về theo, để tiện lúc ra vào đi lại trên cửa Đại cung”. 63

TRIỀU NGUYỄN PHÒNG CHỐNG MA TÚY Trong lịch sử luật pháp nước ta, từ triều Nguyễn mới đặt ra điều luật phòng chống ma túy. Vừa lên ngôi (1820), vua Minh Mạng đã ban lệnh cấm thuốc phiện: “Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ nước ngoài đem lại, những phường du côn lêu lổng lúc mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường thường nghiện mà không bỏ được. Vì nó, quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì phá hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật... nay nên bàn để nghiêm cấm đi”. Quy định ban đầu chưa phân biệt người buôn bán với người nghiện hút thuốc phiện, nhưng đã có hình thức khen thưởng và xử phạt những người có liên quan: “Không kể quan hay dân, ai dám hút thuốc phiện và cất giấu mà nấu nướng, buôn bán thì xử tội đồ (đày đi làm khổ sai). Ai bắt được mà tố cáo thì thưởng 20 lạng 64

bạc. Cha anh không răn cấm con em, hàng xóm biết mà không tố cáo đều bị xử đánh trượng”. Qua nhiều năm tiếp tục hoàn thiện dần những quy định chi tiết và cụ thể về việc quản lý và xử lý buôn bán ma túy, đến tháng Chạp năm Kỷ Hợi, vua Minh Mạng đã giao Bộ Hình thảo một bản Điều lệ cấm thuốc phiện hoàn chỉnh nhất. Sau khi ngự lãm, vua Minh Mạng phê duyệt chuẩn y cho thi hành. Bản điều lệ này gồm 6 điều như sau: 1. Đối với người nghiện hút: Các quan lại, quân dân ai hút vụng thuốc phiện tang vật từ 1 cân trở xuống phạt 100 trượng, phát lưu 3.000 dặm; tang vật từ 1 cân trở lên thì xử theo tội chứa giấu và tịch thu gia sản; cha anh không biết ngăn cấm con em, hàng xóm biết mà không khai báo đều bị phạt 100 trượng. Ai cáo giác đúng, bắt được tang vật từ 1 cân trở lên thì theo lệ cáo giác buôn bán thuốc phiện mà nghị thưởng. 2. Đối với những người trong nước buôn bán thuốc phiện: Những người hàng phố làm nghề nấu thuốc phiện bán và tàng trữ, bán thuốc phiện sống, thuốc phiện chín, từ 1 cân trở xuống, phát đi sung quân ở biên viễn; từ 1 cân trở lên xử giảo giam hậu (hình thức treo cổ nhưng còn giam để chờ xét), tịch thu gia sản 65

sung công; cha anh kẻ phạm pháp không biết ngăn cấm con em, hàng xóm biết mà không tố cáo thì trừng phạt theo tội nghiện hút thuốc phiện. Kẻ cùng thuyền biết mà không báo quan thì xử nặng hơn tội đối với hàng xóm một bậc (đánh 60 trượng, đồ 1 năm). Người nào cáo giác đúng sự thực thì tang vật dưới 1 cân thưởng 100 quan; từ 1 cân trở lên thưởng 150 quan; từ 30, 40 cân trở lên thì tâu lên trên để xin thưởng thêm. 3. Đối với thuyền buôn ngoại quốc, tang vật bắt được từ 1 cân trở xuống xử giảo giam hậu; 1 cân trở lên xử giảo lập quyết (treo cổ ngay lập tức). Thuyền và hàng hóa bị tịch thu sung công. Bọn thuyền buôn, thuyền chài chuyên chở thuê thuốc phiện lên bờ và các cửa hiệu trong phố cất giấu thuốc phiện thì xử cùng một tội với chính phạm, tịch thu toàn bộ gia sản. Người đi cùng thuyền biết mà không báo thì xử kém hơn kẻ chính phạm hai bậc (đánh 100 trượng, đồ 3 năm). Nếu vì ăn tiền mà không tố cáo thì theo tội “uổng pháp” (bẻ cong pháp luật) theo mức nặng mà xử. Nếu người nào cáo giác đúng sự thực thì thưởng: tang vật dưới 1 cân thưởng 150 quan; 1 cân trở lên thưởng 200 quan; từ 30, 40 cân trở lên thì tâu xin thưởng thêm. 4. Đối với thuyền công được phái đi ngoại quốc, nếu quan lại, quân lính mua giấu thuốc 66

phiện thì xử: tang vật dưới 1 cân xử trảm giam hậu (hình thức xử chém nhưng còn giam để chờ xét); từ 1 cân trở lên xử trảm lập quyết (xử chém ngay lập tức), tài sản kẻ can phạm bị sung công. Kẻ nhận tiền chở thuê và cất giấu thuốc phiện ấy cũng bị xử đồng tội với chính phạm và bị tịch thu gia sản. Người cùng thuyền biết mà không báo, thì xử kém chính phạm một bậc (đánh 100 trượng phát lưu 3.000 dặm). Nếu vì ăn tiền mà không tố cáo thì theo tội “uổng pháp” (bẻ cong pháp luật) theo mức nặng mà xử. Nếu người nào cáo giác đúng sự thực thì thưởng: tang vật dưới 1 cân thưởng 200 quan; 1 cân trở lên thưởng 250 quan... Những người thừa hành công vụ mà ăn đút lót có ý dung túng thì xử cùng một tội với chính phạm. Người nào do sơ suất khám xét không phát hiện ra được thuốc phiện lậu thì phạt đánh 100 trượng, cách chức. Người nào có công tận tâm phát hiện ra thuyền buôn có thuốc phiện thì chiếu theo lệ cáo giác thuyền buôn mà thưởng cho một nửa tiền. Nếu là quan chức thì lại gia thêm hai cấp. 5. Những người đi bắt thuốc phiện mà ăn tiền, cố ý tha, hay bọn lý dịch sở tại ăn tiền mà chia nhau, khi phát hiện ra đều bị xử như kẻ chính phạm. Người nào xét xử không đúng, tội 67

không đến mức xử tử mà tính tang vật đến mức phải xử tử thì theo mức nặng ấy mà nghị xử. Người cấp trên để cho kẻ dưới làm sai thì cũng xử kém can phạm một bậc. 6. Người nào vu cáo cho người tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, nghiện hút thuốc phiện đều chiểu theo luật \"vu cáo\" mà xử kém một bậc. Nếu vu cho người ta để đến tội chết mà đã trót xử quyết rồi thì kẻ vu cáo cũng bị tội chết. Kẻ nào mượn cớ những điều cấm thuốc phiện để gây nhiễu loạn làm khổ dân lành thì chiếu lệ những kẻ côn đồ hung ác mà nghị xử tội đi đày... Bản Điều lệ này chỉ thực hiện từ triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và những năm đầu triều vua Tự Đức. Từ năm 1865, nhà Nguyễn chỉ duy trì lệnh cấm thuốc phiện với quan chức và học trò. 68

THÀNH TỈNH HÀ NỘI THỜI NGUYỄN Năm 1831, vua Minh Mạng chia địa hạt từ Quảng Trị đổ ra Bắc Thành thành 18 tỉnh, trong đó có một đơn vị hành chính mới gọi là tỉnh Hà Nội, bao gồm cố đô Thăng Long và ba phủ Thường Tín, Ứng Hoà và Lỵ Nhân của trấn Sơn Nam. Tòa thành của Bắc Thành cũng được đổi gọi là thành tỉnh Hà Nội. Thành Hà Nội xây năm 1805 theo kiểu Vôbăng (Vauban) của Pháp vào cuối thế kỷ XVII, mỗi bề dài chừng 1 km, tường thành chạy khúc khuỷu, bốn góc là những ụ pháo đài. Tường cao trên 3 m, xung quanh thành có hào rộng 12 m. Thành mở 5 cửa gồm cửa Chính Đông, cửa Chính Tây, cửa Chính Bắc, cửa Chính Đông Nam và cửa Tây Nam. Mỗi cửa có một lối ra vào cuốn vòm, hai bên là cánh gà, phía trên xây lầu canh mái chồng, phía trước xây mang cá. 69

Cột cờ Hà Nội Trong thành chia làm 3 khu theo hướng Bắc Nam. Khu giữa là Hành cung và Cột cờ, khu Đông Nam chủ yếu là dinh thự, khu Tây chủ yếu là kho tàng. Hành cung xây trên nền điện Kính Thiên đời Lê. Phía sau Hành cung là hai tòa nội điện có tả vu, hữu vu. Khu hành cung hình chữ nhật theo hướng bắc nam dài 354 m, rộng 132 m, được khép kín bằng bức tường gạch, phía trước là cửa Đoan Môn, phía sau là lầu Tĩnh Bắc (vẫn được gọi là lầu Công chúa). Khu Hành cung này nằm trong doanh trại quân đội, phía đông đến phố Hoàng Diệu, khoảng từ 70

phố Bắc Sơn đến phố Hoàng Văn Thụ. Đứng trên tam cấp Cột cờ Hà Nội có thể nhìn thấy cửa Đoan Môn. Thành Hà Nội bị quân Pháp phá bỏ vào cuối thế kỷ XIX để xây khu trung tâm. Theo sơ đồ thiết kế năm 1897, phố Phan Đình Phùng nằm sát phía Bắc thành, phố Trần Phú nằm trên tường thành phía Nam, phố Phùng Hưng nằm trên hào thành phía Đông, đường Hùng Vương nằm sát phía trong tường thành phía tây. Hình vuông trên bản đồ Hà Nội ngày nay do bốn phố trên tạo thành chính là bốn mặt thành Hà Nội xưa. Vết tích năm cửa thành ngày nay có thể tìm thấy qua dấu vết trên thực địa hoặc trong các thư tịch. Cửa Bắc còn được giữ lại ở phía Nam phố Phan Đình Phùng. Cửa Đông nằm trên phố Cửa Đông quãng từ phố Lý Nam Đế đến phố Phùng Hưng. Cửa Tây ở vị trí Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay. Cửa Đông Nam nằm trên ngã tư phố Trần Phú và phố Tôn Thất Thiệp, cửa Tây Nam ở quãng cửa Đại sứ quán Liên bang Nga (nay là Trụ sở của Bộ Tư pháp). Phố Nhà Hỏa và phố Hàng Cháo nằm trên tường mang cá của cửa Chính Đông và cửa Tây Nam, phố Cao Bá Quát có hình gấp khúc chính là theo bờ hào phía Nam của thành. 71

Địa danh Hà Nội ban đầu là tên một đơn vị hành chính cấp tỉnh, đồng thời là tên tòa thành với vị trí là tỉnh lỵ của tỉnh này. Thời Pháp thuộc, Hà Nội mới được mang tên của một thành phố và từ sau năm 1945 là tên của Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 72

ĐỊA DANH HOÀNG SA TRONG CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN Trong các Châu bản (tức bản đã được nhà vua dùng bút son ngự phê) triều Nguyễn, từ năm 1830 đến 1847 thuộc hai triều vua Minh Mạng và Thiệu Trị, hiện còn lại 10 văn bản (gồm 6 bản tấu, 2 bản phúc tấu, 2 bản dụ) đề cập trực tiếp đến địa danh Hoàng Sa. Cụ thể như sau: 1. Hai bản tấu của Thủ ngự Đà Nẵng: Ngày 27 tháng Sáu năm 1830, thuyền buôn của tài phú Pháp Êđoa gồm thuyền trưởng Đôôchily, phái viên Lê Quang Quỳnh cùng thủy thủ đoàn, ngày 20 rời cảng Đà Nẵng đi Lữ Tống (Lucon) buôn bán. Giờ Dần ngày 27, Êđoa và 11 thủy thủ đi trên chiếc tam bản lớn cập cảng nói rằng: canh 2 đêm 21, ở phía tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng) thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái viên còn đi sau, cảng đã phái thuyền đem theo nước uống để cứu hộ, giờ Ngọ đã gặp và đưa họ về cảng. 73

2. Dụ ngày 18 tháng Bảy năm 1835: Chuyến đi Hoàng Sa này công vụ đã hoàn tất. Riêng Cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công hồi đã trì hoãn, có Chỉ giao cho Bộ Công trị tội, nay phạt 80 trượng, cho phục chức Cai đội. Các tên giám Trần Thành Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất, phạt mỗi tên 80 trượng. Các tên hướng dẫn hải trình Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh thưởng mỗi tên mỗi tiểu “Phi long ngân tiền”; binh thợ, dân phu hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo thưởng mỗi tên một quan tiền. 3. Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng Hai năm 1836: Vua phê: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân (năm Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu””. Đã phái thủy quân Chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhựt giờ Mão hôm qua đi Ô thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc vãng thám Hoàng Sa kỳ này, Bộ đã cho làm đủ số cột mốc gởi gấp vào Quảng Ngãi. Châu cải (Vua sửa lại): “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thu ngay, giao cho tên ấy nhận biện”. Châu phê: “Thuyền nào đi tới đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”. 74

4. Tấu của Bộ Công ngày 13 tháng Bảy năm 1837: Lần này đi Hoàng Sa trở về, trừ bọn Kinh phái thủy sư Suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, đà công Lưu Đức Trực khởi hành chậm trễ đã bị xử phạt. Nên chăng chiếu lệ thưởng tặng cho binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo, xin đợi Chỉ. 5. Dụ ngày 13 tháng Bảy năm 1837: Trước có phái Thủy sư, Giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ họa đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm bốn tên can tội đã có Chỉ phạt trượng. Còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương, dân phu mỗi tên hai quan tiền. 6. Tấu của Bộ Công ngày 11 tháng Bảy năm 1837: Xin 5 ngày cứu xét Tấu sách của Quảng Ngãi xin khai tiêu (thanh toán) việc chi cấp lương tiền cho dân phu công vụ Hoàng Sa. 7. Tấu của Quảng Ngãi ngày 19 tháng Bảy năm 1838: Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho hai chiếc “Bổn chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng Ba tới hạ tuần tháng Sáu, hoàn tất công vụ nay đã trở về. 8. Tấu của Bộ Công ngày 2 tháng Tư nhuận, 75

năm 1838: Việc phái vãng để đo đạc giáp vòng Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn định khởi hành hạ tuần tháng Ba, nhưng vì gió đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng Tư vẫn chưa khởi hành được, xin Tấu trình. 9. Phúc tấu của Bộ Công ngày 26 tháng Giêng năm 1847: Tháng Sáu năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) phụng sắc về việc đình hoãn thám Hoàng Sa. Nay phúc Tấu đợi Chỉ có nên vãng thám Hoàng Sa kỳ này hay không? Châu phê: “Đình hoãn”. 10. Tấu của Bộ Công ngày 28 tháng Chạp năm 1847: Hằng năm, vào mùa xuân theo lệ phái trình, binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm 1845 có Chỉ đình hoãn vãng thám năm 1846. Vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin được đình hoãn, Châu phê: “Đình hoãn”. 76

ĐƯỜNG THIÊN LÝ ĐẦU THẾ KỶ XIX Đường quan lộ, về sau gọi là đường thiên lý đã được hình thành từ thời Lý Thái Tông. Khi đó, đường quan lộ được chia ra nhiều cung đường, đặt nhà trạm để chạy giấy tờ công văn. Trải qua triều Hồ, đường thiên lý được tiếp tục mở rộng, năm 1402 đã nối thêm đoạn từ Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh) đến Hóa Châu (Huế). Sau chiến thắng Trà Bàn năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã cho tổ chức hệ thống giao thông liên lạc thông suốt từ Thăng Long đến phủ Hoài Nhơn (Bình Định) bằng đường bộ. Nhằm phục vụ cho cuộc chiến Trịnh - Nguyễn, đường sá hai miền được sửa sang, mở rộng. Trước năm 1653, người Chăm đã tổ chức được hệ thống đường mòn cho voi đi suốt cả vùng duyên hải miền Trung. Các chúa Nguyễn khi làm chủ được vùng này đã kế thừa mạng lưới giao thông có sẵn để phát triển tạo nên 77

đường thiên lý rộng, dài hơn. Ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh cho đắp đường thiên lý đủ rộng để voi, ngựa đi được từ Thăng Long qua Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh vượt Đèo Ngang vào đến tận sông Gianh, Quảng Bình. Nhưng con đường thiên lý - huyết mạch kinh tế quốc gia chỉ thực sự được kiện toàn, hoàn chỉnh nhất dưới triều Nguyễn. Trên con đường này, cứ cách khoảng 25-30 dặm (15-20 km) đặt một nhà trạm để canh phòng và vận chuyển văn thư, tài vật từ Kinh đô đi khắp nơi và ngược lại. Đầu thế kỷ XIX, từ Hà Tiên đến Hà Nội có 97 trạm, năm 1831, dưới triều Minh Mạng đặt thêm 27 trạm, năm sau (1832) mở thêm 9 trạm. Vào giữa thế kỷ XIX, toàn quốc có tổng cộng 133 trạm, từ Huế đến Hà Tiên dài 1832 km, từ Huế đến ải Nam Quan (Lạng Sơn) đường dài 848 km, từ Huế ra Hà Nội khoảng 672 km. Mỗi nhà trạm (hay trạm dịch) có nhân viên biên chế khoảng 50 người, tổng số phu trạm trong cả nước giữa thế kỷ XIX gồm 6.000 người. Mỗi nhà trạm đều được xây bằng gạch hay bằng tre, nứa, lá ba gian hai chái theo cùng một kiểu do Bộ Công quy định. Trên cửa ra vào có treo biển sơn son thếp vàng dài ba thước hai tấc, rộng một thước năm tấc, biển khắc ba chữ 78

tên trạm được viết bằng đại tự. Ở sân trạm trồng cột treo cờ vải vàng, hình vuông dài rộng đều 3 thước. Thời gian chạy trạm quãng đường Phú Xuân (Huế) - Hà Nội quy định là 4-5 ngày, nếu rút ngắn được thời gian sẽ được thưởng từ 5 quan tiền trở lên. Còn nếu chậm phải chịu hình phạt từ 10 roi đến xử tử. Triều đình tạo điều kiện cho phu trạm hoàn thành nhiệm vụ như ưu tiên sang đò, ngựa giẫm phải người khi chạy hỏa tốc không phải lỗi... Quản lý và điều hành sự vụ các trạm dịch trên đường thiên lý thuộc về chức năng của Ty Bưu chính, còn giao lệnh của triều đình và thu nhận báo cáo của các địa phương là nhiệm vụ của Ty Thông sứ. Hai cơ quan này phải túc trực hoạt động ngày đêm trên hệ thống đường thiên lý để việc quản lý trên các mặt quốc phòng, hành chính, xã hội, kinh tế... được thông suốt và nhịp nhàng. Trên con đường thiên lý có những cây cầu bền chắc mà tên gọi còn đến ngày nay như cầu Lim (Ninh Bình). Năm 1826, một số cầu gỗ được chạm trổ, trang trí, lợp ngói, có hàng quán nhỏ bán bên hành lang cầu như ở Sơn Tây, Bắc Ninh, Ninh Bình. Đặc sắc là những chiếc cầu có mái, bên trên lợp ngói, bên dưới là cầu như cầu Tây Đằng (Quảng Oai, Hà Nội),... 79

Các vua triều Nguyễn rất quan tâm đến việc tu bổ con đường huyết mạch của quốc gia, năm 1832, vua Minh Mạng đã ban một đạo Dụ cho Bộ Công nhắc nhở các quan chú ý duy trì và thường xuyên sửa chữa đường thiên lý tại các địa phương. 80

LĂNG GIA LONG Lăng Gia Long bao gồm một quần thể 7 khu lăng mộ gồm lăng Trường Phong, lăng Quang Hưng, lăng Vĩnh Mậu, lăng Thoại Thánh, tẩm mộ Hoàng Cô, lăng Thiên Thọ và lăng Thiên Thọ Hữu. Cả quần thể di tích lăng mộ này tọa lạc ở vùng núi làng Định Môn (nay thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế) được quy hoạch trong khuôn viên rộng tới 2.875 hecta với 42 ngọn núi, đồi cao, đồi thấp. Trong quần thể lăng mộ trên, lăng Thiên Thọ (thờ vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu Tống Thị Lan) nằm ở vị trí trung tâm. Bố cục kiến trúc lăng trải ra theo chiều ngang từ đông sang tây, mặt trước rộng hơn 600 m, ba mặt còn lại đều rộng hơn 400 m. Lăng Thiên Thọ được chia làm 3 khu vực chính là: Tẩm điện, lăng mộ và bia Thánh Đức Thần Công. 81

Lăng Gia Long, Huế Khu lăng mộ nằm ở chính giữa trên núi Chánh Trung, cấu trúc gồm hai lớp tường thành hình chữ nhật bảo vệ mộ phần ở bên trong. Vòng tường trong cao hơn 3 m, chu vi 92 m; vòng tường ngoài cao 3,5 m, chu vi 125 m. Mộ phần của vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu là hai ngôi nhà đá liền nhau. Trước mặt lăng là bái đình với 7 tầng cấp lát gạch. Ở lối đi giữa và hai bên có 6 hàng lan can đắp hình rồng vươn dài. Dưới cùng là sân chầu với tượng quan văn, quan võ, voi, ngựa chạm bằng đá xanh, đứng chầu hai bên. Khu tẩm điện nằm bên phải khu lăng mộ, 82

trên núi Bạch Sơn. Điện chính là điện Minh Thành, làm kiểu nhà kép, trùng thiềm điệp ốc, chính đường 5 gian, tiền đường 7 gian, trong thờ bài vị của vua Gia Long và Hoàng hậu. Đằng sau có Tả, Hữu trực phòng, phía ngoài là Đông, Tây vu, đều 3 gian. Xung quanh khu tẩm điện có tường xây gạch bao bọc, chính giữa phía trước là tam quan, kiểu mái chồng, lợp ngói liệt. Bia Thánh Đức Thần Công đặt ở bên trái khu lăng mộ, trên núi Thanh Sơn. Nhà bia 1 gian, vách xây gạch, mái chồng. Bia đá đặt trên bộ chân quỳ đều khắc bằng đá xứ Thanh. Bia cao gần 3 m, rộng 1,6 m, bệ bia dài gần 2 m, cao 0,9 m, trên bia khắc bài văn do vua Minh Mạng soạn, ca ngợi công đức vua Gia Long dài hơn 1.100 chữ. Trước mặt lăng Thiên Thọ là hồ dài chạy vòng như hình chữ chi. Bên kia hồ, thẳng trước mặt khu lăng, dựng hai trụ biểu bằng gạch, trước nữa là ngọn Đại Thiên Thọ Sơn làm tiền án cho cả khu lăng. Lăng Thiên Thọ bắt đầu khởi công từ năm 1814, sau khi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu băng hà, nhưng đến năm 1833 mới thực sự hoàn chỉnh. 83

VUA MINH MẠNG CHỌN ĐẤT XÂY LĂNG CHO MÌNH Lăng vua Minh Mạng, tên chữ là Hiếu Lăng, được khởi công xây dựng vào cuối năm 1840 và hoàn thành vào năm Thiệu Trị thứ 3 (1843). Đây là lăng vua Nguyễn thứ hai nằm cách trung tâm Huế 12 km về hướng tây-tây nam, theo quan niệm hoàng đế là Thiên tử (con trời) như mặt trời mọc ở phương đông lặn về phương tây. Trước khi xây lăng, đây là một khu rừng hoang vắng, chưa có người khai phá. Rắn rết, nước độc, thú dữ là \"đặc sản\" nổi tiếng của vùng La Bằng thuở xưa (nay thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Năm 1826, sau khi lên ngôi được 7 năm, vua Minh Mạng khi đó vừa 35 tuổi nhưng đã sai nhiều cận thần am hiểu địa lý, phong thủy đi tìm địa cục để chuẩn bị xây lăng. Cuối cùng vua Minh Mạng bằng lòng với vị trí mà ông Lê Văn 84

Đức đã phát hiện được. Đó là khu đất thuộc địa giới làng La Bằng ở ngã ba Bằng Lăng. Nếu như các thầy địa lý xưa dựa vào các yếu tố địa lý để tìm ra huyệt đất làm nơi an nghỉ cuối cùng cho một “đấng quân vương”, thì quả thật khu đất này đã hội tụ hài hòa phong thủy đáng được lựa chọn. Thứ nhất “tầm sơn điểm huyệt”: Núi Cẩm Kê dừng lại trước bờ sông Hương rồi gối đầu vào núi Kim Phụng (Thương Sơn). Núi Kim Phụng là một mạch núi từ rặng Trường Sơn tách ra biển giữ vị trí núi chúa cho cả vùng, giống như Ba Vỡ ở Sơn Tây và Bà Đen ở Tây Ninh. Đó là thế “sơn hồi”. Thứ hai “tầm thủy điểm huyệt”: dựa vào thế nước để xác định vị trí mộ táng sao không bị lụt, không bị dòng nước xói vào tâm nhưng luôn luôn nhuần mát. Vị trí này nằm ngay bên ngã ba gặp gỡ của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch để làm nên sông Hương, đấy là “minh đường”, đấy là “tụ thủy”. Từ lòng núi Cẩm Kê (về sau vua Minh Mạng đổi thành Hiếu Sơn) một dòng nhỏ uốn lượn quanh trước khi đổ vào hợp với dòng sông Hương, người xưa coi đó là thế “tả sa tác án chi huyên thủy”, không thể thiếu ở một lăng vua. Thứ ba “tầm phong điểm huyệt”: Núi Kim 85

Phụng nằm ở phía Bắc núi Cẩm Kê, núi Cẩm Kê nằm sau khu đất có độ dốc thoai thoải hướng về sông Hương để đón những ngọn gió lành đông nam và đủ tránh gió \"đen\" phương bắc (theo quy ước ngũ phương ứng với ngũ sắc: Đông: xanh, Tây: trắng, Nam: đỏ, Bắc: đen, Trung tâm: vàng). Thứ tư \"tầm long điểm huyệt\": Điều này được xác định bằng óc tưởng tượng kỳ diệu của mỗi người. Điểm cuối cùng quyết định sự thành bại của các thầy địa lý chính là ở đây. Đã có thế núi, thế nước, thế gió bên trên bề mặt, còn phải có thế đất bên trong lòng đất. Lê Văn Đức đã kết hợp được các yếu tố trên với sự lựa chọn núi Ngọc Trản (trái) làm tả Thanh Long và Tôn Sơn (phải) làm hữu Bạch Hổ với tư tưởng: \"gia ái hổ, mộ ái long\" (Làm nhà gần bên thế hổ, xây mộ xích về bên thế rồng). Lăng vua Minh Mạng vì thế mà có sơn thủy hữu tình, có ngoại cảnh kỳ vĩ, ngoạn mục. Từ cửa Đại Hồng về phía trước đến Bửu Thành ở phía sau, các công trình của Lăng đều nằm trên trục đường Thần đạo theo hướng tây, tây bắc, đông, đông nam. Đó là sân chầu có hai hàng tượng đá hai bên; nhà bia với tấm bia đá lớn ghi tiểu sử và công trạng vua Minh Mạng; sân lẻ ba cấp (tam tài), cửa Hiển Đức, điện Sùng 86

Ân, cửa Hoằng Trạch; Minh Lâu, cầu Thông Minh Chính Trực. Các công trình khác như: Tả Hữu Tùng Tự, Tả Hữu Tùng Viện, cầu Tả Phù, cầu Hữu Bật, trụ biểu trên Bình Sơn và Thành Sơn... đều đối xứng từng cặp qua trục chính. Rải rác quanh hai hồ Trừng Minh còn nhiều miếu, vũ, đình, quán, các hiên, tạ như Phương Linh các, Nghinh Lương quán, Điếu Ngư đình, Tuần Lộc hiên, Hư Hoài tạ... điểm xuyết dưới tán cây xanh soi bóng ven hồ như các hành tinh xoay quanh khu đất vuông Phụng Thần sơn ở trung tâm lăng. Điện Sùng Ân, nơi đặt bài vị của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế và Hoàng hậu nằm ở khu trung tâm. Trời tròn, đất vuông, lăng vua Minh Mạng khai thác hình tượng vuông tròn để thể hiện tư tưởng người quá cố rằng: sống ở tâm trái đất, chết ở tâm vũ trụ. Vuông là hữu hạn, tròn là vô biên... Khu mộ táng được đắp cao thành một ngọn đồi tròn có các đường tròn của Bửu Thành, hồ bán nguyệt (Tân Nguyệt trì), la thành, đồi núi nối với chân trời, gợi lên những đường tròn tâm càng xa càng rộng. Cái vô biên ấy là tâm của vũ trụ. Giữa khu đất vuông hữu hạn với khu trời tròn vô biên, có một cụm công trình chuyển 87

tiếp. Đó là Minh Lâu, trụ biểu và hồ bán nguyệt. Minh Lâu hai tầng được đặt trên đồi tam tài (ba tầng), bên trái có đồi Bình Sơn, bên phải có đồi Thành Sơn. Hai trụ biểu cao đứng trên hai ngọn đồi này. \"Bình Thành Công Đức\" là ý lấy từ Kinh Dịch nói lên sự làm xong bổn phận công và đức của đấng trượng phu. Nhiều người đó ngây ngất khi từ Minh Lâu đứng ngắm nhìn bốn phía thì cảm thấy điểm nối giữa hiện thực với siêu nhiên, gợi cho người ta sự thanh thản, thiêng liêng lạ thường. Phía trước là khu đất vuông, phía sau là khoảng trời tròn. Sống đó, chết đó, như là \"vô úy\" vậy. Từ những biểu tượng nặng về Nho giáo dần dần tăng thêm nhiều yếu tố Lão giáo và pha đậm tư tưởng Phật giáo, dẫn đến Nho, Phật, Lão đã đồng hành ở khu lăng này. Và nếu như càng về cuối đời vua Minh Mạng càng nhận ra tính tích cực, tính dân tộc trong Phật giáo, thì ở Hiếu Lăng, càng vào sâu, những hình tượng Phật giáo càng có vẻ rõ hơn. Đó chính là tư tưởng nhất quán khi quan sát bố cục kiến trúc của lăng vua Minh Mạng. 88

ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN Quản lý ruộng đất là một trong những công việc trọng tâm của Nhà nước thời phong kiến. Việc lập địa bạ lần đầu tiên diễn ra vào năm 1092, gọi là Tịch điền (Sổ ruộng). Từ đó trở đi, các vương triều phong kiến Việt Nam rất quan tâm tới việc lập điền tịch, hộ tịch các làng xã làm cơ sở cho quản lý cũng như quy định các loại tô, thuế, nghĩa vụ lao động, binh dịch của các làng xã đối với vương triều... Năm 1803, tức là chỉ một năm sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho lập địa bạ các trấn ở Bắc Thành. Công việc cơ bản được hoàn thành vào năm 1805 (trừ hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận thuộc nội thành Hà Nội và ba trấn đạo Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An). Năm 1810, vua Gia Long tiếp tục triển khai việc lập địa bạ các tỉnh từ Quảng Bình trở vào đến nam Trung Bộ. Năm 1831, triều đình cho lập địa bạ ba trấn Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Các địa 89

phương “không biết vì sao” đã có lệnh làm địa bạ từ năm Gia Long thứ 3 (1804) mà “giữa chừng lại thôi”. Riêng Nam Kỳ đến năm 1836 mới tiến hành đo đất và lập địa bạ. Đây là lần đầu tiên, từ sau khi các chúa Nguyễn hoàn thành việc thiết lập phủ, huyện trên toàn vùng Nam Kỳ (1757), Nhà nước mới chính thức đo đạc và lập địa bạ trên quy mô 6 tỉnh Nam kỳ bấy giờ. Như vậy, về cơ bản, đến cuối thời Minh Mạng, nhà Nguyễn đã hoàn thành việc lập địa bạ trên phạm vi cả nước. Từ thời Thiệu Trị trở về sau, số địa bạ bổ sung không đáng kể do một vài địa phương trước đó chưa làm xong. Tất cả các địa bạ đều do những người có trách nhiệm của làng xã lập ra trên cơ sở khám đạc và xác nhận của các cấp quản lý hành chính cao hơn là phủ, huyện, trấn hay tỉnh và Bộ Hộ. Địa bạ các làng xã đều viết bằng chữ Hán (trừ một vài tên riêng, địa danh, nhân danh viết bằng chữ Nôm) và nói chung đều thống nhất ghi chép theo trật tự sau: 1. Đơn vị hành chính là mục mở đầu của mỗi địa bạ, bao gồm tên gọi của làng/xã/ thôn/ấp, thuộc tổng, huyện, phủ, trấn/tỉnh, tiếp đó là giáp giới tứ bề đông, tây, nam, bắc, được 90

ghi rất rõ những vật làm mốc giới như cọc gỗ, đường thiên lý, tiểu lộ, đoạn sông... 2. Phần tiếp theo kê khai tổng số ruộng đất của cả làng/xã/thôn/ấp, trong đó liệt kê rõ diện tích mỗi hạng công, tư, điền, thổ, thổ trạch viên trì, ruộng tam bảo, tịch điền, tha ma, mộ địa... công châu thổ, công điền xã khác có tại bản xã... nếu là ruộng đất thực canh thì còn ghi rõ đẳng hạng (ruộng loại 1 hay loại 2, loại 3), và thời vụ (hạ vụ, thu vụ hay hạ thu nhị vụ). Sau đó là phần kê khai cụ thể từng thửa ruộng đất với đầy đủ tên chủ sở hữu (nếu là phụ canh thì ghi rõ quê quán), diện tích cùng vị trí, giáp giới bốn bề đông, tây, nam, bắc. Phần này thường rất dài, chiếm tới 80-90% dung lượng của mỗi địa bạ. 3. Phần cuối của địa bạ là các thủ tục hành chính xác nhận địa bạ có bao nhiêu tờ, cam kết khai đầy đủ và chính xác về các loại đất và cuối cùng là ngày tháng năm lập địa bạ cùng tên họ và điểm chỉ của những người có trách nhiệm lập địa bạ. Hiện nay, số địa bạ được lưu giữ chủ yếu là lập vào thời Nguyễn (1802-1945) được bảo quản tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán - Nôm và Trung tâm lưu trữ I thuộc Cục Văn thư và lưu 91

trữ Nhà nước. Ngoài ra, rải rác tại một số thư viện các tỉnh, thành phố và một số trường đại học cũng có giữ một số địa bạ mới phát hiện nhưng không có số liệu thống kê đầy đủ. 92

TRỪNG TRỊ QUAN LẠI THAM Ô Trong bộ Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Luật Gia Long) đã có điều lệ xử tội ăn cắp trong kho công: \"Kho của vua gọi là Nội Phủ, ở trong cấm địa của Hoàng thành. Hễ trộm lấy món gì ở đó, dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu\". Đến đời vua Minh Mạng, việc trừng trị các quan lại tham nhũng của công được thi hành một cách nghiêm khắc và khá triệt để. Bộ quốc sử triều Nguyễn - Đại Nam thực lục đã chép hai vụ án do vua Minh Mạng đưa ra nghị xử trừng phạt các quan lại tham ô. Vụ thứ nhất: Tháng 5-1823, Thư lại Nội vụ phủ là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng. Bộ Hình nghị xử tội chém, rồi chuẩn làm tội đồ. Án tâu lên, vua dụ rằng: “Khoảng năm Gia Long, bọn Nguyễn Đăng Được thông đồng với thợ bạc là Nguyễn Khoa Nguyên đúc trộm ấn giả, để trộm đổi ấn cất ở kho, đều xử chém 93

ngay. Nay Hữu Diệm ở đấy cân vàng mà còn dám công nhiên lấy trộm, huống chi của kho thì sao? Thế thì trong mắt hắn đã không có pháp luật, chi bằng theo đúng tội danh mà định tội để răn người sau. Phải giải ngay Lý Hữu Diệm đến chợ Cửa Đông, chém đầu cho mọi người biết. Hồ Hữu Thẩm phải truyền cho bọn viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem, hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn ngươi sao?”. Vụ thứ hai: Tháng 11-1831, lũ Nguyễn Đức Tuyên, Tư vụ Nội vụ phủ ăn bớt nhựa thơm. Vua dụ rằng: “Năm nay có vụ án (ăn cắp) son ở Vũ khố, đã đem nhẹ thành nặng vì khinh pháp luật, lừa dối vua. Kẻ phạm tội ấy đã bị xử tử, lại phải chặt một tay để treo ở cửa kho... Nay sai dâng nhựa thơm thì ra lũ Nguyễn Đức Tuyên đã ăn bớt từ trước, lại dám lấy mật trộn lẫn vào để ít hóa nhiều, ý định lừa gạt che giấu. Trước còn chối cãi, đến lúc cả kho xưng ra, mới chịu thổ lộ thực tình, thì những người tai nghe mắt thấy ai mà không ghét? Vả lại vụ mất son chưa nguội, án sa đoạn, hổ phách còn nóng hổi, chúng nó mù điếc, sao lại mất hết cả lương tâm, cố ý phạm tội như thế? Đáng lẽ cho trói đem giong ra chợ Cửa Đông chém đầu, nhưng lần 94

này tạm chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận, và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian”. Hai vụ trộm của công trên xảy ra cách nhau khoảng 8 năm rưỡi, ngoài ra còn một số vụ tham ô nhỏ khác trong các kho Nhà nước. Tuy số lượng và giá trị kinh tế của các tài sản tham ô không lớn, nhưng cách giải quyết của vua Minh Mạng rất dứt khoát và nghiêm khắc. Chỉ mới “thụt két” một lạng vàng hoặc lấy cắp trong kho một thùng nhựa thơm mà đã chém đầu, chặt tay thủ phạm. Mục đích chính của vua Minh Mạng nhằm răn đe lòng tham của các quan lại khi thực thi công vụ, giữ nghiêm kỷ cương phép nước. 95

GIAO TỬ VỤ DƯỚI THỜI NGUYỄN Triều Nguyễn từ khi ra đời (1802) đã chú trọng tới việc đúc và phát hành đồng tiền của mình. Nửa đầu triều Nguyễn (1802-1858), các vị vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đã đúc và phát hành đồng tiền: Gia Long thông bảo (tiền kẽm, đúc năm 1813), Minh Mạng thông bảo (bằng đồng, kẽm đúc năm 1820), Minh Mạng phi long (bằng vàng, bạc, đúc năm 1832), Thiệu Trị thông bảo (bằng đồng, kẽm đúc năm 1841), Tự Đức thông bảo (bằng bạc, đồng, kẽm đúc năm 1848). Ngoài ra, triều Nguyễn còn đúc bạc đĩnh (bạc nguyên chất) với trọng lượng các loại 10 lạng và 1 lạng, có giá trị tương đương với số đồng tiền nhất định để tiện việc thanh toán. Đồng thời, Nhà nước còn quy định giá vàng cho Bắc Thành (1 lạng vàng tương đương với 16 lạng bạc). Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập ra “Giao tử vụ” - một cơ quan gửi tiền và chuyển tiền ở 96

hai tỉnh miền núi là Cao Bằng và Lạng Sơn. Theo bản tâu của viên Bố chánh Cao Bằng Trần Huy Phác: “Cao Bằng là đất vùng cao, hàng hóa ăn mặc và đồ dùng trong tỉnh đều do các lái buôn đưa từ địa phương khác đến. Sau khi bán hàng thu được tiền, các thương nhân đều mua bạc để mang đi cho tiện, nhẹ. Vì thế, ở Cao Bằng giá bạc ngày càng cao mà tiền lại khan hiếm. Để khắc phục tình trạng trên, đề nghị triều đình cho đặt “Giao tử vụ” ở phố Lương Mã gần tỉnh thành. Tất cả thương nhân buôn bán ở đây, trước khi đi thì đem tiền đến đổi lấy tờ “Giao tử” (Giấy nhận gửi tiền do Giao tử vụ cấp), khi về đến địa phương sở tại, đưa tờ “Giao tử” lấy tiền ra. Như vậy, tiền bạc của dân không bị người buôn đem đi, mà sự chi dùng của dân cũng được thuận tiện”. Nhận được bản tâu, vua Minh Mạng giao cho triều thần Bộ Hộ bàn bạc. Sau khi thống nhất, nhà vua sai đổi định đôi điều, rồi duyệt y cho thực hiện: - Giao tử vụ ở Cao Bằng do nhân viên ở tỉnh trực tiếp đảm nhiệm, không cần đặt ở phố Lương Mã. - Giao tử chỉ dùng 1 tờ cho mỗi người gửi tiền, trong đó ghi rõ chức sắc, họ tên, quê quán và số tiền của người ấy, địa phương mà người muốn lĩnh tiền, có đóng dấu triện của tỉnh và 97

đưa người gửi tiền giữ làm bằng cứ. Cơ quan Giao tử vụ có trách nhiệm thông báo cho địa phương mà người gửi tiền sẽ đến lĩnh. Khi người gửi tiền đem tờ Giao tử đến, quan sở tại kiểm tra giấy tờ rõ ràng, lập tức thu lại, cấp trả tiền. Nếu ai muốn lĩnh bằng lương thực (thóc gạo) cũng được. - Đối tượng gửi tiền không chỉ giới hạn trong các nhà buôn ở nơi khác đến, mà áp dụng cho cả các thương nhân trong tỉnh muốn đi ra bên ngoài buôn bán và các quan quân dân chúng có việc tư phải đi các hạt khác, cần mang theo tiền đi đường chi dùng ăn ở, nơi mình sẽ đến mà không thể đem theo người số tiền từ 5 quan trở lên. - Khi lĩnh tiền ở các địa phương, không kể quan quân hay dân chúng, nếu nộp từ 20 quan trở xuống thì được cấp thêm theo mức khác nhau. Tại Bắc Ninh thì cứ 10 quan cấp thêm 5 tiền, ở các tỉnh xa hơn như Hà Nội, Sơn Tây, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên thì cứ 10 quan cấp thêm 3 tiền. Đó là khoản bù thêm nhằm khuyến khích người gửi ít. Còn những người gửi từ 20 quan trở lên đến trăm nghìn quan thuộc diện buôn bán to, giàu có thì không cấp thêm. Sau khi tỉnh Cao Bằng thực hiện thì tỉnh 98


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook