Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n Chñ tÞch Héi ®ång pgs.TS. PHẠM VĂN LINH Phã Chñ tÞch Héi ®ång PHẠM CHÍ THÀNH Thμnh viªn trÇn quèc d©n TS. NguyÔn §øC TμI TS. NGUYÔN AN TI£M NguyÔn Vò Thanh H¶o
LỜI NÓI ĐẦU Để giúp các em học sinh ở các bậc học phổ thông và sinh viên các trường đại học, cũng như các bạn đọc xa gần muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam một cách dễ dàng, dễ nhớ, chúng tôi biên soạn bộ sách Truyện đọc Lịch sử Việt Nam. Các truyện đọc trong bộ sách được sưu tầm và biên soạn dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Bộ sách sẽ đem đến cho các em học sinh, sinh viên và bạn đọc nhiều điều thú vị và bổ ích. Nội dung các truyện đọc không chỉ cung cấp cho bạn đọc những kiến thức về lịch sử Việt Nam, mà còn cung cấp những câu chuyện có tính nhân văn và tính giáo dục về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, các thành tựu kinh tế, văn hoá tiêu biểu của dân tộc theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ triều đại nhà Nguyễn cho đến ngày nay. Bộ sách gồm 3 tập: Tập 1: Giới thiệu các truyện về triều đại nhà Nguyễn thời độc lập tự chủ. 5
Tập 2: Viết về các truyện từ khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta cuối thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám thành công. Tập 3: Là các truyện về giai đoạn lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Ở đầu mỗi tập truyện đọc, chúng tôi đều giới thiệu một cách khái quát nội dung lịch sử của giai đoạn mà các truyện đọc sẽ phản ánh để bạn đọc tiện theo dõi. Các tác giả cố gắng biên soạn theo nguyên tắc ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu; chỗ nào có thuật ngữ khó hoặc có địa danh cổ, chúng tôi đều có chú thích và giải nghĩa ở cuối trang. Nhân tập 2 của bộ sách ra đời, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các soạn giả các tài liệu được sưu tầm, chọn dẫn và các tác giả có tranh, ảnh được minh hoạ trong sách. Mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc xa gần để sách được tốt hơn trong những lần tái bản sau. Nhóm tác giả 6
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1802 ĐẾN 1884 Truyện đọc Lịch sử Việt Nam tập 1 bao gồm những truyện có nội dung phản ánh lịch sử nước ta từ khi nhà Nguyễn thành lập (1802) đến khi đất nước ta hoàn toàn bị rơi vào tay thực dân Pháp (1884). Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô (gọi là phủ Thừa Thiên), chia địa phương thành các cấp độ quản lý như thành, doanh, trấn. Các địa phương gần kinh đô gọi là doanh đặt dưới sự cai quản trực tiếp của triều đình như Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam; các trấn đặt dưới sự quản lý gián tiếp như Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận. Ở hai đầu đất nước, Gia Long đặt hai đơn vị hành chính cấp cao, là Bắc Thành và Gia Định Thành, giao phó quyền hành cho hai viên Tổng trấn thay mặt Hoàng đế cai quản các trấn định đoạt mọi việc. 7
Năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, chia địa hạt từ Quảng Trị trở ra Bắc thành 18 tỉnh; một năm sau, địa phận từ Quảng Trị trở vào Nam chia đặt 12 tỉnh, kinh đô Phú Xuân vẫn đặt phủ Thừa Thiên. Tất cả đều thuộc chính quyền Trung ương. Vua Gia Long đặt ra lệ Tứ bất (không đặt Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, không lập Hoàng hậu và không phong tước vương), mọi quyền hành đều tập trung trong tay Hoàng đế. Vua trực tiếp nắm và điều hành sáu bộ và các viện chuyên trách như Đô sát, Hàn lâm, Thị thư... Năm 1834, Minh Mạng cho lập Cơ mật viện là cơ quan có quyền cùng với vua bàn việc quốc gia đại sự. Nhà Nguyễn coi trọng luật pháp. Năm 1805, bộ Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Luật Gia Long) gồm 398 điều chính thức được ban hành. Nhà Nguyễn chủ trương xây dựng một quân đội mạnh, có tới 20 vạn quân vào cuối thời Gia Long, chia thành bốn binh chủng: bộ binh, thuỷ binh, pháo binh và tượng binh. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ổn định tình hình đất nước sau bao nhiêu năm chiến tranh loạn lạc, nhưng mọi chính sách của nhà Nguyễn chủ yếu tập trung vào việc củng cố quyền lực của vương triều. Độc tôn Nho giáo, 8
kìm chế công thương, bế quan toả cảng, trên thực tế đã không đem lại những kết quả như nhà Nguyễn mong muốn là tăng cường sức mạnh của dòng họ cai trị, mà trái lại đã làm mất đi khả năng vươn lên cùng thời đại của dân tộc, làm suy kiệt sức đề kháng của đất nước trước nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Tiếng súng tấn công Đà Nẵng năm 1858 là điểm khởi đầu cho một quá trình xâm lược mà kết quả là sự thất bại thảm hại của triều Nguyễn với việc ký kết Hiệp định Patơnôt ngày 6-6-1884, xoá bỏ hoàn toàn những biểu hiện quyền lực còn lại của chế độ phong kiến Việt Nam độc lập. Có thể nói đến đây, chế độ phong kiến Việt Nam với ý nghĩa là một vương triều độc lập đã bị sụp đổ. Các triều vua Nguyễn còn tồn tại sau đó chủ yếu do thực dân Pháp lập nên như một con bài cần thiết cho sự vận hành bộ máy thống trị của chủ nghĩa thực dân mà thôi. 9
NGUYỄN ÁNH XÂY THÀNH GIA ĐỊNH Từ năm 1788, Nguyễn Ánh đã vững chân tại vùng đất Sài Gòn- Gia Định và có ý định biến Sài Gòn thành Gia Định kinh (thủ phủ). Việc đón tiếp các đoàn ngoại giao, sứ thần các nước diễn ra tại đây. Vì vậy, năm 1789, Nguyễn Ánh giao cho hai người Pháp thiết kế và xúc tiến việc xây dựng thành trì. Để thực hiện kế hoạch đồ sộ này, hàng trăm nhà dân phải di dời và huy động đến ba vạn người làm việc trong nhiều năm liên tiếp, chưa kể những đóng góp khác về gỗ, gạch, gạo, tiền. Gánh nặng đó đã khiến các tầng lớp nhân dân ở đây cùng một số quan lại bất bình, nổi lên chống đối việc xây thành của Nguyễn Ánh. Giên Bôsơ (Jean Bouchot), căn cứ vào hồi ký của hai viên kỹ sư chỉ đạo xây thành Gia Định đã cho biết: \"Đông đảo nhân dân và nhiều vị quan đã nổi dậy chống lại việc xây thành Gia Định\". 10
Chính vì vậy, thành Gia Định không thể hoàn thành: đầu tường thành chưa có lỗ châu mai, mặt thành chưa bố trí đại bác, tường thành chưa đủ cao. Tuy nhiên, thành Gia Định cũng là tòa thành đồ sộ, quy mô nhất so với trước. Thành được xây theo kiểu Vôbăng (Vauban), mỗi bề dài 130 trượng 2 thước, chu vi ngoài hào 794 trượng, cao 1 trượng 3 thước(1), mở 8 cửa với tên gọi theo bát quái của Kinh Dịch: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài (nên thành Gia Định còn gọi là thành Bát quái). Trong thành có xẻ 4 đường ngang, 4 đường dọc chia cắt thành ra những ô vuông. Ô vuông rộng nhất để xây cung vua, các ô vuông khác xây miếu, chùa, công sở, kho tàng, trại lính, đài các... Nhìn trên bản đồ thấy thành Gia Định có hình dáng giống như một con rùa khổng lồ, nên còn được gọi là Thành Quy. Năm 1833, Lê Văn Khôi (con nuôi Lê Văn Duyệt) chiếm thành. Năm 1836 thành bị phá bỏ và xây mới, kích thước nhỏ hơn. Ngày 17-2-1859 Pháp đánh chiếm thành, dùng thuốc nổ phá thành và đốt cháy các kho gạo. _______________ 1. Trượng, thước: đơn vị đo độ dài cũ, 1 trượng = 3,33 m, 1 thước = 0,425m. 11
A. Hoàng Cung (nhà vương ở). B. Hậu Điện (để mẹ vua ở) C. Y Viện E. Kho Đồn điền (Trừ Tích) F. Cục chế tạo (xưởng thợ) G. Trại súng (chứa xe súng) H. Kho hỏadược (thuốc súng) V. Di tích đảo thấy tường thành bát quái. Tường Thành Bát quái vây kín ở trong (trừ 8 cửa) Thành Dương Mã (đẻ ngựa) ở ngoài 6 cửa Tường thành nằm ở giữa 2 thành Dương Mã Hào quanh thành Tên cửa thành thời Gia Long: Cần Nguyên. Tên cửa thành thời Minh Mạng: Gia Định Vị trí đường phố hiện nay Nguyễn Đình Chiểu Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải 12
SỐ PHẬN LẠ LÙNG CỦA CÔNG CHÚA NGỌC BÌNH Công chúa Lê Ngọc Bình sinh năm 1783 là con út của vua Lê Hiển Tông (1717-1786) và Chiêu nghi Nguyễn Thị Điều và cũng là em gái công chúa Ngọc Hân. Dân gian còn lưu truyền Ngọc Bình nổi tiếng đẹp sắc nước hương trời, cơ thể có mùi hương rất lạ, vô cùng cuốn hút. Sau khi đánh bại nhà Nguyễn ở Đàng Trong năm 1786, với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ tiến ra Bắc tiêu diệt chúa Trịnh rồi vào Thăng Long yết kiến vua Lê ở điện Kính Thiên và dâng sổ sách quân dân thu được trong phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông phong là Nguyên súy, Phù chính uy quốc công và gả công chúa Ngọc Hân, lúc này vừa tròn 16 tuổi, làm vợ. Hai năm sau, tại Huế, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu cung hoàng hậu. Họ có với nhau 2 con là công chúa Nguyễn Ngọc Bảo và 13
hoàng tử Nguyễn Quang Đức. Năm 1792, Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, con trai Nguyễn Huệ và Hoàng hậu Bùi Thị Nhạn là Quang Toản lên nối ngôi lúc mới 10 tuổi, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Do Hoàng đế Cảnh Thịnh còn nhỏ, quyền lực triều Tây Sơn rơi vào tay nhóm quyền thần do Thái sư Bùi Đắc Tuyên (cậu ruột Quang Toản) đứng đầu. Vì Thái sư chuyên quyền, độc đoán nên trong hàng ngũ tướng sĩ Tây Sơn có nhiều người bất bình. Người nào theo Đắc Tuyên thì được ưu ái, người nào ra mặt chống lại thì bị hại đẩy đi nơi xa. Đến năm 1795, sau khi Đắc Tuyên bị diệt, Thái hậu Lê Ngọc Hân làm mối công chúa Lê Ngọc Bình cho Quang Toản. Công chúa Ngọc Bình trở thành chính cung hoàng hậu của nhà Tây Sơn khi vừa tròn 12 tuổi. Cuộc hôn nhân giữa công chúa Ngọc Bình và Hoàng đế Cảnh Thịnh đã đặt Ngọc Hân - Nguyễn Huệ, Ngọc Bình - Cảnh Thịnh vào mối quan hệ phức tạp. Ngọc Hân và Ngọc Bình vừa là chị em ruột, lại vừa là mẹ chồng nàng dâu. Vua Quang Trung với vua Cảnh Thịnh vừa là cha con vừa là anh em cọc chèo mà nhạc phụ của họ là vua Lê Hiển Tông. Tháng 5-1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Hà, Ngọc 14
Bình và một số cung nữ bị kẹt lại Phú Xuân. Thấy hoàng hậu trẻ đẹp, ăn nói dịu dàng, dáng điệu thướt tha, Nguyễn Ánh muốn lấy làm vợ. Mặc cho các cận thần kịch liệt phản đối vì cho rằng “Thiên hạ thiếu gì đàn bà mà lại lấy thừa vợ của giặc”. Vua Gia Long vẫn bỏ ngoài tai tất cả. Ông trả lời bề tôi của mình rằng: “Tất cả giang sơn này, cái gì mà ta không lấy từ trong tay giặc, cứ gì một người đàn bà”. Trong khi đó sách Quốc sử di biên do Phan Thúc Trực biên soạn năm 1851-1852 có đoạn viết: “Năm Nhâm Tuất, Gia Long năm đầu (1802) ngày 21 Canh Thân, Thế tổ (Gia Long) đến kinh thành Thăng Long, hào mục bắt anh em Quang Toản dâng cho Gia Long. Sau đó, chúng nộp Lê Ngọc Bình vào cung vua Gia Long”. Ngọc Bình sau đó được vua Gia Long phong làm phi và sinh được hai hoàng tử cho nhà Nguyễn là Quảng uy công Nguyễn Phúc Quân (sinh năm 1809), Thường tín công Nguyễn Phúc Cự (sinh năm 1810) và hai công chúa Mỹ Khê Ngọc Khuê và An Nghĩa Ngọc Ngôn. Bà mất năm 1810, khi mới 27 tuổi, được ban thụy là Cung Thận Đức phi, an táng tại làng Trúc Lâm (Huế). Chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình có điểm tương đồng đều là con vua Lê Hiển Tông nhà 15
Hậu Lê, sinh trưởng ở ngoài Bắc, lớn lên đều lấy chồng là Hoàng đế nhà Tây Sơn. Do thế sự đưa đẩy, công chúa Ngọc Bình trở thành người có số phận lạ lùng nhất trong lịch sử các vương triều phong kiến Việt Nam. Dù bà không để lại nhiều dấu ấn nhưng là một người đặc biệt của 3 triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Bà là con vua Lê, lại lấy hai đời chồng là vua của hai vương triều đối nghịch nhau là Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn và Gia Long triều Nguyễn. Vì vậy hàng trăm năm qua, dân gian vẫn còn truyền tụng câu ca dao về công chúa Lê Ngọc Bình: “Số đâu có số lạ lùng. Con vua lại lấy hai chồng làm vua.” 16
QUỐC HIỆU VIỆT NAM XUẤT HIỆN TRONG VĂN BẢN TRIỀU NGUYỄN Sau khi lên ngôi (năm 1802), Gia Long đã cử Chánh sứ Trịnh Hoài Đức cùng Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn làm Phó sứ đem quốc thư và phẩm vật sang thông sứ với triều Thanh (Trung Quốc). Tháng 11 năm đó, Gia Long tiếp tục cử Toàn xứ Lê Quang Định làm Chánh sứ đem quốc thư và sản vật gồm kỳ nam, ngà voi, trầm hương cùng các loại vải quý, xin đổi quốc hiệu làm Nam Việt. Quốc thư có đoạn: “Các đời trước mở mang cõi viêm bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cả các nước Việt Thường, Chân Lạp, dựng quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối đã hơn 200 năm. Nay đã quét sạch miền Nam, vỗ yên được toàn cõi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chính danh tốt”. Vua triều Thanh là Gia Khánh thấy quốc hiệu Nam Việt gần giống như Đông Việt, Tây Việt nên không muốn ban phong. Vua Gia Long 17
đã nhiều lần đưa thư sang biện giải lý do muốn đặt quốc hiệu là Nam Việt. Trước thái độ kiên quyết và cứng rắn của vua Gia Long, vua Gia Khánh đồng ý ban cho quốc hiệu nhưng đổi từ Nam Việt thành Việt Nam với lý do: “Khi trước mới có Việt Thường đã xưng Nam Việt, nay lại được toàn cõi Việt, theo tên riêng mà xét thực thì nên tóm cả đất đai mở mang trước sau, đặt cho tên tốt, định lấy chữ Việt để trên đầu để tỏ rằng nước này nhân đất cũ mà nối được tiếng thơm đời trước, đặt chữ Nam bên dưới để chứng tỏ nước này mở cõi Nam giao, tên xưng chính đại, chữ nghĩa tốt lành, mà lại phân biệt rõ được với tên gọi cũ của Lưỡng Việt ở nội địa Trung Quốc”. Tháng 2 niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804), vua tổ chức đại lễ tại điện Kính Thiên, trong thành Thăng Long, tuyên bố tên nước là Việt Nam. Ngày cử hành đại lễ, vua Gia Long đến ngự tại cửa Chu Tước (phía Nam) cùng hoàng thân, quốc thích và bách quan trong triều đến dự. 18
VỤ ÁN CHA CON NGUYỄN VĂN THÀNH Nguyễn Văn Thành, quê ở Thừa Thiên, vào Gia Định đã hai, ba đời. Ông theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu và chịu nhiều gian khổ cùng chủ tướng và lập được nhiều công lớn, đứng đầu hàng công thần. Khi lên ngôi, Gia Long giao cho Nguyễn Văn Thành trọng trách Tổng trấn Bắc Thành. Với tài cai trị, giáo hóa nhân dân, ông đã ổn định tình hình đất Bắc chỉ sau vài năm. Sau đó, ông được triệu về kinh lãnh chức Trung quân. Vốn là người có học thức, Nguyễn Văn Thành, Vũ Tinh và một số đại thần khác được giao biên soạn bộ Quốc triều hình luật (Luật Gia Long). Con trai ông là Nguyễn Văn Thuyên đỗ Cử nhân và cũng là người ham thích văn chương. Thuyên làm thơ ngâm vịnh cho người bạn ở Thanh Hóa vào chơi. Lời thơ có chỗ ngông nghênh: 19
Ái Châu nghe nói lắm người hay Ao ước cầu hiền đã bấy nay Ngọc phát Kinh sơn tài sắc đó Ngựa kỳ ký Bắc biết lâu thay Mùi hương hang tối xa ngàn dặm Tiếng phượng gò cao suốt chín mây Sơn tế phen này dù gặp gỡ Giúp nhau thay đổi hội cơ này. Những kẻ ghen ghét, đố kị với Nguyễn Văn Thành đã vu cho Thuyên có mưu đồ thoán đoạt ngôi vua, khiến cho cha con Nguyễn Văn Thành cùng bị trị tội. Thuyên bị bắt giam, còn Nguyễn Văn Thành bị triều thần xử án tử hình. Sau buổi triều kiến, Thành chạy theo nắm lấy áo vua Gia Long, kêu oan thảm thiết: - Thần theo bệ hạ từ buổi còn trẻ đến bây giờ, nay chẳng có tội gì mà bị người ta vu oan. Bệ hạ nỡ lòng nào ngồi nhìn người ta giết thần mà không cứu! Gia Long không nói gì, giật áo ra, đi vào cung. Từ đó cấm không cho Nguyễn Văn Thành vào chầu nữa. Lê Văn Duyệt đem Thuyên ra tra khảo, bắt phải nhận tội phản nghịch. Thành sợ, uống thuốc độc tự tử, Thuyên cũng bị chém đầu. Vụ án giết hại cha con Nguyễn Văn Thành là một trong những vụ sát hại công thần nổi tiếng của vua Gia Long. 20
NGƯỜI ĐÀO KÊNH VÀ MỞ ĐƯỜNG SÔNG Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại sinh năm 1762 tại huyện Diên Phước (nay là huyện Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam. Ông cùng gia đình rời quê hương vào Nam và đến định cư ở làng Thới Bình thuộc địa phận Vĩnh Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1777, Nguyễn Văn Thoại rời làng theo phò Nguyễn Ánh. Năm 1784, trước sự lớn mạnh của nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Văn Thoại cùng Nguyễn Ánh lánh nạn sang Xiêm. Từ đó, ông nhiều lần được cử sang đây để thiết lập quan hệ bang giao. Không những vậy, ông còn được chủ tướng giao trọng trách chiêu tập các dân tộc thiểu số ở thượng du và phụ trách bang giao với Lào. Nhờ vậy, Nguyễn Ánh rảnh tay kéo quân ra Nghệ An đánh Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, phong Nguyễn Văn Thoại làm Chưởng cơ trông nom việc binh ở Bắc Thành, rồi giữ chức Trấn thủ 21
Lạng Sơn, tước Thoại Ngọc hầu; sau đó chuyển vào làm Trấn thủ Định Tường (vùng Tiền Giang, Hậu Giang ngày nay). Lúc bấy giờ, vùng đất Định Tường còn rất hoang sơ, sình lầy, việc đi lại rất khó khăn; ông đề xuất với triều đình cho đào kênh Đông Xuyên. Vì được đào theo lạch nước cũ, nên chỉ sau hơn một tháng đã hoàn thành, được vua Gia Long khen thưởng và cho lấy tên ông đặt cho tên núi (núi Thoại Sơn) và tên kênh (kênh Thoại Hà). Nhận thấy vùng Châu Đốc, Hà Tiên tuy rất gần nhau, nhưng không có đường bộ, có nhiều ao hồ, rừng rú lầy lội, việc đi lại bị cản trở, nhà vua mong muốn: “Đất này nếu mở đường sông để thông với Châu Đốc dọc theo biên giới với nước Cao Miên (Campuchia ngày nay) đến vịnh Hà Tiên thì việc làm ruộng, giao thông đi lại và buôn bán đều lợi. Sau này dân đến ở đông đúc, đất được khai phá, có thể thành một trấn sầm uất”. Công việc chuẩn bị xong, vua truyền cho Nguyễn Văn Thoại, lúc bấy giờ là Trấn thủ Vĩnh Thanh, chỉ huy dân binh về Châu Đốc khởi công việc đào kênh vào năm 1818. Việc đào kênh diễn ra rất khó khăn, trắc trở nhưng với sự chỉ huy của hai vợ chồng Nguyễn 22
Văn Thoại - Châu Thị Tế cùng sự cố gắng đến mức cao nhất của hàng trăm ngàn binh lính và dân công; đến tháng 5-1824, con kênh hoàn thành, kéo dài từ Châu Đốc dọc theo biên giới Việt Nam - Cao Miên đến vịnh Hà Tiên với chiều dài 97 km, qua nhiều núi đá và rừng rậm. Thật là một công trình vĩ đại thời bấy giờ. Tin công trình hoàn thành về đến kinh đô, vua Minh Mạng cùng triều thần vô cùng vui mừng. Vua cho phép Nguyễn Văn Thoại lấy tên vợ chính của mình đặt tên cho con kênh là Vĩnh Tế, vì bà có công giúp chồng tổ chức hậu cần phục vụ dân binh trong những ngày đào kênh. Ngoài việc đào kênh, Nguyễn Văn Thoại còn chú trọng đến việc mở mang đường giao thông (từ đồn Châu Đốc đến núi Sam); khai hoang vùng Cù lao Dài (lập nên làng Phú Thái, Phú Khánh, Thái Bình, Thanh Lương và Bình Thanh)... Năm 1829, Nguyễn Văn Thoại ốm, rồi qua đời. Vua Minh Mạng truy phong là Đô đốc, tước Thoại Ngọc hầu. Mộ ông đặt ở chân núi Sam, Châu Đốc. Nhân dân nhiều nơi ở vùng Vĩnh Thanh đã lập đền thờ ông. 23
GIA LONG SÁT HẠI ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN Tổ tiên Bùi Thị Xuân vốn quê gốc ở Nghệ An nhưng vào Bình Định lập nghiệp từ lâu đời. Bà nổi tiếng giỏi võ nghệ. Năm 16 tuổi, trong một lần vào rừng lấy thuốc, bà gặp một chàng trai tay không đang đánh nhau với hổ dữ. Thấy chàng trai quần áo rách nát, người đẫm máu, bà dùng dao đi rừng giết chết mãnh thú. Từ cuộc gặp gỡ ly kỳ ấy, đôi trai gái nguyện ước sống trọn đời với nhau. Chàng trai ấy chính là Trần Quang Diệu, một tướng tài của Nguyễn Huệ. Khi ra mắt Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân đã được chủ tướng thu nạp và cho làm nữ tướng thống lĩnh đội nữ binh 5.000 người. Từ đó, khi theo đoàn quân bách chiến bách thắng Tây Sơn vào Nam đánh chúa Nguyễn, ra Bắc diệt họ Trịnh, khi đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút, khi thần tốc phá 29 vạn quân Thanh ở Ngọc Hồi, Đống Đa. Cuộc đời chiến trận của vị 24
nữ tướng trẻ đã ghi biết bao chiến công oanh liệt. Bởi thế, Bùi Thị Xuân đã được vua Quang Trung phong làm Đô đốc. Khi vua Quang Trung mất, Quang Toản lên làm vua, nhà Tây Sơn suy yếu, nạn bè phái tranh chấp, giết hại lẫn nhau xảy ra liên tiếp, tạo cơ hội cho Nguyễn Ánh chia quân làm nhiều mũi tiến đánh quân Tây Sơn. Vua Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng đem đại binh vào đánh lấy lại thành Quy Nhơn khiến Phú Xuân bị bỏ ngỏ. Nguyễn Ánh liền đánh chiếm được Phú Xuân. Bùi Thị Xuân đem quân về, nhưng chỉ cứu được vua thoát chết mà không cứu được kinh thành bị mất. Vua Quang Toản bỏ chạy ra Thăng Long, nhưng Bùi Thị Xuân không theo ra mà ở lại Nghệ An chống giặc. Được tin đó, Trần Quang Diệu rút quân khỏi Quy Nhơn, nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh ác liệt, nên đành phải chạy sang Ai Lao rồi vòng về Nghệ An. Nghe tin, Bùi Thị Xuân mang một cánh quân nhỏ đi đón chồng. Nhưng không may cả hai vợ chồng và đứa con nhỏ đều bị quân Nguyễn bắt sống. Sau đó, Nguyễn Ánh cho điệu Bùi Thị Xuân đến hỏi: - Ta lấy làm tiếc cho nhà ngươi không chọn được vua sáng mà thờ. 25
Bùi Thị Xuân cười: - Nhà ngươi nhầm rồi. Ta thờ Nguyễn Huệ vì Tiên đế ta là người có chí lớn, có tài bao bọc được cả vũ trụ, có chí nuốt được cả trời đất kia. Gia Long tức lắm, lại hỏi: - Nhà ngươi vào sinh ra tử bao năm, cũng là người có tài cầm quân, sao không giỏi giữ ngai vàng cho Cảnh Thịnh (tức vua Quang Toản)? Bùi Thị Xuân nói: - Ta tiếc rằng, Hoàng đế Cảnh Thịnh không biết nghe lời khuyên của đấng trung thần, khác nào vua ta cầu người hiền mà không biết đạo, muốn người ta vào nhà mình mà đi đóng cửa lại. Vì chỗ yếu của vua ta mà ngươi còn sống đến hôm nay. Nếu triều Cảnh Thịnh có được một nữ nhi nữa như ta thì cửa Nhật Lệ không phải lạnh, nhà ngươi không thể đặt được chân lên đất Bắc Hà. Gia Long giận tím mặt, thét lên: - Nữ tặc câm họng! Ngươi sẽ phải chịu một cực hình thê thảm. Rồi Gia Long hạ lệnh cho voi giày Bùi Thị Xuân và con gái nhỏ còn Trần Quang Diệu thì bị chém đầu. 26
VIỆC LÀM LỊCH VÀ BAN HÀNH LỊCH CỦA TRIỀU NGUYỄN Việc làm lịch, ban hành lịch cho dân chúng và các cơ quan Nhà nước sử dụng dưới triều Nguyễn rất được coi trọng và được tiến hành công phu, nghiêm chỉnh. Bộ sách Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các cùng Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn có quy định như sau: “Lệ định hằng năm cứ tháng 2 Khâm Thiên giám suy tính lịch cho năm sau. Tháng 5 làm thành bản thảo. Số quyển lịch ở Kinh bao nhiêu, do Khâm Thiên giám in ra. Lại khắc bản mẫu lịch phát trạm đưa đến Gia Định, Hà Nội mỗi nơi 2 bản, giao nhận cho hai tỉnh ấy theo lịch mẫu mà khắc bản in ra. Vẫn phải vào Khâm Thiên giám lĩnh giấy vàng có đóng ấn “Hoàng đế chi bảo” và đóng ấn Khâm Thiên giám rồi phát ra cho hai tỉnh làm. Đến kỳ sẽ ban cấp cho các tỉnh”. Năm 1810 có ban Chiếu: “Gia Định, Bắc Thành hằng năm ban lịch... đường sá xa xôi nên việc ban lịch chưa rộng. Từ nay, hằng năm 27
thượng tuần tháng 4, quan của hai tỉnh ấy chọn phái hai viên Chiêm hậu ở thành đến Kinh lĩnh nhận bản thảo sang năm ở Bộ Lễ, đem về theo mẫu khắc in ra... Lịch mới in xong, đưa trình Bộ Lễ; bàn giao Khâm Thiên giám xem xét thực đúng; đóng sẵn ấn vàng rồi đem bản lịch đóng thành quyển để ban cấp cho các nơi”... Như vậy, việc làm lịch được triều Nguyễn quy định trình tự rất chặt chẽ, cụ thể. Nhà vua trực tiếp chỉ đạo và phân công trách nhiệm rõ ràng cho các viên quan chuyên môn làm lịch. Chức trách của Khâm Thiên giám là biên soạn, tu chỉnh chính xác mới được in ra phổ biến cho toàn quốc sử dụng. Thông thường, mỗi khi làm xong bản thảo Hiệp kỷ lịch kỷ công đến tháng 5 theo lệnh được khắc bản in lịch. Tháng 10, tiến hành đóng ấn Kim bảo và ấn Khâm Thiên giám rồi đóng lịch thành quyển. Ngày 1 tháng Chạp (tháng 12 âm lịch) làm lễ ban sóc (tức ban lịch) tại điện Thái Hoà (Đại Nội Huế). Quan Khâm Thiên giám đem lịch dâng lên Nhà vua làm lễ ban hành chính thức. Quan các thành Gia Định và Bắc Thành, quan phụ trách các tỉnh mặc triều phục đến Hành cung bái vọng làm lễ nhận lịch. Sau khi nhận, các quan có trọng trách đem về in ra theo lệ ban cấp như đã quy định. 28
Về hình thức của lịch cũng rất trang trọng theo quy cách do vua ban sắc: Bìa lịch rộng 9 tấc 2 phân, cao 8 tấc 7 phân(1) dùng lụa Bắc, 8 tấm lụa sắc vàng đều có thêu hoa văn rồng mây. Tờ mặt trước quyển lịch làm bằng tấm lục sắc hoa đào dài 1 tấc, rộng 5 phân, thêu 2 chữ \"Ngự lịch\" (bằng chữ Hán). Về nội dung, các vua triều Nguyễn đều rất quan tâm đến các vấn đề trọng yếu của lịch và lựa chọn phương thức soạn lịch thích hợp hơn với thời đại. Năm 1827, chuẩn y lời tâu của Tham tri Bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận lấy sách Đại Thanh lịch tượng khảo thành (triều Thanh, Trung Quốc) giao cho Khâm Thiên giám nghiên cứu tham khảo soạn thành lịch. Ngoài ra, các vua triều Nguyễn còn chú trọng đến cách bố trí trên từng tờ lịch để người xem dễ hiểu và tin cậy. Vua Minh Mạng đã từng phê: “Những ngày cấm hành hình, sát sinh, đều phải có vòng một khuyên mực nhỏ đánh dấu để dân dễ hiểu..., đến kỳ ban lịch Khâm Thiên giám phải ghi phụ chú để người dùng biết rõ”. Hằng năm việc làm lịch cũng thường xuyên được điều chỉnh, năm 1844, nhà vua ban Dụ: _______________ 1. 1 tấc = 1 dm, 1 phân = 1 cm. 29
“Khâm Thiên giám từ trước làm Hiệp kỷ lịch, nhân vì kính nể khi gặp tên húy nhà vua đã đổi tiết sau tiết “Tiểu mãn” 15 ngày là tiết “Mang chủng”(1) thành tiết “Mang hiện”... thế thì cắt nghĩa chữ mang nói không trôi được mà mất ý nghĩa của sách... Không thể không đính chính lại. Nghĩa chữ “mang” là một giống lúa, không phải ngôi sao mà dùng chữ “hiện”. Nay đổi tiết ấy thành tiết “Mang thực” (thuộc lương thực). Mặt khác, trong nội dung sách lịch, triều Nguyễn yêu cầu ban soạn lịch phải nghiên cứu, khảo sát và ghi chính xác các diễn biến về thời tiết, thiên văn. Đặc biệt các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, phải được ghi rõ ràng vào lịch và trước 3 tháng phải vẽ thành bản đồ trình nhà vua. Sau đó thông báo cho các địa phương biết và chú ý theo dõi. Đối với nước ta là một nước nông nghiệp, nên 24 tiết khí hằng năm có quan hệ chặt chẽ đến việc gieo trồng, cày cấy, thu hoạch... của nhà nông. Vua Thiệu Trị muốn phổ biến rộng rãi kiến thức cho nhân dân đã sáng tác thành 24 bài thơ lục bát, mỗi bài 4 câu dễ đọc, dễ thuộc, được đưa vào phần Phụ lục của Hiệp kỷ lịch. _______________ 1. Chủng là tên húy của vua Gia Long (1802- 1820). 30
NGÀNH KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN VIỆT NAM THẾ KỶ XIX Công tác khí tượng, thủy văn của triều Nguyễn thế kỷ XIX cũng như các triều đại trước Nguyễn vẫn gắn liền với thiên văn, lịch pháp và do một cơ quan Nhà nước phụ trách, đó là Khâm Thiên giám. Theo thư tịch ghi chép, Khâm Thiên giám xuất hiện lần đầu tiên dưới triều Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX, được lập ra tại Kinh đô Huế. Từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, cơ quan quản lĩnh thiên văn, lịch pháp của triều Lê được gọi là Tư Thiên giám, trụ sở của nó thuộc khu vực phố Khâm Thiên, Hà Nội ngày nay. Triều Nguyễn rất coi trọng Khâm Thiên giám và thường cử các quan Đại thần phụ trách cơ quan này. Trương Đăng Quế, Trương Minh Giảng... các vị trọng thần hầu hết có chức hàm Thượng thư (tương đương với Bộ trưởng hiện nay) quản lý Khâm Thiên giám về mặt hành chính. Công việc chuyên môn thì giao cho các 31
viên Giám chính, Giám phó điều hành. Năm 1805, việc sắp đặt tổ chức nhân sự tại Khâm Thiên giám được chính thức thực hiện. Ngoài quan Đại thần quản lý chung do nhà vua đặc cách chọn bổ, còn lại là 1 viên Giám chính hàm Chánh ngũ phẩm, 2 viên Giám phó Tòng ngũ phẩm, 4 viên Chủ nha chính Chánh lục phẩm, 2 viên Linh đài lang Chánh thất phẩm. Nhiệm vụ chung của Khâm Thiên giám được quy định như sau: \"Có nhiệm vụ quan sát, tính toán, phân chia các tiết trong năm để làm lịch, quan sát, ghi chép các hiện tượng thời tiết, khí hậu, quản lý giờ và làm tất cả các tính toán thiên văn có liên quan\". Ngoài Khâm Thiên giám được lập tại Kinh đô Huế, tại các tỉnh địa phương trong toàn quốc đều có đặt Ty Chiêm hậu với chức quan Linh Đài lang có trách nhiệm quan sát các hiện tượng thiên văn và theo dõi thời tiết kịp thời báo cáo về Khâm Thiên giám. Biên chế nhân sự của Ty Chiêm hậu từ triều vua Gia Long cho đến trước năm 1837 quy định mỗi tỉnh đều có từ 5 đến 10 người. Từ năm 1837 trở đi mới đưa ra quy định cụ thể: các tỉnh lớn Ty Chiêm hậu 5 người, tỉnh vừa 4 người, riêng Hà Nội được lấy 7 người làm việc. Sau đó, số nhân viên trong Ty Chiêm hậu ở các tỉnh cũng thường có thay đổi. 32
Ở thế kỷ XIX, hiện tượng bão, lụt, vỡ đê thường xuyên xảy ra, nhất là các tỉnh tại miền Bắc Việt Nam luôn luôn trở thành một vấn đề nhức nhối, cấp bách buộc triều Nguyễn phải quan tâm giải quyết. Những cuộc tranh luận gay gắt xung quanh việc bỏ đê hay giữ đê đã phản ánh rõ tính bức xúc của công tác khí tượng, thủy văn đương thời. Bên cạnh hệ thống tổ chức khá quy củ, chặt chẽ từ trung ương tới các địa phương trên toàn quốc, đảm bảo mối thông tin liên lạc thường xuyên, các cơ quan khí tượng thủy văn triều Nguyễn đã được trang bị những dụng cụ khoa học quan trắc tương đối chính xác, khoa học, trong đó, có nhiều \"nghi khí\" mua của phương Tây. Danh mục \"nghi khí\" được các sách sử ghi lại để lắp đặt tại Khâm Thiên giám và ban cấp cho Ty Chiêm hậu các tỉnh có: các loại phong vũ hàn thử biểu, hàn thử biểu, bàn xem hướng gió, kính thiên lý, hàn thử xích, bồn, chậu đo tính nước mưa... Các dụng cụ đo nước mưa được triều đình cho chế tạo theo tiêu chuẩn thống nhất. Cột đo mức nước cắm ở các con sông cũng được tính toán theo độ nông, sâu khác nhau. Các chỉ, dụ của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức về công việc khí tượng, thủy văn đều có nhắc nhở các quan lại, viên chức làm 33
công tác này phải ghi chép đều đặn, tỷ mỷ, chính xác các diễn biến của mực nước, lưu giữ hồ sơ, để đối chiếu tìm ra quy luật bão lụt hằng năm... yêu cầu tính chính xác luôn luôn được đề cao. 34
VĂN MIẾU HUẾ Văn Miếu Huế được xây dựng vào tháng Bảy năm 1808 tại địa phận làng An Vinh, nằm cạnh sông Hương. Văn Miếu Huế được triều Nguyễn cho xây dựng uy nghi, đồ sộ thể hiện sự tôn trọng đề cao Nho học. Bao ngoài Văn Miếu là phần thành ngoại, mặt trước có trổ cổng hướng về phía Nam nhìn ra sông Hương. Cổng chính có hai tầng, tầng dưới ba gian tầng trên một gian, phía trên treo một bức hoành phi sơn son thếp vàng đề ba chữ đại tự Văn Miếu môn (Cổng của Văn Miếu). Thành ngoại còn mở hai cửa Đông và Tây. Cửa Đông là Chấn Đức môn, cửa Tây là Quan Đức môn. Thành nội của Văn Miếu, phía trước có cổng tam quan hướng về phía Nam là cổng Đại Thành, bên trái có cổng Kim Thanh, bên phải có cổng Ngọc Chấn. Từ cổng Đại Thành nhìn vào là ngôi điện chính thờ Đức Khổng Tử, không gian trọng yếu và linh thiêng của Văn Miếu. Tại chính 35
đường của Văn Miếu, gian chính giữa thờ Khổng Tử với Thần vị “Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử”. Bốn gian bên trái và bên phải thờ Thần vị của Tứ Phối là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử. Thập triết được thờ ở tiền đường ba gian trái và ba gian phải, về sau đến đời Minh Mạng lại thêm Hữu Nhược và Chu Hy thành Thập nhị triết. Đông vu và Tây vu gồm 14 án thờ các Tiên hiền và Tiên Nho. Tiên hiền là những đệ tử của Đức Khổng Tử, Tiên Nho là những Nho gia nổi tiếng có công hoằng dương Nho học qua các thời đại. Từ gian thứ nhất đến gian thứ năm của hai vu, mỗi bên thờ 31 Tiên hiền, gian thứ sáu và gian thứ bảy mỗi bên thờ Tiên Nho, bên đông thờ 18 vị, bên tây thờ 16 vị... Tổng cộng gồm 110 vị, đều cho làm mộc chủ để phụng thờ. Văn Miếu Huế được tôn tạo qua các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái. Đặc biệt vào năm 1849, triều đình cho tiến hành tu sửa toàn bộ khu Văn Miếu. Dưới triều vua Bảo Đại, các tấm bia Tiến sĩ được di chuyển và sắp xếp theo vị trí như ngày nay. Toàn bộ ngôi miếu chính được dựng trên một nền đài cao, dài chừng 32 mét, rộng 25 mét. Kết cấu gồm hai nóc kiểu Trùng thiềm điệp ốc, tiền đường bảy gian, chính đường năm gian hai chái. Trước miếu về hai bên 36
trái, phải dựng hai căn nhà đối diện nhau là Đông vu và Tây vu đều gồm bảy gian. Ra ngoài cổng Đại Thành, bên trái xây Hữu Văn đường, bên phải dựng Dị Lễ đường, đều gồm một gian hai chái để vua quan nghỉ chân sửa soạn lễ phục trước khi vào tế ở miếu. Phía trước là hai dãy bia Tiến sĩ, với tổng số 32 tấm bia, trong đó 31 tấm khắc tên 292 vị Tiến sĩ đỗ ở 39 khoa thi và một tấm khắc tên vị Tiến sĩ đặc cách Bùi Ân Niên. Ra ngoài cổng Kim Thanh, bên trái tiến về phía Bắc (ở sau miếu) có Thần Khố, ra ngoài cổng Ngọc Chấn tiến về phía Bắc có Thần Trù. Phía sau Hữu Văn Đường có dựng ngôi nhà vuông thờ Thổ Công. Văn Miếu Huế 37
Trước cửa Văn Miếu, gần bờ sông có cửa Linh Tinh gồm bốn trụ đắp bằng gạch và vôi vữa, phần trên trang trí pháp lam. Tấm biển ở giữa phía trước mặt đề bốn chữ “Đạo tại lưỡng gian” (Đạo giữa trời đất); mặt sau đề bốn chữ Hán “Trác việt thiên cổ” (Vượt cao ngàn xưa). Hai bên khu vực vào Văn Miếu có hai bia “Khuynh cái hạ mã” (Nghiêng lọng xuống ngựa). 38
KIẾN TRÚC CỐ ĐÔ HUẾ Năm 1804, vua Gia Long sai Nguyễn Văn Yến và Đỗ Phúc Trạch với sự giúp đỡ của chuyên gia phương Tây phá hết thành quách cũ có từ thời Vũ Vương (chúa Nguyễn Phúc Khoát, 1738 -1765), xây dựng lại kinh thành Huế; dựng điện Cần Chánh để thiết triều và điện Thái Hòa để thiết đại triều. Điện Cần Chánh, nơi tiếp khách của Vua 39
Minh Mạng sau khi lên ngôi đã quy hoạch lại Hoàng thành gồm ba vòng thành gần vuông hơi bán về phía trước. Vòng thành ngoài chu vi chừng 10 km, mặt trước trên đường trục dựng kỳ đài, xung quanh trổ 10 cửa, có hào sâu bao quanh, bên trong có nơi làm việc, trụ sở của triều đình, vườn cảnh. Vòng thành giữa trên đường trục có cửa chính Ngọ Môn phía trước, chu vi vòng thành khoảng 2500 m đều xây bằng gạch lớn cũng có hào sâu như vòng ngoài. Cửa chính Ngọ Môn của Hoàng thành xây năm 1833 triều vua Minh Mạng, Ngọ Môn cao 14,8m gồm 2 phần chính: Bức bình phong và tòa nhà chính của Cơ mật viện - Phần dưới có kiểu thức tường thành “thượng thu hạ thách”, độ dốc gần như thẳng đứng vững chãi, bề thế, chất liệu xây bằng gạch 40
khổ to, nền lát đá và mép viền quanh diềm cổng, chân thành bằng đá, tổng chiều dài 57,95m gồm 5 vòm cao và sâu. - Phần trên: kiến trúc 2 tầng là lầu Ngũ Phụng gồm 100 cột gỗ lớn nhỏ, được liên kết 9 bộ mái riêng biệt, lớn nhỏ cao thấp khác nhau. Lầu Ngũ Phụng kết cấu cột đặt trên mặt thành dài, nền đá phiến hình chữ U được bỏ trống quanh lầu 3 mặt, phía lưng trang trí kín, tầng trên được trang trí hoa văn, có lan can, các khoang lầu có cửa tròn. Toàn bộ lầu Ngũ Phụng sơn son thiếp vàng. Phần mái dùng ngói uyên ương (ngói ống) men màu ngọc bích, phần diềm mái có hoa văn rồng cách điệu nghệ thuật, ghép các mảnh sứ màu trang trí. Ngọ Môn (Huế) 41
Ngọ Môn mang những nét kiến trúc tiêu biểu của kinh đô Huế triều Nguyễn. Trên mặt thành kinh đô Huế bố trí 24 pháo đài và đường di chuyển của những người bảo vệ kinh thành. Thành cao 6,6m, mặt trên thành rộng 6m, chân rộng 21m, hai lớp áo xây gạch vồ dày 1,5m cốt thành đất nện. 42
BẢN QUỐC THIỀU CỦA TRIỀU NGUYỄN Sau khi lên ngôi, vua Gia Long chú ý đến việc tổ chức nghi lễ chính thức. Một trong những việc làm đầu tiên của vị hoàng đế khai sáng triều Nguyễn là ra lệnh soạn thảo bản Quốc thiều để tấu lên khi triều đình cử hành các đại lễ. Nhạc công của nhà vua đang tập 43
Khi đó, có một người Pháp thân cận với vua Gia Long là ông Se-nhô (J.B. Chaigneau - mang tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thắng) được giao nhiệm vụ soạn bản Quốc thiều trên. Là một người Pháp nên Se-nhô viết bản Marche Militaire (Khúc quân hành) của phương Tây để dựng lên bản Quốc thiều triều Nguyễn có tên là Đăng đàn cung. Bản Quốc thiều này được sử dụng liên tục trong suốt mười ba đời vua nhà Nguyễn. Mỗi lần tấu Đăng đàn cung, ban lễ nhạc triều đình phải huy động một dàn bát âm lớn, cả các loại trống đại, trống tiểu, kèn, sáo và các loại đờn hoà hợp nhau. Đoàn nhạc công hoàng gia chơi nhạc Cho đến đời vua Khải Định (1916-1925), ông J.Tịnh chỉ huy ban nhạc trong Đại Nội mới 44
dùng phương pháp ký xướng âm của phương Tây ghi lại Đăng đàn cung, để cho ban nhạc Đại Nội tiện sử dụng. Khi vua Bảo Đại về nước năm 1932, lần đầu tiên Đăng đàn cung có lời ca để nghênh đón đức vua. Tác giả những lời ca từ của Đăng đàn cung là hai ông Nguyễn Trung Phán và Nguyễn Trung Nghệ. Các nữ học sinh Huế đồng ca để chào mừng vua Bảo Đại “hồi loan”. Phần lời của Đăng đàn cung triều Nguyễn có những câu mở đầu như sau: Dậy, dậy, dậy, mở mắt xem toàn châu, Đèn khai hóa rọi khắp hoàn cầu Ngọn đường thông thương ngàn dặm Xe tàu điện, tàu nước, máy bay... Qua nội dung bài Đăng đàn cung, ta cũng thấy sự bộc lộ, tuy rằng còn yếu ớt, ý muốn đổi mới, khai hoá. 45
SÀI GÒN CUỐI NĂM 1819 ĐẦU NĂM 1820 Cuối năm 1819, một viên sĩ quan hải quân Mỹ tên là Giôn Oaitơ (John White) đã đến Sài Gòn (tên gọi cũ của Thành phố Hồ Chí Minh). Tác giả đã ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe ở Sài Gòn thời gian từ 7-10-1819 đến 31-1- 1820 trong một cuốn sách xuất bản năm 1923 tại Bostơn. Theo lời giới thiệu cuốn sách, Giôn Oaitơ đi trên con tàu đầu tiên của nước Mỹ cập bến Sài Gòn. Sáng sớm ngày 7-10-1819, khi con tàu chở Giôn Oaitơ đến sông Sài Gòn, ông đã nhìn thấy: “Trên bờ sông những ngôi nhà nằm rải rác, những vườn trồng cau và dừa, vài đàn trâu bò và các con thuyền đánh cá, xa xa là cả một rừng cột buồm báo hiệu cho chúng tôi biết là đã đến thành phố. Người thông ngôn chỉ về bên trái cho chúng tôi thấy một cổng thành cổ, trên đó có một cột cờ. Theo lời anh ta đó là 46
thành Sài Gòn. Phía bờ đối diện là một làng ven đô, có rất nhiều thuyền đánh cá của người Xiêm đang neo đậu”. Những con thuyền nhẹ lướt trên mặt nước, mỗi chiếc thuyền làm bằng một thân cây “phần lớn đều do phụ nữ cầm chèo, họ ăn mặc rất duyên dáng và lạ mắt”, “các con thuyền đủ các cỡ lớn nhỏ, đi lại dọc ngang tạo một quang cảnh náo nhiệt và sinh động”. Cách bờ sông không xa là “bức tường thành rêu phong cũ kỹ, cây bụi mọc um tùm”. Tàu của Giôn Oaitơ neo lại ngay trước thành Sài Gòn, sau khi đã đi được 59 dặm rưỡi đường sông quanh co. Giôn Oaitơ và các bạn của ông thuê một chiếc thuyền mui với giá 15 quan một tháng để đi từ tàu vào bờ. Ông nhận thấy: “Dân chúng phần đông sống trên mặt nước, mỗi gia đình trong một con thuyền, dùng để đánh cá, buôn trái cây và hàng hóa lặt vặt, chở khách hoặc cho các tàu nước ngoài thuê. Có chừng vài trăm con thuyền”. Lúc bấy giờ trên sông Sài Gòn đã có tàu nước ngoài neo đậu và hoạt động trên sông nước khá nhộn nhịp. Ông kể lại về những đặc sản nơi đây, đặc biệt về các trái cây mà các thuyền thường chở theo trên sông: “Chúng tôi rất thích chuối, dứa, cam, chanh, ổi, xoài, bòng, 47
lựu, khoai lang và mía”, “cam trái lớn màu vàng đậm, rất nhiều nước, rất ngọt và không có hạt”, “trái xoài thơm ngon nhất, có hình ô van, to hơn trứng gà tây một chút, thịt trái màu vàng, vỏ rất mỏng”... Ở gần bờ sông là một dãy phố dài, có nhiều ngôi nhà rất đẹp là nơi chứa lúa gạo của nhà vua. \"Bấy giờ việc xuất cảng lúa gạo hoàn toàn bị cấm. Mỗi chiếc tàu đi từ xứ này chỉ được chở một lượng lương thực đủ khẩu phần cần thiết cho những người trên tàu, tính theo hành trình lâu hay chóng. Ba ngày sau khi buông neo tại bến sông Sài Gòn, tàu của Giôn Oaitơ được các quan chức triều đình đến khám xét và đánh thuế. Giôn Oaitơ nộp thuế bằng tiền pêso Tây Ban Nha. “Triều đình tính theo tỷ lệ 1 pêso tương đương 18 tiền, trong khi ở chợ là 20 tiền”. Ngày 9-10-1819, Giôn Oaitơ rời tàu cùng một số sĩ quan, thủy thủ đi vào thành để yết kiến vị quan lớn cai quản vùng này. Trước đó ông đã xin phép các quan chức địa phương và được biết vị Tổng trấn đang ở Huế. Ông được gặp vị quyền Tổng trấn. Tặng vật để tiếp kiến gồm có: hai cặp đèn có bóng hình cầu, bốn chai rượu bằng thủy tinh được chạm khắc rất đẹp, một cặp súng ngắn, một vài ly 48
Search
Read the Text Version
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
- 36
- 37
- 38
- 39
- 40
- 41
- 42
- 43
- 44
- 45
- 46
- 47
- 48
- 49
- 50
- 51
- 52
- 53
- 54
- 55
- 56
- 57
- 58
- 59
- 60
- 61
- 62
- 63
- 64
- 65
- 66
- 67
- 68
- 69
- 70
- 71
- 72
- 73
- 74
- 75
- 76
- 77
- 78
- 79
- 80
- 81
- 82
- 83
- 84
- 85
- 86
- 87
- 88
- 89
- 90
- 91
- 92
- 93
- 94
- 95
- 96
- 97
- 98
- 99
- 100
- 101
- 102
- 103
- 104
- 105
- 106
- 107
- 108
- 109
- 110
- 111
- 112
- 113
- 114
- 115
- 116
- 117
- 118
- 119
- 120
- 121
- 122
- 123
- 124
- 125
- 126
- 127
- 128
- 129
- 130
- 131
- 132
- 133
- 134
- 135
- 136
- 137
- 138
- 139
- 140
- 141
- 142
- 143
- 144
- 145
- 146
- 147
- 148
- 149
- 150
- 151
- 152
- 153
- 154
- 155
- 156
- 157
- 158
- 159
- 160
- 161
- 162
- 163
- 164
- 165
- 166
- 167
- 168
- 169
- 170
- 171
- 172
- 173
- 174
- 175
- 176
- 177
- 178
- 179
- 180
- 181
- 182
- 183
- 184
- 185
- 186
- 187
- 188
- 189
- 190
- 191
- 192
- 193
- 194
- 195
- 196
- 197
- 198
- 199
- 200
- 201
- 202
- 203
- 204
- 205
- 206
- 207
- 208
- 209
- 210
- 211
- 212
- 213
- 214
- 215
- 216
- 217
- 218
- 219
- 220
- 221
- 222
- 223
- 224
- 225
- 226
- 227
- 228
- 229
- 230
- 231
- 232
- 233
- 234