Important Announcement
PubHTML5 Scheduled Server Maintenance on (GMT) Sunday, June 26th, 2:00 am - 8:00 am.
PubHTML5 site will be inoperative during the times indicated!

Home Explore SachMoi.Net_Muon Kiep Nhan Sinh

SachMoi.Net_Muon Kiep Nhan Sinh

Published by Hội liên hiệp Phụ nữ Phường 6, Quận 10, 2023-06-27 03:18:54

Description: SachMoi.Net_Muon Kiep Nhan Sinh

Search

Read the Text Version

L I GI I THI U HÀNH TRÌNH MUÔN KI P NHÂN SINH Tôi chưa t ng có d p g p tác giả Nguyên Phong. Trư c đó, tôi bi t đ n ông như m t nhà khoa h c n i ti ng th gi i và cũng là ngư i phóng tác, vi t lại nh ng tác ph m v văn hóa, tâm linh kinh đi n mà nhi u th h bạn đ c Vi t, trong đó có tôi, h ng yêu m n. Hơn năm năm trư c tôi có nhân duyên đư c trò chuy n cùng tác giả Nguyên Phong v nh ng bí n liên quan đ n tác ph m kỳ bí n i ti ng Hành Tr nh v Ph ng ng - tác ph m ra đ i g n n a th k trư c nhưng không m t ai trên th gi i có th truy tìm đư c bản g c, đ bi t bao đ c giả nhi u th h còn th c m c và khi n m t nhà xu t bản M phải d ch ra ti ng Anh t nguyên bản ti ng Vi t mà Nguyên Phong đã phóng tác. Tôi đã hi u r ng hơn nghĩa ph ng tác - là có th vi t theo ti m th c c a mình, b ng ki n th c và nh ng chiêm nghi m cu c s ng. Và tôi đã nghi m ra, có nh ng ngư i Vi t vô cùng khiêm như ng nhưng không h thua kém b t c ai trên th gi i r ng l n này. Tôi đã may m n đư c ông chia s nhi u câu chuy n trong nhi u năm. Vào m t đêm khuya năm 2016, trong cu c trò chuy n kéo dài g n v sáng, tôi đã h i ông v Nhân quả và Luân h i. Ông đã k lại m t m i nhân duyên xảy ra nhi u năm trư c, v Thomas - m t doanh nhân n i ti ng New York - và nh ng câu chuy n ti n ki p c a mình. Tôi đã vô cùng ngạc nhiên và linh cảm r ng câu chuy n này có liên quan đ n nh ng trăn tr trư c gi c a tôi, và ch c cũng c a r t nhi u ngư i. Tôi r t mong tác giả Nguyên Phong có th vi t lại nh ng câu chuy n đó thành m t cu n sách. Ông im l ng không trả l i, và cũng không nh c lại chuy n này trong nh ng cu c nói chuy n ti p theo. B ng đi hơn hai năm, tôi b t ng nh n đư c thư đi n t c a ông, trong đó là nh ng chương đ u tiên c a cu n sách mà ông đ t tên là Mu n Ki p Nhân Sinh . Đ c xong, tôi đã th m nghĩ không th có cái tên nào chính xác hơn. Tôi bi t đư c r ng trong hai năm qua ông đã bay sang New York nhi u l n, ph ng v n, trò chuy n v i ông Thomas đ th c hi n cu n sách. Trư c đó, tác giả Nguyên Phong đã

liên lạc v i ông Thomas đ h i xin ý ki n v vi c vi t m t cu n sách k lại các câu chuy n ti n ki p mà ông t ng chia s . Ban đ u ông không ch c ông Thomas s ch p nh n, vì nhi u câu chuy n quá riêng tư, nhạy cảm, nhưng b t ng thay, Thomas đã đ ng ý. Mu n Ki p Nhân Sinh là m t b c tranh l n v i vô vàn mảnh ghép cu c đ i, là m t cu n phim đ s , s ng đ ng v nh ng ki p s ng huy n bí, trải dài t n n văn minh Atlantis hùng mạnh đ n vương qu c Ai C p c đại c a các Pharaoh quy n uy, đ n H p Ch ng Qu c Hoa Kỳ ngày nay - nơi nhân v t chính Thomas, ngư i bạn tâm giao lâu năm c a tác giả Nguyên Phong - đang s ng. Mu n Ki p Nhân Sinh cung c p cho bạn đ c kho ki n th c m i m , vô t n c a nhân loại l n đ u đư c hé m , cùng nh ng phân tích uyên bác, tiên đoán b t ng v hi n tại và tương lai th gi i c a nh ng b c hi n tri t thông thái. Thông đi p quan tr ng xuyên su t c a tác ph m th c t nh con ngư i chính là ngu n g c và cách th c v n hành lu t Nhân quả và Luân h i c a vũ tr . Đ i ngư i tư ng ch ng r t dài nhưng lại trôi qua r t nhanh, sinh vư ng suy t , mong manh như sóng nư c. Lu t Nhân quả c c kỳ chính xác, chi ti t, ph c tạp, đư c thu th p qua nhi u đ i, nhi u ki p, liên h tương h đan xen ch t ch l n nhau, không ai có th tính đư c tích đ c này có th tr đư c nghi p kia, không ai có th bi t đư c khi nào nhân s tr quả. Nhưng, m t khi đã gây ra nhân thì ch c ch n s g t quả - lu t Nhân quả trư c gi không bao gi sai. Nh ng xung l c, năng lư ng vô hình c a vũ tr qua lu t Luân h i và Nhân quả đã tạo nhân duyên đ ngư i này g p ngư i kia. G p nhau có khi là duyên, có khi là n ; g p nhau có lúc đ trả n , có lúc đ n i lại duyên xưa. Có bi t bao vi c di n ra trong đ i, tư ng ch ng như là ng u nhiên nhưng th t ra đã đư c s p đ t t trư c. Luân h i là m t ngôi trư ng r ng l n, nơi t t cả con ngư i, t t cả sinh v t đ u phải h c bài h c c a riêng mình cho đ n khi th t hoàn thi n m i thôi. N u không ch u h c hay chưa h c đư c tr n v n thì bu c phải h c lại, chính xác theo quy lu t c a Nhân quả. Có ngư i có cơ duyên đư c ch ng ki n lu t Nhân quả hay Luân h i, có ngư i thì không, đi u đó còn ph thu c vào cơ duyên, nh n th c, trải nghi m và ni m tin m i ngư i.

M t l i tri ân chân thành t i tác giả Nguyên Phong - ngư i đã dày công vi t nên cu n sách đ c bi t này - là không đ . Qua nh ng l n trò chuy n, tôi nh n ra ông ch có m t ư c mong duy nh t khi vi t cu n sách này. Xin đư c cảm ơn ông Thomas - vì t t cả. Xin đư c chia s cùng bạn đ c nh ng chiêm nghi m sâu s c, tâm huy t nh t c a ông: Hi n nay th gi i ang tr i qua giai o n h n lo n, xáo tr n, mà th t ra th m i qu c gia u ang gánh ch u nh ng nghi p qu mà h ã gây ra trong quá kh . M i qu c gia, c ng nh m i cá nhân, u c nh ng nghi p qu riêng do nh ng nhân mà h ã gây ra. Cá nhân th c bi t nghi p riêng c a t ng ng i, nh ng qu c gia th c c ng nghi p mà t t c nh ng ng i s ng trong u ph i tr . Hãy nh n kh p th gi i hi n nay v i h n b y t ng i, c bao nhiêu ng i ang hành ng c ác, v nhân t nh? C nh ng qu c gia ang i x v i ng i khác tàn c nh th nào? C bi t bao cái ch t th ng tâm và cu c s ng bi át c a nhi u con ng i v t i ã và ang di n ra? Hãy th ngh n u t t c u ch u h c h i và hi u r v Nhân qu , bi t r m t khi gieo nhân g s g t qu th c ai dám hành ng nh th kh ng? Th ng th con ng i, khi hành ng, t ai ngh n h u qu , nh ng m t khi h u qu x y n th h ngh g , làm g ? H oán h n, trách tr i, trách t, trách nh ng ng i chung quanh ã gây ra nh ng h u qu ? C m y ai bi t chiêm nghi m, t trách m nh và thay i kh ng? là ng l c t i chia s nh ng câu chuy n ch a t ng k v i ai này - d c nh ng i u thiên c b t kh l - và ch p thu n anh chia s nh ng tr i nghi m, bài h c v ti n khoáng h u này v i các b n c a anh, vi t thành m t cu n sách cho nhi u ng i trên th gi i c ng chiêm nghi m - gi a l c hành tinh ang g p nhi u tai ng, bi n ng t ng ngày. T i mong ch ng ta - nh ng cánh b m bé nh rung ng mong manh c ng c th t o nên nh ng tr n cu ng phong mãnh li t th c t nh m i ng i. T ng lai c a m i con ng i, m i t ch c, m i qu c gia và c hành tinh này s ra sao trong giai o n s p t i là t y thu c vào thái ng x , nh n nh n và th c t nh c a t ng cá nhân, t ng t ch c, t ng qu c gia t o nên. N u mu n thay i, c n kh i u b ng vi c nh n th c, chuy n i tâm th c, lan t a yêu th ng và chia s s hi u bi t t m i ng i ch ng ta tr c.

Nhân qu ng i th y m i tin. Nhân qu là b ng ch ng, gi p con ng i t m v thi n l ng . - Nguy n Văn Phư c Sáng l p First News - Tr Vi t

PH N M U ĐÀI B C NHÂN DUYÊN Năm 2008, tôi có d p tham d m t h i thảo khoa h c tại Đài B c. Nhân d p đó, tôi liên lạc v i m t ngư i bạn thân, giáo sư Raymond Yeh, đ đ n thăm ông này. Giáo sư Yeh là c u Trư ng khoa Khoa h c Máy tính tại trư ng Đại h c Texas và Đại h c Maryland. Ông là m t nhà khoa h c, là tác giả c a r t nhi u tài li u nghiên c u và c a mư i cu n sách giáo trình đư c dạy trong các trư ng đại h c tại Hoa Kỳ. Ông đã đào tạo nhi u th h khoa h c gia và giáo sư n i ti ng ngày nay. M c dù đã v hưu và s ng tại Đài B c nhưng ông v n ti p t c hoạt đ ng trong lĩnh v c khoa h c và có t m ảnh hư ng l n trên th gi i. Giáo sư Yeh vui m ng m i tôi ghé qua tư gia ăn t i. Đi u b t ng là trong b a ăn đó cũng có s hi n di n c a phi hành gia Edgar Mitchell [1] và m t ngư i bạn c a ông tên là Thomas K, cũng đ n thăm giáo sư Yeh. Giáo sư Yeh m đ u gi i thi u v i m i ngư i: - Phi hành gia Edgar Mitchell là m t nhà khoa h c l i lạc v i nhi u công trình nghiên c u n i ti ng v không gian tại Đại h c Harvard và Vi n Công ngh Massachusetts (MIT). Ông là m t trong sáu ngư i đã đ t chân lên m t trăng b ng phi thuy n Apollo 14 vào ngày 31 tháng 1 năm 1971. Trên hành trình tr v trái đ t, nhìn qua c a s c a phi thuy n, ông th y trái đ t th t nh bé so v i vũ tr bao la và b t ng trải nghi m m t cảm giác bình an lạ lùng không th di n tả. Khi tr v , ông tìm đ m i cách đ tìm hi u v cái cảm giác đó. Là nhà khoa h c, Edgar Mitchell c g ng nghiên c u đ giải thích

s bình an lạ lùng này qua các lý thuy t khoa h c nhưng không thành công. Ông quy t m t s khoa h c gia n i ti ng, thành l p m t vi n nghiên c u v m i liên h gi a khoa h c và trải nghi m n i tâm (Institute of Noetic Science); nhưng qua nhi u năm, nh ng nhà khoa h c l i lạc nh t này cũng chưa th đi đ n m t k t lu n nào cả. Do đó, l n này tôi m i ông y đ n g p Hòa thư ng Thánh Nghiêm, mong r ng ngài có th giúp ông y giải đáp th c m c v trải nghi m này. Trong b a ăn t i hôm đó, chúng tôi đàm đạo thân m t v các lý thuy t khoa h c v a đư c phát minh vào lúc đó. Tôi nh n th y phi hành gia Mitchell là ngư i có đ u óc c i m , v i s hi u bi t r ng và sâu s c hơn nh ng nhà khoa h c khác mà tôi đã g p. Ông Mitchell nói: - Các phát minh khoa h c m i nh t hi n nay đang thúc đ y nhân loại phải thay đ i cách suy nghĩ và quan ni m c a h , ngay cả v i nh ng gì mà trư c đây chúng ta v n cho là đúng. Càng ngày càng có thêm nhi u khám phá m i, d ki n m i, có th hoàn toàn thay đ i n n tảng khoa h c mà chúng ta đã xây d ng t m y trăm năm nay. Thí d như, trong nhi u th k , chúng ta đã tin r ng trái đ t là trung tâm c a vũ tr và m i hành tinh, k cả m t tr i, m t trăng đ u quay quanh trái đ t. Dĩ nhiên hi n nay chúng ta bi t r ng đi u này hoàn toàn sai. M t tr i ch là trung tâm c a m t Thái Dương h , quả đ t c a chúng ta và các hành tinh liên h đ u quay quanh m t tr i. Tuy nhiên, vũ tr thì vô cùng r ng l n và có r t nhi u Thái Dương h khác mà chúng ta chưa bi t đ n. Theo ư c tính c a Cơ quan Hàng không và Vũ tr M (NASA) thì có khoảng hơn m t t Thái Dương h trong vũ tr bao la mà Thái Dương h c a chúng ta ch là m t ph n nh trong đó. Ông Mitchell b t ch t tr m ngâm, gi ng xúc đ ng: - Ch khi con ngư i đi ra ngoài không gian m i th t s th y đư c chúng ta quá nh bé gi a vũ tr bao la ngoài s c tư ng tư ng này. Hi n nay, chúng ta bi t r ng s s ng đã có m t trên trái đ t này t hàng tri u năm nay, nhưng bi t đâu s s ng cũng có th hi n h u các hành tinh khác hay các Thái Dương h khác n a. Chúng ta cho r ng loài ngư i là thông minh nh t khi so sánh v i

các loài v t, nhưng bi t đâu có nh ng sinh v t thu c hành tinh khác còn thông minh hơn mà chúng ta chưa h bi t đ n. Cách đây không lâu, chúng ta cho r ng v t th nh nh t trên th gi i là phân t (Molecule) , nhưng sau đó chúng ta tìm ra nguyên t (Atom) và nghĩ r ng nguyên t là v t th nh nh t. Hi n nay, chúng ta bi t r ng nguyên t không phải là nh nh t mà còn có nh ng hạt lư ng t nh hơn nhi u (Quark) . N u chúng ta ti p t c nghiên c u thì có l s còn có nh ng th nh hơn n a. Do đó, ki n th c c a chúng ta luôn luôn thay đ i theo các khám phá m i c a khoa h c. N u chúng ta có th ch ng minh đư c r ng hạt vi lư ng (Neutrino) di chuy n nhanh hơn v n t c ánh sáng thì quan ni m v thuy t Tương đ i c a Einstein phải thay đ i và qu đạo c a m i hành tinh trong vũ tr s khác h n nh ng gì chúng ta đo đư c ngày nay. Ông ng ng lại và nh n mạnh t ng ch : - V n đ là chúng ta s phản ng như th nào v i nh ng d ki n m i đư c khám phá? Li u chúng ta có ch p nh n r ng nh ng gì chúng ta tin tư ng t b y lâu nay ch là nh ng lý thuy t không còn giá tr n a không? Hay chúng ta v n bám ch t l y quan ni m cũ vì đã coi chúng như là chân lý tuy t đ i? Giáo sư Yeh đ ng tình ti p l i: - Khoa h c th c nghi m ch là t p h p nh ng ki n th c thu t p đư c t nhi u cu c thí nghi m, v i nh ng d li u đư c đo lư ng, quan sát và ki m ch ng. Là khoa h c gia, chúng ta luôn luôn tìm ki m, h c h i và nghiên c u d a trên lý lu n, đ t ra nh ng giả thuy t, r i ch ng minh r ng chúng đúng hay sai. T t cả nh ng gì chúng ta xây d ng đ u hoàn toàn d a vào các công c đo lư ng; nhưng v i s ti n b c a khoa h c, khi các công c này ngày m t tinh vi hơn, chính xác hơn, chúng ta s tìm thêm đư c nh ng d li u m i đ b sung cho nh ng d li u trư c và ti p t c xây d ng n n khoa h c hi n nay. Nói cho đúng thì khoa h c th c nghi m là m t ti n trình luôn luôn thay đ i đ b sung cho nh ng gì b t toàn trư c đây. Ông Mitchell m m cư i:

- Nhưng s có m t lúc nào đó chúng ta tìm ra nh ng d li u hoàn toàn khác v i nh ng d li u trư c đó. Chúng ta s đ t ra nh ng giả thuy t m i đ thay đ i các quan ni m hi n tại và chúng ta s có m t cu c cách mạng khoa h c l t đ t t cả nh ng gì chúng ta xây d ng trư c đây. B t ch t, ông Mitchell quay qua h i tôi: - Anh cũng là m t nhà khoa h c, v y anh nghĩ như th nào? Tôi suy nghĩ, r i trả l i: - M t cu c cách mạng khoa h c như th có l c n nhi u th hơn là vi c đưa ra m t lý thuy t m i đ đánh đ nh ng lý thuy t trư c. Theo tôi nghĩ, trư c h t, chúng ta phải nghi m lại các quan ni m trư c đ tìm hi u tại sao chúng không còn đúng n a. Như giáo sư Yeh đã nói, n u chúng ta phát minh ra nh ng công c tinh vi hơn, chính xác hơn, thì chúng ta hi u r ng công c trư c đây không hoàn hảo. N u chúng ta có th ch ng minh r ng nh ng d li u m i này h p lý hơn, chính xác hơn, giá tr hơn, thì chúng ta có th đưa ra b ng ch ng đ bi n minh cho lý thuy t m i này và thay th lý thuy t trư c đã không còn giá tr n a. Tuy nhiên, tôi nghĩ có l s phải m t nhi u th i gian đ thay đ i tư duy c a m i ngư i. Chúng tôi ti p t c thảo lu n v các phát minh khoa h c, nhưng ph n l n là cu c đ i thoại gi a phi hành gia Mitchell và giáo sư Yeh. Tôi và ông Thomas ch ng i nghe, đôi khi thêm vào vài câu xã giao. Tôi th y ông Thomas chăm chú vào cu c đ i thoại, th nh thoảng lại m m cư i nhưng không nói gì. Có l vì ông là m t doanh nhân ch không phải là khoa h c gia như chúng tôi nên ông ki m l i hơn. Sau b a ăn, ông Mitchell h i tôi: - Ngày mai chúng tôi s đ n g p Hòa thư ng Thánh Nghiêm, anh có mu n đi cùng v i chúng tôi không? Dĩ nhiên tôi không th t ch i m t cơ h i hi m có như v y. Bu i g p g đư c s p đ t trư c này di n ra tại giảng đư ng Đại h c Đài B c cho m t s sinh viên và giáo sư tham d . Giáo sư Yeh là ngư i ch trì bu i nói chuy n. Giáo sư Yeh b t đ u cu c g p m t:

- Mitchell, ông hãy k v trải nghi m lạ lùng khi bay trên không gian vũ tr cho Hòa thư ng Thánh Nghiêm nghe và h i ngài v nh ng th c m c c a ông đi. Phi hành gia Mitchell lên ti ng: - Thưa Hòa thư ng, sau khi hoàn t t s m nh trên m t trăng, chúng tôi b t đ u bay tr v trái đ t. Khi bay trong không gian, phi thuy n c a chúng tôi phải liên ti p xoay tròn theo tr c di chuy n 360 đ đ giảm s c nóng phát ra t ánh sáng m t tr i. Do đó, c m i hai phút thì tôi lại nhìn th y trái đ t, m t trăng và m t tr i qua c a kính c a phi thuy n. Tôi cũng phải nói thêm là bên ngoài không gian, vì không có b u khí quy n nên chúng tôi nhìn th y các hành tinh r t rõ. Khi trên trái đ t, chúng ta nhìn lên b u tr i và th y các vì sao l p lánh vì ảnh hư ng c a b u khí quy n; nhưng trong không gian, t t cả đ u sáng rõ như m t mạng lư i kh ng l v i hàng ngàn hàng vạn vì sao trông như nh ng hạt kim cương t a sáng. Đó là m t hình ảnh tuy t v i đ i v i các phi hành gia chúng tôi lúc đó. Ngày nay, m i ngư i đ u có th nhìn th y hình ảnh này qua kính vi n v ng Hubble, hay qua các hình ảnh mà Cơ quan Hàng không và Vũ tr M ch p đư c và đưa lên mạng. N u quan sát k , chúng ta s th y vũ tr đ p vô cùng, không l i nào có th di n tả đư c. Là m t nhà khoa h c, tôi bi t r ng t t cả nh ng t bào, nh ng nguyên t trong cơ th tôi, hay cơ th c a nh ng ngư i bạn tôi trong phi thuy n, và ngay cả nh ng nguyên t c u tạo nên phi thuy n, đ u phát xu t t hành tinh c a chúng ta hay chính là kh i ngu n trong vũ tr . M i hi n tư ng v t ch t đ u phát xu t t vũ tr này. T đó, tôi ý th c r ng thân th c a tôi và t t cả m i v t trong vũ tr không có gì sai bi t. Thay vì là m t cá th đ c l p, m t thành ph n riêng r , tôi ý th c r ng t t cả cùng chung m t ngu n g c. Ngay khi đó, toàn thân tôi b ng nhiên rung đ ng mãnh li t. Tôi th y mình chìm đ m trong m t cảm giác bình an lạ lùng không th di n tả. Trải nghi m này ti p t c di n ra m i khi tôi không b n r n. Là phi hành gia, dĩ nhiên chúng tôi r t b n vì v a phải đi u khi n phi thuy n, v a phải hoàn thành nh ng thí nghi m khoa h c trong phi thuy n, nhưng th nh thoảng tôi cũng

d ng lại nhìn ra ngoài c a s đ chiêm ngư ng v đ p di u kỳ c a vũ tr và cảm nh n cảm giác bình an lạ lùng này. V i m i vòng quay c a phi thuy n, tôi lại nhìn th y trái đ t, m t trăng, m t tr i, cùng các vì tinh tú l p lánh. Tôi th y vũ tr gi ng như m t t m lư i v i hàng tri u vì sao toát ra th ánh sáng r c r , và tôi ý th c rõ ý ni m “vạn v t đ ng nh t th ”. Tôi hi u r ng n u đã đ ng nh t v i t t cả thì vạn v t đ u liên quan ch t ch v i nhau, không th tách r i đư c. Đây là m t quan ni m m i lạ mà t trư c đ n nay, các nhà khoa h c chúng tôi không ai nghĩ đ n. Trong trải nghi m bình yên đ c bi t đó, tôi t h i: “Tôi th c s là ai? Tôi t đâu t i đây? R i tôi s đi v đâu? Vũ tr đư c hình thành và có m i liên h như th nào v i trái đ t cùng nh ng con ngư i s ng đó? Có phải chúng tôi, nh ng ngư i đ u tiên du hành ra ngoài không gian, đã cảm nh n đư c s tương quan rõ r t gi a con ngư i và vũ tr , khác h n v i ý ni m c a nh ng ngư i chưa t ng r i trái đ t?”. T ý ni m này, tôi nghĩ r ng có l đã đ n lúc phải tìm cách thay đ i các quan ni m đ nh ki n ch t h p đã giam c m bao nhiêu th h t trư c đ n nay b ng m t quan ni m m i v s tương quan gi a con ngư i và vũ tr . Có l các đ nh lu t khoa h c, các ki n th c đư c xây d ng t ngàn xưa s phải thay đ i khi chúng ta nhìn lại t t cả nh ng gì chúng ta đã làm trên trái đ t này, sau khi ch ng ki n s nh bé c a chúng ta so v i vũ tr bao la. Ngay như n n khoa h c hi n đại b t đ u khoảng b n trăm năm trư c v i Isaac Newton cũng s phải thay đ i khi con ngư i bư c ra kh i t m ảnh hư ng c a s c hút trái đ t. Khi lan man nghĩ đ n đó, tôi ch t nghĩ đ n nh ng b c tiên phong như Copernicus, Galileo và nh ng nhà khoa h c l i lạc khác đã đưa ra ý ki n v s tương quan gi a trái đ t và vũ tr nhưng phải ch u đ ng s ch ng đ i, kỳ th c a nh ng quan ni m thi n c n, h p hòi lúc b y gi . Ngư i thì b thiêu s ng, ngư i thì b giam c m cho đ n ch t, nhưng s th t v n là s th t, không th ch i cãi. T t cả khuynh hư ng bảo th , h p hòi trư c sau cũng phải thay đ i khi ngư i ta bi t hư ng t m m t lên cao, xóa b thành ki n cũ và m r ng tâm h n đ nhìn ra vũ tr bao la.

Phi hành gia Mitchell ng ng lại suy nghĩ, r i ti p t c: - Khi tr v trái đ t, tôi luôn th c m c v cái cảm giác bình an lạ lùng này. Tôi tìm đ c r t nhi u sách v khoa h c nhưng không tìm th y gì có th giải thích hi n tư ng trên. Tôi chuy n qua nghiên c u các sách v tôn giáo c a phương Tây nhưng cũng không tìm đư c gì. Tôi tìm đ n nh ng h c giả thông thái nhưng không ai có th trả l i đư c th c m c c a tôi. M t ngư i bạn khuyên tôi nên tìm đ c các tài li u v tôn giáo phương Đông, và tôi b t đ u nghiên c u Ph t giáo, nh t là các sách nói v đại đ nh (Samadhi) . Tôi th y có s trùng h p gi a trải nghi m mà tôi đã trải qua trên không gian v i trải nghi m c a các hi n tri t phương Đông, khi h di n tả v trạng thái thi n đ nh. Giáo sư Yeh ch t h i: - Phải chăng cảm giác đó là th y mình h p nh t v i vạn v t? Phi hành gia Mitchell trả l i: - Đúng th , lúc đó tôi không th y có s khác bi t gi a mình và vạn v t n a. Cái cảm giác hòa h p, rung đ ng cùng v i s chuy n đ ng c a vũ tr , là m t trải nghi m kỳ lạ không th di n tả đư c b ng l i. Giáo sư Yeh quay sang h i Hòa thư ng Thánh Nghiêm: - Bạch Hòa thư ng, theo quan ni m c a Ph t giáo, trải nghi m không còn th y s phân bi t gi a mình và vạn v t c a phi hành gia Mitchell có phải là m t s ch ng ng không? Hòa thư ng Thánh Nghiêm m m cư i nhìn ông Mitchell: - Trư c h t tôi r t m ng cho phi hành gia Mitchell đã có m t trải nghi m đ c bi t. Trong hàng ngàn, hàng vạn ngư i, không m y ai có đư c trải nghi m như th . Trong cu c s ng, khi ngư i ta trải nghi m m t đi u gì đó hoàn toàn m i m , có th thay đ i h n các trải nghi m cá nhân t trư c, ta có th coi đó như là m t s ch ng ng . Tuy nhiên, đó cũng có th ch là m t cảm giác nh t th i. Thí d như, cách đây không lâu, m t đ t c a tôi cũng có m t trải nghi m đ c bi t. Sau m t khóa tu thi n kéo dài bảy ngày, anh ta tr v nhà. Trên đư ng v , anh ta th y t t cả cây c i, hoa lá, t nh ng con côn trùng nh bé cho đ n nh ng chi c lá cây, ng n

c đ u vui m ng chào đón anh. Anh cảm nh n đư c m t ni m an lạc tuy t v i như hòa nh p v i ngoại cảnh và tin r ng mình đã ch ng ng . Anh v i vã tr lại k cho tôi nghe v trải nghi m đó. Tôi nói v i anh r ng tuy đó là m t khoảnh kh c trải nghi m tuy t v i nhưng cũng có th bi n đi ngay trong ch c lát. Đ ng coi cảm giác đó là m t s ch ng ng . N u không tin, anh hãy th tr lại khu vư n đó đ xem nh ng cây c , hoa lá, muông thú có chào đón anh như trư c không. Khi quay tr lại, anh không cảm nh n đư c trải nghi m như trư c nên đã h i: “Làm th nào đ con có th l y lại cái cảm giác tuy t v i đó?”. Tôi trả l i: “Không ai có th s h u mãi mãi trải nghi m đã qua đó. N u mu n n m gi nó mãi thì anh th t tham lam. Có đư c trải nghi m này ch là m t k t quả c a quá trình tu t p mà thôi. Đó không phải là s ch ng ng như anh kỳ v ng. M c đích c a tu t p thi n đ nh là đ phát tri n trí tu và xóa b bản ngã. N u chúng ta đạt đ n trạng thái Vô ngã thì th gi i này còn t n tại n a không? N u chúng ta đạt đ n trạng thái Tâm vô phân bi t thì làm gì còn có chúng ta hay th gi i này n a? Đ i v i đa s m i ngư i, th gi i này th t s hi n h u, nhưng đ i v i nh ng ngư i đã ch ng ng thì th gi i này ch là huy n ảo, không có th t, do đó t t cả trải nghi m dù là trải nghi m gì đi chăng n a, cũng ch là huy n ảo ch c lát mà thôi. Chúng ta không nên đ ý đ n nó hay mu n n m gi nó mãi làm gì”. Giáo sư Yeh h i thêm: - Bạch Hòa thư ng, như th thì dù chúng ta có đư c nh ng trải nghi m gì cũng không nên bám víu vào nó hay sao? Hòa thư ng Thánh Nghiêm trả l i: - Cho dù trải nghi m đó di n ra th nào đi n a, hãy đ cho nó đ n và đi m t cách t nhiên. Có th nó ch là đi u xu t phát t tâm th c, s thay đ i, vì t t cả m i s đ u s đ i thay. Dù nó hi n h u như th t, v n hãy coi nó ch là nh ng hi n tư ng c a tâm th c mà thôi. Tuy nhiên, đ i v i nh ng ngư i đã trải nghi m, r i hoàn toàn thay đ i nh n th c c a h và luôn luôn s ng v i tâm th c đó, thì chúng ta có th k t lu n r ng ngư i đó đã ch ng ng . Theo quan

ni m c a Ph t giáo, ngư i này đã có m t “nhân” lành t trư c và đ n nay nó b t đ u tr “quả”. Hòa thư ng Thánh Nghiêm chia s ti p: - Phi hành gia Mitchell là m t nhà khoa h c, nhưng không th giải thích trải nghi m đó b ng lý lu n c a khoa h c, không th ch ng minh nó qua các cu c thí nghi m, hay tạo ra lý thuy t b ng phương pháp lu n lý. Ông tin r ng đây là m t ki n th c m i, mà khoa h c c n khám phá, nghiên c u thêm. Tuy nhiên, ông nên bi t r ng cảm giác đó là m t trải nghi m tâm linh n m trong phạm trù c a tôn giáo mà khoa h c không th giải thích. Tri t h c hay lu n lý h c cũng không th giải thích đư c, vì nó là m t trải nghi m tinh th n xảy ra cho m t ngư i duy nh t - là ông mà thôi. Trải nghi m y đã làm thay đ i hoàn toàn cách suy nghĩ c a ông. T đó, ông cảm th y nó tr thành m t ph n c a ông, không th tách r i ra đư c n a. Trải nghi m này vư t kh i phạm trù c a khoa h c b i vì nh ng ngư i trải nghi m đư c vi c này không th di n tả, giải thích đư c, không th ch ng minh đư c, và cũng không ai có cùng m t trải nghi m tương t như th , nó là m t trải nghi m có tính ch t duyên căn cá nhân. Ai u ng nư c thì t mình bi t nóng hay lạnh. Trong trư ng h p c a ông, ch mình ông cảm nh n đư c s an lạc hòa h p cá nhân vào vũ tr , nh p v i t t cả, không còn phân bi t gi a mình và vũ tr n a. Lúc đó cũng có các phi hành gia khác trong phi thuy n. Tại sao h không có đư c trải nghi m gi ng như ông? Tại sao ch mình ông có đư c cảm nh n đó? N u nói theo khoa h c thì m t khi ông cảm nh n đư c đi u gì, t t cả nh ng ngư i khác cũng đ u phải th y như th . Tóm lại, đây là đi u mà khoa h c không th giải thích hay ch ng minh, vì nó n m ngoài phạm trù c a khoa h c. Giáo sư Yeh h i ti p: - Ông Mitchell, trải nghi m lạ lùng đó có tr lại v i ông n a không? Khi tr v trái đ t, ông còn có cảm nh n đó n a không? Phi hành gia Mitchell trả l i: - Có ch , tôi v n cảm nh n đư c và s ng trong ni m an lạc vô biên này. Nó hoàn toàn thay đ i quan ni m c a tôi v con ngư i và vũ tr , vì th tôi m i tìm cách giải thích nó theo khoa h c, lu n lý h c, tri t h c và tâm linh. Tôi đ ng ý v i Hòa thư ng Thánh

Nghiêm v đi u ngài dạy; nhưng là ngư i nghiên c u khoa h c, tôi v n mu n tìm cách k t n i khoa h c v i trải nghi m n i tại, đ m ra m t chân tr i m i cho ki n th c còn thi u sót c a nhân loại hi n nay. Giáo sư Yeh ti p t c đ t câu h i: - Ông nghĩ sao v các lý thuy t khoa h c còn thi u sót hi n nay? Ch ng hạn như giả thuy t v s hình thành vũ tr qua v n Big Bang? Phi hành gia Mitchell trả l i: - Khoa h c th c nghi m đư c xây d ng t nh ng lý lu n, r i đư c ch ng minh qua các cu c thí nghi m v i nh ng d li u chính xác. Giả thuy t v s hình thành vũ tr qua v n Big Bang m c dù đư c đa s ch p nh n nhưng chưa ai có th ch ng minh nó m t cách chính xác. Do đó, nó v n ch là m t giả thuy t. Nó giải thích đư c m t s hi n tư ng, nhưng nó chưa hoàn ch nh đ có th đư c công nh n là s th t tuy t đ i. Theo tôi thì v i đà ti n tri n c a khoa h c ngày nay, giả thuy t này có th tr nên l i th i, khi có thêm nh ng b ng ch ng hay d li u khác. Tôi không nghĩ vũ tr ch là k t quả c a m t v n , mà là m t cái gì đó v n đ ng, thay đ i không ng ng, do đó r t khó đ nh nghĩa th t rõ ràng. Giáo sư Yeh đ t v n đ : - Nhưng n u loại b lý thuy t v v n Big Bang thì phải chăng th i gian không b t đ u t lúc tạo l p ra vũ tr mà là m t cái gì đó không có kh i th y? Phi hành gia Mitchell giải thích thêm: - Đ i v i tôi, th i gian ch là m t s đo lư ng có tính tương đ i. Chính con ngư i đ xư ng ra cái g i là “th i gian” trên trái đ t này ch t nhiên không phân chia ra như th . Con ngư i tạo ra quan ni m v th i gian, r i chia nó ra thành nhi u mảnh v n. Trái đ t quay quanh m t tr i m t vòng thì đư c xem là m t năm, r i m t năm có mư i hai tháng, m i tháng có m t s ngày, r i ngày chia ra gi , gi chia ra phút, phút chia ra giây v.v… S phân chia này ch mang tính gi i hạn trên trái đ t mà thôi. N u chúng ta đi lên H a Tinh, hay Kim Tinh, chúng ta s phải thay

đ i th i gian khác đi. N u chúng ta ti p t c đi vào không gian thì th i gian trên trái đ t s không còn giá tr n a. Giáo sư Yeh quay qua h i Hòa thư ng Thánh Nghiêm: - Bạch Hòa thư ng, m t nhà khoa h c không gian và là m t phi hành gia n i ti ng như ông Mitchell đây cũng không hoàn toàn tin vào giả thuy t v s hình thành vạn v t qua v n Big Bang, mà cho r ng vũ tr là m t cái gì đó luôn luôn thay đ i. N u th phải chăng vạn v t không có kh i đ u hay ch m d t, mà ch là m t di n trình thay đ i không ng ng? Bạch Hòa thư ng, li u quan ni m này có khác v i quan ni m c a Ph t giáo trong kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka) không? Hòa thư ng Thánh Nghiêm trả l i: - Cho đ n nay, m i ngư i đ u cho r ng vạn v t đư c hình thành t v n Big Bang. Các nhà khoa h c cũng d a vào giả thuy t này đ đưa ra các lý lu n khoa h c v không gian, th i gian v.v... Tôi m ng vì m t nhà khoa h c l i lạc và là phi hành gia n i ti ng như ông đây lại nghĩ khác. Ông tin r ng vũ tr luôn luôn thay đ i và v n đ ng không ng ng, do đó r t h p v i quan ni m “thành, tr , hoại, di t” vì m i s v t, m i hi n tư ng luôn luôn thay đ i, không có kh i đ u hay ch m d t. Đi u này r t h p v i quan ni m c a Ph t giáo. Tuy nhiên, tôi mu n nói thêm r ng vũ tr quan c a Ph t giáo không phân chia th i gian và không gian như là hai th c th khác bi t mà bao g m cả th i gian l n không gian. Th i gian bao g m cả quá kh , hi n tại và tương lai. Không gian cũng bao trùm cả sáu hư ng (Đông, Tây, Nam, B c, trên, dư i). Nhưng th i gian có th t s hi n h u không? Không! Th i gian ch đư c tạo ra khi có m t đ i tư ng trong không gian chuy n đ ng, và n u ta đo đư c s chuy n đ ng đó thì th i gian hi n h u. Nói cách khác, n u ta cảm th y không gian thay đ i thì th i gian hi n h u. N u không gian không chuy n đ ng thì s không có th i gian. Nhưng nói như th thì không gian có hi n h u không? Cũng không! N u ta không cảm nh n đư c th i gian thì không gian cũng không hi n h u. T t cả ch là m t cái gì đó uyên nguyên r ng l ng. Nói cách khác, vũ tr quan c a Ph t giáo là s ph i h p gi a không gian và th i gian. Cái này có thì cái kia có, cái này không

thì cái kia không, t t cả đ u liên h v i nhau, tương t c và tương nh p ch t ch . Tóm lại, m i s v t trong vũ tr đ u có tính tương đ i, nghĩa là đ u vô thư ng, vô ngã và duyên sinh. Th i gian và không gian tuy có tên g i khác nhau nhưng cùng chung m t bản th , hay “vạn v t đ ng nh t th ”, m t là t t cả, t t cả là m t. Hòa thư ng Thánh Nghiêm ti p t c giải thích: - Ngày nay, ngành v t lý không gian đã ch ng minh đi u này b ng thuy t Tương đ i c a Albert Einstein. Đ c bi t là quan ni m v không gian b n chi u, nêu rõ ý nghĩa: không gian và th i gian không phải là hai đi u tuy t đ i có t th riêng bi t, mà ch có tính tương đ i thôi. Phải dùng t “kỳ gian” (space-time) đ g i chung cho cả hai m i đúng, vì tính ch t c a chúng là dung thông, hòa h p v i nhau làm m t, thâu nhi p và tương nh p v i nhau m t cách tuy t di u. V i trí óc siêu vi t, Einstein đã tìm ra đư c lu t Tương đ i, th y đư c v n t c, th i gian, không gian, kh i lư ng đ u là nh ng gì tương đ i ch không tuy t đ i. Công th c E = mc 2 c a ông đã ch ng minh r ng năng lư ng (energy) chính là kh i lư ng (mass) c a v t đó khi di chuy n nhanh b ng lũy th a c a v n t c ánh sáng. Lúc đó, v t ch t s bi n thành năng lư ng và khi năng lư ng chuy n đ ng ch m lại thì nó s bi n thành v t ch t. Hòa thư ng Thánh Nghiêm quay qua phi hành gia Mitchell r i nói m t cách rõ ràng: - Như ông cũng bi t, năng lư ng là kh i lư ng và kh i lư ng cũng là năng lư ng, hay tinh th n là v t ch t và v t ch t cũng là tinh th n. Đó chính là l i Đ c Ph t đã dạy trong kinh Hoa Nghiêm t hơn hai ngàn năm trăm năm trư c: “Tâm là v t, v t cũng là tâm – vạn v t đ ng nh t th , đó chính là nguyên lý 's s vô ngại pháp gi i'”. Mu n ti p thông v i cảnh gi i Hoa Nghiêm này, ông phải đi vào b ng cánh c a tâm linh ch nh ng cảm giác phân bi t hay lu n lý d a trên s suy ng m c a “th c” thì không th đư c. Ch có cánh c a tâm linh m i có th t ng h p đư c th i gian và không gian, đưa ông vào cu c s ng “h ng mà chuy n” thôi.

Lúc nãy, ông nói r ng ông không tin vũ tr này đư c hình thành b i v n Big Bang, mà vũ tr này thay đ i không ng ng. Nhưng ai có th cảm nh n đư c s thay đ i c a vũ tr như th ? Phải chăng chính là con ngư i? Nh ng sinh v t khác không thông minh như con ngư i nên không ý th c rõ v vũ tr như con ngư i. Con ngư i có ý ni m rõ ràng v th i gian và không gian. Khi th i gian hi n h u, không gian cũng hi n h u, đó chính là quan ni m căn bản v s tạo l p vũ tr . Hòa thư ng Thánh Nghiêm quay sang nói v i giáo sư Yeh: - Lúc nãy, ông h i quan ni m này có trùng h p v i quan ni m c a kinh Hoa Nghiêm không? Đúng th , ch trương c a kinh Hoa Nghiêm là “pháp gi i duyên kh i”, nghĩa là m i s , m i v t đ u do nhân duyên hòa h p mà thành, t t cả đ u nương vào nhau, nhân sinh quả, quả lại sinh nhân, l p l p trùng trùng, có khi dung thông, có khi đ i ch i, ảnh hư ng l n nhau mà sinh ra, không m t cái gì có th t t n, t l p riêng r . Cái này có là nh cái kia, cái kia có là nh cái này. L p l p trùng trùng không cùng t n nên g i là “trùng trùng duyên kh i”. Vì th , “m t cũng là t t cả, t t cả cũng là m t”, m i s , m i v t đ u có liên quan m t thi t v i nhau, đ u tuân theo đ nh lu t c a vũ tr như vô thư ng, vô ngã. Đi m đ c bi t c a kinh Hoa Nghiêm là nói v cái th “đ ng” c a vũ tr mà đ c tính c a nó là bi n hóa, thay đ i không ng ng. Hòa thư ng Thánh Nghiêm nhìn m i ngư i m t lư t và nh n mạnh: - S thay đ i này cũng là đ c tính c a cu c s ng vô thư ng c a chúng ta mà không m y ai đ ý đ n. Chúng ta sinh ra, l n lên, r i già và ch t. Trong m i giây, m i phút, cơ th chúng ta đ u thay đ i v i hàng vạn t bào ch t đi và hàng vạn t bào đư c sinh ra. S thay đ i đư c đo lư ng qua th i gian và chia làm ba th i: “Quá kh , hi n tại và v lai”. Th t ra, s phân chia này ch là tương đ i mà thôi vì trong m t th i v n có th nói đ n các th i kia. Ba th i có th riêng r hay xen l n v i nhau, thay đ i hay dung thông v i nhau. Thí d như khi suy tư, chúng ta có th ý th c đư c nhi u vi c trong quá kh , hi n tại, hay v lai.

M i s , m i v t trong vũ tr đ u tác đ ng v i nhau theo nhân duyên và tạo thành nh ng s , nh ng v t. S tác đ ng và bi n chuy n này di n ti n và thay đ i không ng ng trong vòng sinh hóa. Chính nh có s phân chia th i gian này mà chúng ta có th hi u rõ đư c lu t Vô thư ng, Vô ngã, Duyên sinh và Nhân quả. Kinh Hoa Nghiêm giải thích cho chúng ta bi t rõ vũ tr đư c tạo ra do vô t n duyên kh i, hình tư ng tuy khác nhưng t t cả đ u chung m t bản th , bình đ ng và dung thông. Bản th đây chính là tâm chân như. T chân như phát sinh ra vạn h u. Vạn h u là giả huy n mà chúng ta lại cho là th t. Nh bi t cách quan sát th t tư ng qua công phu thi n đ nh sâu xa mà chúng ta hi u đư c và th y rõ m i s , m i v t như nó là. Khi chúng ta th c hành nhìn sâu vào m i s , chúng ta vư t qua cái tư ng bên ngoài đ th y rõ cái th bên trong. Khi chúng ta bi t hư ng tâm lên cao, vư t kh i th gi i hi n tư ng sai bi t đ đạt t i cảnh gi i vô sai bi t này thì chúng ta m i hi u rõ đư c th t tư ng c a s v t. Giáo sư Yeh h i phi hành gia Mitchell: - Hòa thư ng đã trình bày v s thành l p vũ tr qua lăng kính c a Ph t giáo. Là m t nhà khoa h c v không gian, ông nghĩ sao v quan ni m này? Phi hành gia Mitchell trả l i: - Có nhi u quan ni m khác nhau v s tạo l p vũ tr . Ngay cả nh ng nhà khoa h c thông thái nh t cũng không đ ng ý v i nhau, ngư i nói th này, ngư i nói th khác. Ngư i đ t ra lý thuy t này, ngư i đưa ra quan ni m khác. T t cả đ u là nh ng giả thuy t, chưa ai ch ng minh đư c m t cách rõ ràng v i các d li u chính xác. Tuy nhiên, n u nói t t cả là \"Không\" thì đa s m i ngư i s hi u l m là không có gì, và n u nói vũ tr không có th t thì không ai tin đư c. Càng tìm hi u v nh ng đi u này, các nhà khoa h c, ngay như chính tôi đây, cũng b i r i. Hãy cho r ng vũ tr là m t cái gì đó th t s hi n h u đã, nhưng khoa h c s giải thích như th nào? Ai tạo ra nó? Nó đ n t đâu? Nó b t đ u như th nào? Khoa h c th c nghi m đòi h i phải có s ch ng minh, giải thích, đưa ra nh ng lý thuy t, r i tìm ra nh ng d li u đ bi n minh cho lý thuy t đó đúng hay sai.

Th k hai mươi là th k c a nhi u phát minh, và con ngư i đã khám phá ra r t nhi u th mà trư c đó ngư i ta ch tư ng tư ng ra, nay đã thành s th t. Hi n nay có r t nhi u lý thuy t m i và quan ni m m i, nhi u hơn t t cả nh ng lý thuy t t trư c đ n nay. Phải nói r ng nhân loại đã đi r t xa, đã đ t chân lên m t trăng, đã ti n vào vũ tr , nhưng còn bi t bao nhiêu th khác chúng ta chưa bi t đ n. Vi c giải thích v vũ tr v n là đi u mà nh ng nhà khoa h c như chúng tôi chưa hi u rõ. Tuy nhiên, quan ni m v s tương thông và dung nhi p ch không phân chia này là m t quan ni m r t h p v i lý thuy t v t lý lư ng t . T nhi u năm nay, chúng tôi đã nghiên c u vi c s d ng nh ng công c khoa h c c a ngành v t lý lư ng t đ tìm ra s tương quan gi a khoa h c và tâm linh. Dĩ nhiên, chúng tôi chưa đi đ n m t k t lu n nào rõ ràng nhưng đã có r t nhi u b ng ch ng cho th y v t lý lư ng t s đưa n n khoa h c th c nghi m ti n xa hơn trư c. Giáo sư Yeh th c m c: - N u th thì thuy t Big Bang s không còn giá tr n a sao? Phi hành gia Michell chia s : - Không nh ng tôi mà các nhà khoa h c khác cũng nghĩ như th . Đã có nhi u b ng ch ng cho th y giả thuy t này không hoàn toàn như m i ngư i v n nghĩ. Đã có nhi u nghiên c u khoa h c tìm ra nh ng d li u m i, trái ngư c v i các d li u v v n Big Bang này. Dĩ nhiên phải c n nhi u cu c thí nghi m n a trư c khi chúng ta có th k t lu n rõ ràng. Nhưng theo tôi nghĩ, khoa h c m i ngày m t phát tri n, ngư i ta s tìm đư c nhi u d li u m i đ ch ng minh r ng m t s lý thuy t trư c đây không còn đúng n a. Thí d như ngày trư c Einstein cho r ng t c đ c a ánh sáng là tuy t đ i, không gì có th đi nhanh hơn t c đ c a ánh sáng. Quan ni m c a v t lý lư ng t v tính “vô đ nh x ” (quantum non-locality) ch ng minh r ng có nh ng tín hi u có th đi nhanh hơn v n t c c a ánh sáng. Trong thí nghi m v cảm giác nh n th c siêu vi t (Extrasensory Perception - ESP), khi m t tư tư ng nảy ra, ngư i khác có th nh n bi t đư c ngay l p t c. Tôi đã th c hi n thí nghi m này trên m t trăng và ngư i trái đ t nh n ngay đư c nh ng tín hi u này,

không nh ng m t l n mà hàng ch c l n. N u chúng ta đo lư ng th i gian và khoảng cách thì nh ng tín hi u này di chuy n nhanh hơn v n t c c a ánh sáng r t nhi u. Theo quan ni m c a v t lý lư ng t v tính “vô đ nh x ” thì nh ng tín hi u c a cảm giác, hay đơn giản hơn là tư tư ng phát xu t t b óc con ngư i, có th di chuy n nhanh không gi i hạn. Giáo sư Yeh góp thêm l i: - M t y u t c a quan ni m v tính “vô đ nh x ” là lý thuy t v s tương quan gi a hai th c th v i nhau. N u m t th c th rung đ ng hay cảm nh n đư c đi u gì thì th c th kia cũng nh n th y ngay l p t c. Đi u này tuy v n ch là m t giả thuy t khoa h c nhưng cũng có th dùng đ giải thích v s cảm thông gi a hai ngư i hay quan ni m v Nhân quả. Phi hành gia Mitchell g t đ u: - Đúng th , quan ni m v Nhân quả c a Ph t giáo r t thích h p v i các lý thuy t khoa h c ngày nay. V t lý đã ch ng minh r ng n u ta ném m t v t lên không trung, v t đó s phải rơi xu ng vì s c hút c a trái đ t. Tương t , m t hành đ ng xảy ra cũng s đem lại m t k t quả. B t c đ ng l c nào phát ra cũng có m t phản l c ngư c lại. Ngày nay, t t cả các nhà khoa h c đ u ch p nh n quan ni m này. Giáo sư Yeh ti p t c đ t câu h i cho Hòa thư ng Thánh Nghiêm: - Bạch Hòa thư ng, phi hành gia Mitchell v a giải thích v m i tương quan gi a hai th c th . V y đi u này có th giải thích v nghi p l c trong thuy t Nhân quả c a Ph t giáo như th nào? Hòa thư ng Thánh Nghiêm trả l i: - Theo Phạn ng , Karma có nghĩa là hành đ ng. B t c m t hành đ ng nào như c ch ( thân ), l i nói ( kh u ) hay ý nghĩ ( ) cũng đ u tạo ra m t phản l c hay nghi p . Tuy nhiên, phải nói thêm r ng nh ng hành đ ng này phải d a trên ý th c ( consciousness ). Do đó, gi a nghi p ( karma ) và th c có m i tương quan ch t ch v i nhau, tương t như giả thuy t khoa h c v s tương quan lư ng t mà phi hành gia Mitchell v a trình bày.

Th c thu c v phạm trù tinh th n. Ph t giáo có r t nhi u cách giải thích v th c. Theo phái Duy Th c ( Vijnanamatra ) thì th c có th chia thành nhi u ph n chi ti t nhưng ta có th tạm chia th c ra làm sáu ph n là: nhãn, nh , t , thi t, thân và , tương ng v i sáu căn là m t, tai, m i, l i, thân và c . Ngoài ra còn th c th bảy hay căn th c ( M t na th c ) và th c th tám là tàng th c ( A l i da th c ). Nghi p l c đư c tạo ra do th c th sáu ( th c ) vì nó tạo ra s phân bi t, do đó còn g i là phân bi t th c. Chính th c th sáu này phân bi t phải trái, t t x u, đúng sai v.v… Năm th c trư c ( nhãn, nh , t , thi t, thân ) không phân bi t, ch là nh n th c các cảm giác, nên không tạo nghi p. Khi các cảm giác này di n ra, th c th sáu sinh ra các ý ni m phân bi t và h p tác v i th c th bảy hay căn th c ( M t na th c ) đ tạo thành nghi p nhân. Khi m t nghi p nhân xảy ra, nó có th đem lại m t h u quả ngay trong lúc này hay có th xảy ra m t lúc khác. M t nhân có th tạo ra quả ngay trong đ i này ho c có th ch đ n đ i sau. Tuy nhiên, đã gây nhân gì thì g t quả đó. Tr ng đ u thì đư c ăn đ u, tr ng dưa thì đư c ăn dưa. Không th có vi c tr ng đ u mà lại ra quả dưa đư c. Nghi p nhân gây ra trong ki p này đôi khi đư c lưu tr trong th c th tám hay tàng th c và tác đ ng ki p sau. Nói cách khác, t ki p s ng này qua ki p s ng khác, cái duy nh t đư c duy trì là nhân, hay ch ng t , đư c lưu tr trong tàng th c. Chính th c th tám này ch a đ ng t t cả ch ng t c a nghi p l c và chúng ti p t c đi theo m i cá nhân như bóng v i hình, t ki p này qua ki p khác. Theo quan ni m c a Ph t giáo thì s s ng con ngư i đư c hình thành b ng ba th c th : sinh l c, hơi m và tàng th c. Sinh l c giúp ngư i ta s ng, hơi m là s chuy n đ ng c a sinh l c tạo ra năng lư ng, và tàng th c ảnh hư ng đ n đ i s ng c a m i ngư i theo lu t Nhân quả. Khi sinh l c cạn d n, ngư i ta s già và ch t. Khi ch t, hơi m m t đi và cái cu i cùng ra đi là tàng th c. Nó s d n d t ngư i ta đi vào đ i s ng ki p khác.

Vì trong đ i s ng hàng ngày con ngư i tạo nghi p t t hay x u qua hành đ ng, l i nói và ý nghĩ, nên nh ng ch ng t c a nghi p l c này đư c lưu tr trong tàng th c. M t s ch ng t hoạt đ ng không ng ng, ảnh hư ng qua bảy th c trên, tạo thành tính tình, năng khi u, thói quen c a m t cá nhân vì b t c hành đ ng nào (nghi p nhân) cũng tạo ra nh ng phản l c (nghi p quả). Tuy nhiên, m t s ch ng t ti m n trong tàng th c không phát đ ng ngay mà ch đ n th i đi m thu n ti n khác nên con ngư i ti p t c trải qua ki p s ng này đ n ki p s ng khác. Khi có đ duyên, nh ng ch ng t này phát đ ng theo lu t Nhân quả dư i m t dạng th c khác. Th xác có th là m t con ngư i, hay cũng có th là m t con v t do s d n d t c a nghi p l c. Theo quan ni m c a Ph t giáo, ki p s ng hi n nay ch ng phải là ki p s ng đ u tiên hay cu i cùng, mà chúng ta đã s ng hàng trăm, hàng tri u ki p s ng trư c đây và s có vô s nh ng ki p s ng sau n a. Ki p s ng con ngư i thì có hạn, kéo dài cao l m là tám ch c hay m t trăm năm, nhưng tàng th c thì không bao gi h t, kéo dài liên t c và đó chính là vòng luân h i vô t n mà Đ c Ph t đã ch rõ trong giáo lý c a Ngài. Dĩ nhiên các b c thánh nhân thì khác, vì h đã đư c giải thoát kh i s chi ph i c a nghi p l c. H đã bi t cách tu hành đ ch m d t vòng sinh t luân h i, và đó chính là m c đích t i h u mà Đ c Ph t đã nh n ra và truy n dạy cho loài ngư i. S m nh c a Ph t giáo là đư c giải thoát kh i s chi ph i c a vòng Luân h i. Giáo sư Yeh ti p t c đ t câu h i đ làm rõ hơn n a nh ng chia s c a Hòa thư ng Thánh Nghiêm: - Bạch Hòa thư ng, v y làm th nào đ hóa giải các nghi p l c này đây? Hòa thư ng Thánh Nghiêm trả l i: - N u ngư i ta bi t cách chuy n hóa th c th tám ( A l i da th c ), bi n th c thành trí thì h s vư t ra kh i s ki m t a c a nghi p th c. Đi u này đòi h i phải có công phu tu luy n, và ch có cách duy nh t y thôi. Dĩ nhiên, s tu luy n có nhi u l i, ngư i thích tu Thi n, ngư i thích tu T nh, ngư i thích tu M t v.v… tùy theo căn cơ m i ngư i.

Giáo sư Yeh h i thêm: - Hòa thư ng đã chia s r t rõ v Nghi p, Nhân quả và vòng Luân h i, nhưng là nhà khoa h c, ông nghĩ th nào v vi c này, thưa phi hành gia Mitchell? Phi hành gia Mitchell trả l i: - Đ ng trên phương di n khoa h c, chúng tôi không có s giải thích rõ ràng v Nghi p như Hòa thư ng Thánh Nghiêm v a trình bày. Chúng tôi chưa có m t công c khoa h c nào đ giải thích v Nghi p th c hay ch ng minh r ng có m t đ i s ng ki p sau. Chúng tôi có th v n đ c sách và tìm hi u v quan ni m này, nhưng chúng tôi không th đo lư ng hay ch ng minh đư c. Tuy nhiên, tôi đ ng ý r ng b t c hành đ ng nào cũng tạo ra phản ng. Do đó, khoa h c có th công nh n quan ni m v lu t Nhân quả, nhưng vi c lưu tr nh ng l c này m t nơi nào đó, r i đ chúng kh i phát vào lúc khác là đi u chúng tôi không th ch ng minh trong phòng thí nghi m. Theo tôi thì quan ni m v Luân h i hi n nay v n là m t đi u không th giải thích b ng khoa h c. Chúng tôi bi t t ngàn xưa, m i qu c gia, m i n n văn minh trên th gi i đ u có nh ng ni m tin mà ngày nay khoa h c không th giải thích. Quan ni m đó đúng hay sai, có giá tr hay không, là đi u mà khoa h c không th th m xét. Do đó, chúng tôi ch có th coi đó là nh ng ni m tin mà thôi. Ngư i ta có th tin th này hay th khác, nhưng không th ch ng minh b ng nh ng d li u trong phòng thí nghi m đư c. Tuy nhiên, là ngư i đã có m t trải nghi m ch có th giải thích trên phương di n tâm linh ch chưa th giải thích b ng khoa h c, nên tôi có m t ý nghĩ khác. Theo tôi, đ c tin tôn giáo và lý thuy t khoa h c có th b sung cho nhau và tạo ra nh ng lý thuy t m i, đó là s c mạnh c a m t ki n th c m i. Ph t giáo ch trương m i v t đ u do nhân duyên tạo thành, t “Không” bi n thành “Có”. Khoa h c cũng bi t r ng khi năng lư ng đông đ c lại s k t thành v t ch t. Nói cách khác, v t ch t chính là do năng lư ng h p thành. Do đó, chúng ta có th s d ng giác quan đ nh n th c v v t ch t, tôi có th nhìn, có th s n m v t ch t - như cái bàn này hay cái gh này. S

hi u bi t v năng lư ng và v t ch t là m t ngành khoa h c d a trên óc thông minh c a con ngư i. Chúng ta có th coi s thông minh là khả năng nh n bi t d a trên nh ng d ki n. T đó, chúng ta có th đưa ra nh ng đ nh lu t khoa h c m i, hay nh ng danh t m i, đ giải thích v s tương quan gi a con ngư i và vũ tr . M c dù khoa h c đã ti n tri n r t nhi u nhưng v n còn nhi u th mà chúng ta c n khám phá. Đ tìm hi u thêm v nh ng th này, chúng ta c n s d ng nh ng công c khoa h c t i tân, nh ng lý thuy t m i, đ khám phá thêm và phát tri n ki n th c c a nhân loại. Bi t đâu m t ngày nào đó khoa h c s có th giải thích và ch ng minh các lý thuy t Ph t giáo, và cả hai s b sung cho nhau đ thúc đ y s ti n b c a nhân loại. Hòa thư ng Thánh Nghiêm ti p l i: - Không đơn giản như th đâu. Tôi mu n nói rõ r ng khoa h c và Ph t giáo là hai môi trư ng hoàn toàn khác bi t. Tuy cả hai có m t s đi m tương đ ng nhưng khoa h c không bao gi có th giải thích đư c nh ng đi u thâm sâu di u v i c a Ph t giáo. Tại sao th ? B i vì giáo lý c a đạo Ph t vư t ra ngoài khả năng c a ngôn ng , vư t ra ngoài nh n th c v m t tri giác, vư t ra ngoài s hi u bi t thông thư ng mà các giác quan đem lại, vì nó là nh ng hoạt đ ng sâu th m c a trí tu ch không đư c xây d ng d a trên s thông minh. Khoa h c th c nghi m hoàn toàn đư c xây d ng d a trên giác quan c a con ngư i, v n gi i hạn. Có r t nhi u th mà giác quan không th nh n bi t đư c. Thí d như chúng ta không th nghe đư c m t s âm thanh có t n s quá th p hay quá cao. M t chúng ta không th nhìn th y m t s th vì chúng rung đ ng m t t n s khác. Ngay cả suy nghĩ c a chúng ta cũng r t gi i hạn vì ki n th c chúng ta có hoàn toàn d a trên nh ng ký c đã đư c tích lũy t trư c, hay d a trên nh ng đi u đã đư c truy n dạy. Suy nghĩ c a chúng ta có tính thiên ch p. T s gi i hạn này d n đ n nh ng lý thuy t sai l m và thành ki n h p hòi. Dĩ nhiên, theo th i gian, m t s lý thuy t sai l m s đư c s a đ i và thay th b ng nh ng lý thuy t khác. Khoa h c có th giúp con ngư i phát tri n ki n th c và chinh ph c đư c thiên nhiên

nhưng làm sao nh ng th h u hạn có th giải thích nh ng cái vô hạn đư c? Khoa h c giải thích m i s d a trên ngôn t nhưng quan ni m c a Ph t giáo vư t kh i gi i hạn c a ngôn t . Khoa h c d a trên s suy lu n nhưng quan ni m c a Ph t giáo vư t kh i nh ng lý lu n thông thư ng, do đó không th nghĩ, bàn. N u không th di n tả đư c b ng các lý lu n hay ngôn t thì làm sao khoa h c có th nghiên c u nh ng cái vô gi i hạn này? Khoa h c th c nghi m đ t căn bản trên trí thông minh qua khả năng suy lu n và phân tích c a b óc, nhưng quan ni m c a Ph t giáo không d a trên s thông minh c a b óc, mà đ t căn bản trên m t th trí tu khác g i là trí tu Bát nhã ( prajna ), nên không th giải thích b ng trí thông minh đư c. Tuy nhiên, s ti n b c a khoa h c có th giúp chúng ta hi u thêm v các đ nh lu t b t bi n c a vũ tr , m r ng t m m t cho m i ngư i. Khoa h c cũng giúp ích cho s phát tri n c a Ph t giáo trong tương lai đ đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Giáo sư Yeh h i thêm: - Phi hành gia Mitchell, ông có đ ng ý như th không? Phi hành gia Mitchell g t đ u: - Tôi hoàn toàn đ ng ý v i Hòa thư ng Thánh Nghiêm. Hôm nay, chúng ta đã đ c p đ n nhi u v n đ quan tr ng. M c dù v n có m t s quan ni m khác bi t, nhưng đi u đó không quan tr ng. Khi tôi nhìn th y v đ p c a vũ tr , tôi cảm nh n đư c m i tương quan gi a tôi và vạn v t, nhưng tôi không th đưa ra m t phương trình toán h c đ giải thích s ki n đó. Tôi cảm nh n đư c m t đi u kỳ lạ xảy đ n v i tôi, nhưng tôi không bi t lý giải như th nào n a. Là m t nhà khoa h c, tôi r t quan tâm đ n nh ng hi n tư ng không th giải thích này nên v n mu n tìm ra m t giải pháp h p lý hơn. Tôi bi t đi u này là không d . Có th m t vài ch c năm, vài trăm năm n a đ giải thích, hay có th không bao gi giải thích đư c. Tuy nhiên, tôi mu n đưa ra nh ng câu h i, và đ t v n đ v s tương quan gi a khoa h c v i trải nghi m tâm linh đ nh ng nhà khoa h c sau này ti p t c nghiên c u.

Tôi bi t r ng s ch t, s tái sinh, nghi p l c là nh ng khái ni m h t s c quan tr ng c n đư c nghiên c u k lư ng, vì tôi tin đó là nh ng biên gi i mà hi n nay khoa h c chưa đạt đ n, nhưng trư c sau gì chúng ta cũng phải tìm hi u thêm. Tôi tin r ng theo th i gian, nhân loại s ti n b và bi t đâu m t ngày nào đó s đạt đư c s hi u bi t sâu s c v các quan ni m mà hi n nay h ch coi là ni m tin tôn giáo. N u chúng ta không h c h i và nghiên c u thì tôi không bi t tương lai c a nhân loại s ra sao. Phi hành gia Mitchell cảm thán: - Khi tôi t không gian tr v trái đ t v i m t trải nghi m lạ lùng, tôi th y mình hoàn toàn khác h n. Tôi có th nh n th c rõ ràng v tình trạng c a nhân loại hi n nay. Tôi th y rõ s tàn bạo đang gia tăng kh p nơi. Tôi cảm nh n đư c n i đau kh c a nh ng nạn nhân chi n tranh như th nó xảy ra v i chính mình v y. Tôi th y rõ nh ng h u quả mà con ngư i đang gây ra cho trái đ t này, ch ng hạn như vi c tàn phá môi trư ng không thương ti c. Càng ngày con ngư i càng tr nên ích k , tham lam, vô cảm, lãnh đạm, mà không nhìn th y nh ng h u quả h đang gây ra cho chính h , cho gia đình h , hay cho đ t nư c c a h . Do đó, tôi th y chúng ta c n phải thay đ i nh ng quan ni m l i th i t trư c, vư t ra kh i nh ng tranh ch p thư ng tình đ hư ng đ n nh ng gì cao thư ng, t t đ p hơn. Ti c thay, hi n nay, chính qu c gia c a tôi cũng đang ti p tay cho ảnh hư ng x u xa này. Làm sao chúng ta có th nói là nhân loại đã văn minh hơn trư c, đã ti n b hơn trư c trong khi chúng ta không ý th c gì v nh ng vi c chúng ta đang làm? Giáo sư Yeh ti p t c đ t câu h i: - Bạch Hòa thư ng, chúng ta ch có m t ki p s ng r t ng n. Như phi hành gia Mitchell v a nói, li u chúng ta có th hy v ng r ng s có s thay đ i trong tương lai g n hay không? Tương lai c a nhân loại s ra sao? Hòa thư ng Thánh Nghiêm trả l i: - Tôi luôn luôn lạc quan v tương lai c a con ngư i. Hi n nay đã có hơn bảy t ngư i s ng trên trái đ t này, tôi tin r ng n u v n có nh ng ngư i bi t suy nghĩ như phi hành gia Mitchell đây và h ý th c đư c v s tàn bạo, thù h n, ích k , tham lam... r i tìm cách

nuôi dư ng lòng t bi, hư ng đ n chân thi n m , thì h có th tạo ra nh ng ảnh hư ng tích c c lên nh ng ngư i chung quanh. Ch ng nào chúng ta còn hy v ng v m t tương lai t t đ p, thì tương lai đó s di n ra. N u chúng ta tuy t v ng, và phó m c cho m i vi c xảy ra, thì th t đáng ti c. Tại sao tôi không cảm th y bi quan? B i vì cách đây không lâu tôi có đ c m t cu n sách khoa h c đ c p đ n thuy t H n đ n, trong đó tác giả, cũng là m t nhà khoa h c, đã s d ng m t thí d v ảnh hư ng m t cánh bư m nh bé rung đ ng ch p ch n tại khu r ng x Brazil nhưng lại có th gây ra m t tr n cu ng phong l n Texas. M t vi c tuy nh nhưng có th tạo ra nh ng tác đ ng l n đ n không ng . Đi u này có th giải thích cho tình trạng hi n nay. N u m t ngư i có ý th c và làm nh ng đi u thi n lành, d u ch là vi c nh , thì h cũng có th tạo ra nh ng ảnh hư ng tích c c, giúp thay đ i nh ng ngư i chung quanh. N u nhi u ngư i cùng chung s c làm nh ng vi c lành, thì cả th gi i s thay đ i. Hòa thư ng Thánh Nghiêm quay qua các sinh viên đang ng i d thính và nh n mạnh: - Hi n nay, đa s m i ngư i đ u b n r n v i sinh k nên h không ý th c gì v h quả c a hành đ ng, l i nói và tư tư ng c a mình. H ti p t c tạo nghi p cho mình và cho nh ng ngư i chung quanh. Song, v n có ngư i ý th c v tình trạng kh ng hoảng đang xảy ra và không ng ng kêu g i m i ngư i hãy t nh th c, tránh làm nh ng vi c ích k , tham lam, thù h n, năng làm nh ng vi c t t lành. Dù ch m t hay hai ngư i kh i xư ng làm vi c t t cũng có th ảnh hư ng đ n nh ng ngư i khác, gi ng như phi hành gia Mitchell đây. Tôi hy v ng các giáo sư và sinh viên tham d bu i nói chuy n hôm nay s ý th c hơn v vi c làm c a mình và phóng t m m t lên m t bình di n cao hơn như, phi hành gia Mitchell đang c g ng đ xư ng đ ch m d t nh ng tranh ch p thư ng tình, xu hư ng ích k , tham lam hi n tại, nh đó chúng ta s có đư c m t tương lai t t đ p hơn. Phi hành gia Mitchell lên ti ng: - Tôi hoàn toàn tâm đ c v i nh ng l i chia s c a Hòa thư ng Thánh Nghiêm. Đôi khi tôi cũng bi quan, nhưng tôi không mu n

như th . Giáo sư Yeh nói l i k t cho bu i g p g : - Hôm nay chúng ta đã có m t bu i nói chuy n thú v và h u ích, nhưng chúng ta không th ti p t c vì Hòa thư ng Thánh Nghiêm còn phải tr v chùa chu n b cho khóa l . Thay m t ban t ch c, tôi xin cảm ơn Hòa thư ng Thánh Nghiêm và phi hành gia Edgar Mitchell, mong r ng trong tương lai chúng ta s có thêm nh ng bu i nói chuy n như th này. Trong lúc Hòa thư ng Thánh Nghiêm r i giảng đư ng thì m t s sinh viên kéo lên xin đư c ch p ảnh k ni m v i phi hành gia Mitchell. Tôi và Thomas, ngư i bạn c a Mitchell, v n ng i dư i hàng gh khán giả. Trong su t bu i nói chuy n, ông này v n gi im l ng, nhưng không hi u sao lúc này ông Thomas quay qua h i tôi: - Anh nghĩ sao v bu i nói chuy n này? Tôi trả l i r ng tôi r t quan tâm khi nghe Hòa thư ng Thánh Nghiêm giải thích v m i tương quan gi a khoa h c và Ph t giáo, cũng như nêu lên s khác bi t gi a hai lĩnh v c này. Ông Thomas g t đ u: - Nhưng anh nghĩ th nào v vòng Luân h i và lu t Nhân quả? Tôi trả l i: - Tôi hoàn toàn tin tư ng lu t Nhân quả và Luân h i, gây nhân gì thì g p quả đó. Dĩ nhiên đ i v i nh ng ngư i chưa quen thu c v i quan ni m này thì có th đây là m t đi u khó tin, nh t là nh ng ngư i thiên v khoa h c hay nh ng ngư i luôn đòi h i phải có b ng ch ng rõ ràng. Ông Thomas ti p t c h i: - N u th , anh có tin r ng con ngư i có linh h n không? Sau khi ch t, linh h n này s đ u thai vào m t th xác khác, ki p s ng ch ? L n đ u tiên tôi th y v doanh nhân v n luôn gi thái đ im l ng tr m tĩnh này lại ch u nói nhi u như th . H n đây phải là m t đ tài mà ông quan tâm. Tôi giải thích:

- Linh h n ch là m t danh t thông thư ng đư c s d ng đ g i tên m t cái gì đó t n tại sau khi th xác này ch t đi. Lúc nãy, Hòa thư ng Thánh Nghiêm giải thích r ng theo quan ni m c a Ph t giáo thì cái duy nh t t n tại sau khi ch t là tàng th c ( A l i da th c ), m t cái kho ch a m i loại hạt gi ng (ch ng t ), t t cũng như x u, mà chính ngư i đó đã gieo. M t l n n a, tôi cảm th y ngạc nhiên khi ông Thomas h i ti p: - N u th thì theo anh, linh h n và tàng th c khác nhau như th nào? Đây là m t câu h i khó giải thích rõ ràng nên tôi trả l i v n t t: - Theo s hi u bi t c a tôi thì linh h n ám ch m t cái gì đó không thay đ i, di chuy n t ki p này qua ki p khác, gi ng như m t ngư i đi du l ch qua th i gian, qua nhi u ki p s ng. Trong khi tàng th c là m t cái gì đó s ng đ ng, luôn luôn thay đ i, nó là t p h p c a nhi u ch ng t , đư c góp lại qua nh ng trải nghi m trong nhi u ki p. Ông Thomas g t đ u như th tâm đ c v i m t đi u gì đó thú v : - Theo như anh giải thích v linh h n thì sau khi ch t, ngư i đó s tái sinh thành m t ngư i khác ki p sau. Dù ngư i đó làm gì chăng n a thì v n tái sinh tr lại thành ngư i, vì linh h n là m t cái gì đó b t t , không thay đ i. Trong khi quan ni m c a Ph t giáo v tàng th c lại cho r ng tùy hoàn cảnh hay nhân duyên, sau khi ch t, m t ngư i có th tái sinh làm ngư i hay súc v t. Anh nghĩ sao v đi u này? Tôi giải thích, dù tin r ng ông Thomas có th đã bi t: - Đúng th , tùy nhân duyên t t hay x u mà sau khi ch t, m t ngư i có th tái sinh thành ngư i hay thành súc v t. Hơn n a, h cũng có th tr thành ma, qu hay xu ng đ a ng c. Do đó, vòng Luân h i không ch gi i hạn trong th gi i c a loài ngư i mà còn có cõi gi i khác n a. Ông Thomas m m cư i, đ ng cảm v i tôi: - Hay l m! Đi u anh nói r t thú v và làm tôi b t ng vì có ngư i am hi u, đ ng cảm. Có l chúng ta c n g p nhau thêm nhi u l n n a đ thảo lu n, chia s v đ tài thú v này. Tôi có nh ng trải nghi m riêng và mu n tìm hi u thêm v các ki n th c c a Ph t

giáo v Luân h i, Nhân quả, duyên nghi p v.v… Ti c r ng gi đây giáo sư Yeh và ông Mitchell đã xong vi c. Tôi và ông Mitchell phải tr v khách sạn thu x p ra phi trư ng đ k p chuy n bay v New York chi u nay. Chúng tôi tạm bi t nhau, ông Thomas ch đ ng trao cho tôi t m danh thi p và thi n ý m i tôi n u có d p ghé qua New York thì cho ông bi t. Tôi cũng l ch s đáp lại và h a s liên lạc v i ông y đ trao đ i thêm v đ tài thú v này. Tuy nhiên, vì b n r n v i nhi u công vi c nên tôi dư ng như quên h n cu c g p g và l i h a này trong nhi u năm. *** Năm năm sau, vào năm 2013, tôi có d p tham d m t bu i h i thảo v khoa h c New York và sau đó đi ăn t i tại m t nhà hàng g n khách sạn. V a bư c vào nhà hàng và đang ch đ i đ đư c đưa đ n bàn ăn thì tôi b t ng nghe có ti ng g i tên mình và th y ông Thomas cùng v đang ng i tại m t bàn g n c a s . Ánh m t ông l v vui m ng khi th y tôi và l ch s m i tôi ng i ăn cùng v i v ch ng ông y. Ông Thomas m l i: - Th t b t ng đư c g p anh New York, sao anh đ n mà không báo cho tôi bi t? May là có duyên g p anh đây, chúng ta đã có l i h n và chưa có d p nói h t câu chuy n tại Đài B c năm năm v trư c. Anh có mu n chúng ta ti p t c thảo lu n sâu v đ tài này không? Th t ra lúc đó tôi chưa k p nh v câu chuy n khi trư c mà ông v a nh c, và cũng ng n ngại vì s hi n di n c a Angie, v ông. Có l đoán đư c ý tôi, ông Thomas trách nh : - Này anh bạn, anh đã nh t trí r ng chúng ta c n nhi u th i gi hơn đ ti p t c đ tài còn d dang này. Hay là anh ghé qua nhà tôi đ chúng ta ti p t c câu chuy n nhé. Anh th y đư c không? Anh còn đây đ n bao gi ? Đ c đư c s chân thành trong ánh m t Thomas. Dĩ nhiên tôi không th t ch i m t l i m i th t lòng như th nên đã đ ng ý ghé thăm ông y vào hôm sau. Ông Thomas căn d n:

- Anh cho tôi đ a ch khách sạn và th i gian anh có th đi, ngày mai tôi s cho ngư i đ n đón anh. Hôm sau tôi dành bu i t i đ n nhà riêng c a ông. Chúng tôi ti p t c trao đ i v đ tài Luân h i, Nhân quả. Bu i nói chuy n đ c bi t này kéo dài trong nhi u gi , và đ n lúc đó tôi kh ng đ nh đư c là ông Thomas có m i quan tâm đ c bi t đ n Luân h i. Hôm đó, ông Thomas h i: - Anh nói r ng anh tin vào s Luân h i, Nhân quả nhưng đó ch là m t ni m tin tôn giáo hay còn là đi u gì khác n a? Là m t nhà khoa h c quan tâm nhi u đ n tri t h c, đ n nhi u tôn giáo, nh t là Ph t giáo, ngoài ni m tin ra, anh phải có b ng ch ng nào đó ch ? Tôi trả l i: - Là m t nhà khoa h c t ng nghiên c u nhi u v Ph t giáo, tôi không ch đơn thu n tin vào giáo lý c a Đ c Ph t mà đã tr c ti p trải nghi m, quan sát, ki m ch ng m t giai đoạn dài. Tôi đã suy ng m, phân tích m t cách khoa h c v nh ng l i dạy c a Ngài trong khá nhi u năm và th y nó r t h p lý và giải thích đư c vì sao nó tr thành m t chân lý. Do đó, đây không ch là m t ni m tin thu n túy, dù ngày nay đạo Ph t đã có nhi u bi n tư ng không còn nguyên bản - ngay nh ng nư c Á Đông - mà không ít ngư i đã nh n ra nhi u ngư i không t t đã dùng đạo Ph t, chùa chi n, tín ngư ng Ph t giáo đ tr c l i và ph c v cho m c đích, l i ích riêng c a h . Tr lại v i b ng ch ng Luân h i, đã có r t nhi u b ng ch ng v s tái sinh trong các ki p s ng như trư ng h p c a Edgar Cayce, m t nông dân tại ti u bang Kentucky v i h c v n chưa quá b c trung h c. Ch qua m t cơn bạo b nh mà ông y đã nh lại ki p s ng trư c kia, ki p s ng mà ông là m t th y thu c. Không nh ng th , t đó ông có th ch n b nh, ch a b nh chính xác hơn nh ng y bác sĩ đương th i. Ông đã đ lại nhi u tài li u y h c giá tr mà hi n nay nhi u trư ng đại h c y v n đang nghiên c u và áp d ng. Ông Thomas m m cư i và g t đ u đ ng ý: - Tôi có đ c qua m t s tư li u v trư ng h p Edgar Cayce. Đây th c s là m t trư ng h p đ c bi t v Luân h i, nhưng ch c còn

nh ng trư ng h p khác n a ch ? Tôi nói ti p: - N u không hoàn toàn tin tư ng vào vòng Luân h i thì có th giải thích sao v trư ng h p c a nh ng đ a tr v i năng khi u đ c bi t mà chúng ta thư ng g i là th n đ ng? Ch c ông cũng bi t Mozart soạn nhạc t năm lên b n và ch trì các bu i hòa t u t năm lên tám. Tuy còn r t nh nhưng Mozart đã có th soạn nhạc cho hàng ch c loại nhạc khí khác nhau ch trong vài ngày mà không h qua m t l p dạy nhạc nào. Beethoven cũng th , ông y b t đ u soạn nhạc t lúc m i lên ba và có th s d ng hàng ch c loại nhạc khí khác nhau. Ai đã dạy nh ng đ a tr này như th n u không phải h đã trải qua r t nhi u ki p s ng t ng h c và am hi u sâu v âm nhạc? H n ông cũng bi t Galileo v a là m t nhà toán h c, v a là m t nhà thiên văn h c đã đưa ra b ng ch ng v qu đạo c a các hành tinh t khi còn bé. Ông y đã v bản đ vũ tr v i nh ng hành tinh mà khi đó kính vi n v ng còn chưa đư c phát minh ra. Ngay cả nh ng nhà khoa h c thông thái th i b y gi chưa m y ai bi t v nh ng hành tinh này. Ai đã dạy cho m t đ a bé chưa đ y mư i tu i, chưa h c qua b c ti u h c nh ng ki n th c tuy t v i như th , n u không phải ông y đã t ng đư c sinh ra vào nh ng ki p s ng nh ng n n văn minh mà nay đã bi n m t trên b m t đ a c u? Ông nghĩ sao v m t đ a bé m i lên năm như Blaise Pascal có th giải nh ng bài toán c c kỳ ph c tạp, k cả nh ng phương trình toán làm nh c đ u nh ng b c th y v toán khi đó? Khoa h c giải thích trư ng h p này như th nào n u chúng ta không tin r ng con ngư i đã trải qua nhi u ki p s ng và đã t ng đư c dạy bảo, h c h i trong quá kh ? Ông Thomas h i: - Anh nghĩ r ng nh ng ngư i này có th h i tư ng lại ki n th c mà h đã trải qua, đã h c đư c ki p trư c hay sao? Tại sao nh ng ngư i khác lại không nh đư c gì? Tôi trả l i:

- N u m t ngư i đư c rèn luy n k lư ng m t chuyên môn nào đó và ti p t c theo đu i chuyên môn y trong nhi u ki p s ng ti p theo, do nh ng nhân duyên đ c bi t, h s có th nh lại đư c nh ng ki n th c ti m th c này. Thí d như văn hào John Stuart Mill có th nói, vi t thông thạo ti ng Hy Lạp và ti ng Latinh khi m i lên b n tu i m c dù ông sinh ra nư c Anh và cha m ông ch bi t nói ti ng Anh. Không nh ng th , khi v a lên tám, ông đã vi t h n m t cu n sách g n tám trăm trang v l ch s tri u đại các vua chúa La Mã v i nh ng niên đại, năm tháng rõ ràng đ n t ng chi ti t, đ n n i các nhà s h c phải ngạc nhiên v đ chính xác c a nó. Đi xa hơn vào lĩnh v c văn chương, ta s th y t năm lên ba, văn hào Voltaire thu c lòng nh ng bài lu n xu t s c c a các b c th y văn chương s ng th k trư c. Theo quan ni m c a Ph t giáo thì t t cả nh ng gì mình làm hay suy nghĩ đ u đư c lưu gi lại trong tàng th c ( A l i da th c ) dư i hình th c là nh ng ch ng t . Khi nào nh ng ch ng t này phát đ ng đ u do nh ng nhân duyên đ c bi t, vư t ngoài s hi u bi t c a chúng ta. Có l ông cũng th y, trong cùng m t gia đình, cùng cha m , đư c nuôi dư ng trong cùng hoàn cảnh như nhau, đư c giáo d c như nhau nhưng tại sao anh ch em, m i ngư i m t tính n t, không ai gi ng ai. Có ngư i thích âm nhạc, có ngư i thích khoa h c, có ngư i thích th thao. Có ngư i m i nghe giảng bài đã hi u ngay, trong khi ngư i khác h c mãi cũng không hi u gì cả. Tại sao lại có s khác bi t như th ? N u không v n d ng quan ni m v nhân quả thì ngư i ta phải giải thích như th nào đây? Phải chăng tính tình, nhân cách con ngư i đ u ch u ảnh hư ng c a cái nhân, hay nh ng ch ng t , đã đư c gieo tr ng trong quá kh ? M t ngư i th gi i vì đã t ng hành ngh đó trong quá kh . M t h c sinh thông minh vì đã h c qua môn đó t trư c r i. Đi u này có th giải thích tại sao có ngư i gi i toán trong khi ngư i khác có tài v âm nhạc. Chúng tôi ti p t c bàn lu n v đ tài này đ n khuya và cảm th y r t tâm đ c vì có nhi u ý tư ng trùng h p. Đ n lúc đó tôi th c s ngạc nhiên khi bi t v doanh nhân này có m t ki n th c r t r ng và

r t quan tâm đ c bi t v lu t Luân h i. Ông cũng t ra r t c i m , khác h n l n g p đ u tiên. Ông Thomas kh n khoản m i tôi ghé lại thăm ông m i khi có d p ghé qua New York. L n này tôi b t tay ông h a s ghé thăm ông đ ti p t c đàm đạo v đ tài này. K t lúc đó, chúng tôi đã tr thành bạn thân v i nhau. Nhi u năm sau tôi m i bi t lý do tại sao ông Thomas lại quan tâm đ n đ tài này, vì ông đã có nh ng trải nghi m sâu s c v Luân h i qua m t trư ng h p đ c bi t mà ông đã k lại cho tôi. *** Vào m t ngày cu i thu năm 2016, tôi đ n thăm ông Thomas tại căn nhà ngh dư ng c a ông Colorado. Hôm đó ch có hai ngư i, cu c chuy n trò đư c b t đ u v i nh ng phát minh khoa h c công ngh hi n đại, ông h i tôi: - Là m t khoa h c gia chuyên nghiên c u v công ngh , anh nghĩ sao v nh ng phát minh công ngh ngày nay? Tôi trả l i: - Ngày nay, khoa h c đã phát tri n vư t b c. Công ngh phát tri n nhanh v i t c đ chóng m t. M t sản ph m v a đư c phát minh ra đã có th tr nên l i th i vì ngay sau đó đã có sản ph m khác m i hơn xu t hi n. M t lý thuy t m i v a đư c đ xư ng đã có nh ng lý thuy t khác đư c đưa ra, thay đ i lý thuy t đó. Ông Thomas l c đ u t v không tán đ ng: - N u công ngh phát tri n nhanh như anh nói thì chúng ta c n xem xét c n th n ảnh hư ng c a nó trong th i đại này, r i t h i xem li u chúng ta có đi quá tr n hay không. Tuy khoa h c đã đạt đư c nh ng bư c ti n l n và đây đư c coi là đi u t t, nhưng chúng ta cũng c n th n tr ng đ i v i tác đ ng c a nó trong tương lai. Ti n trình l ch s đôi khi l p lại nh ng sai l m quá kh mà chúng ta vô tình không nh n th c rõ hay chưa h c đư c bài h c chúng ta c n h c. Tôi ngạc nhiên h i: - Tại sao ông nghĩ như th ? Ông Thomas m m cư i trả l i:

- Anh là ngư i nghiên c u v công ngh nhưng có bao gi anh nghĩ r ng trong s ti n b lại n ch a m m m ng c a tai h a không ai ng đ n không? Thí d như vi c phát minh ra thu c súng đã châm ngòi cho nh ng cu c chi n tranh kh c li t. S ti n b c a khoa h c v nguyên t đưa đ n thảm h a chi n tranh hạt nhân. Hi n tại, anh nghĩ sao v nh ng thi t b như iPhone mà Apple đang quảng cáo kh p nơi? Tuy ngạc nhiên v câu h i c a ông Thomas nhưng tôi cũng rút cái đi n thoại iPhone trong túi mình ra: - Theo tôi thì đây là m t phát minh tuy t v i. Ông xem này, nó v a là đi n thoại, v a là máy nghe nhạc, v a là máy ảnh, v a là máy đi n toán có th giúp ta tìm ki m tin t c trong vài giây. T t cả thu g n vào m t v t nh bé có th đút v a túi áo. N u nó không phải là m t phát minh tuy t v i thì còn gì n a đây? Ông Thomas l c đ u: - Trên phương di n công ngh thì đó là m t phát minh tuy t v i, nhưng chúng ta cũng c n xét đ n h quả c a nó n a ch . Theo tôi, nh ng th này có th là m t tai h a cho nhân loại. Có th anh không đ ý đ n đ y thôi, nhưng anh hãy nhìn b n tr mà xem. Thay vì chú tâm vào vi c h c, chúng ch bi t theo dõi m i th qua chi c iPhone và b “thôi miên” trong m t “th gi i ảo” qua màn hình nh bé này. Nh ng ngư i tr ngày nay như đ u b m t loại “ma l c” h p d n, rút h t sinh l c và trí thông minh c a chúng. Trong tương lai, công ngh s tàn phá nhân loại vì h s đánh m t r t nhi u th mà th h trư c đã xây d ng. Công ngh là con dao hai lư i, nhưng đa s không hi u rõ đi u này. H coi đó là văn minh, là ti n b mà không bi t r ng th h tương lai s phải trả m t cái giá r t đ t cho nh ng phát minh mà h coi là kỳ di u này. Nh ng đi u ông Thomas nói làm tôi liên tư ng đ n vi c các sinh viên c a tôi ngày hôm nay không còn chăm ch h c như trư c n a. Nhi u ngư i đ n l p nhưng v n b xao lãng b i nh ng tin t c trong chi c iPhone, không chú tâm vào nh ng đi u đang đư c giảng dạy. Tôi thư ng phải nh c nh h chăm chú nghe bài giảng nhưng ch vài phút sau, m t s sinh viên lại lén lút rút iPhone ra, lư t Facebook, r i g i tin nh n cho nhau.

Ông Thomas ti p t c: - T hơn n a là nh ng cái như video game. Nh ng th này đã dạy cho ngư i tr nh ng hành vi kỳ lạ, khác thư ng, khó lòng tư ng tư ng đư c. Chúng h c cách b n gi t, cư p bóc trong nh ng cu c phiêu lưu c a “th gi i ảo”, r i v sau không còn bi t rõ đâu là th t và đâu là ảo n a. Do đó, chúng s m t đi khả năng phân bi t đâu là đúng, đâu là sai. T nh ng đ a tr cho đ n nh ng thanh niên l n tu i, ai ai cũng say mê v i nh ng đi u nguy hại mà ph n l n ch coi là trò chơi vô hại này. Không ai hi u r ng tuy công ngh có th mang đ n nhi u l i ích nhưng chúng cũng ti m n nhi u m i hi m nguy. Nh ng ngư i tr chưa bi t phân bi t, chưa đư c dạy bảo c n th n nên d dàng tr thành nạn nhân c a th “ma l c” này. Chúng dán tai, dán m t vào chi c đi n thoại nh bé và quên đi t t cả m i s xảy ra chung quanh, b i vì chúng ch bi t s ng trong “th gi i ảo” mà thôi. Có nh ng đ a tr quên ăn, quên ng và s ng trong “th gi i ảo” này, do đó chúng không th trư ng thành, không có trách nhi m v i th gi i chung quanh, tr nên d ng dưng vô cảm, vì đ u óc c a chúng đã b “thôi miên” r i. Tuy có ph n đ ng ý v i nh n xét c a ông Thomas, nhưng tôi cũng góp thêm vài l i đ bào ch a: - Khoa h c công ngh đã giúp ích cho con ngư i r t nhi u. Chúng ta c n có cái nhìn c i m v i nh ng phát minh trong nhi u lĩnh v c, thay vì quy t i cho chi c iPhone. Ông Thomas b t cư i: - Khoa h c công ngh hi n nay còn nhi u thi u sót c n phải b túc thêm. Ngư i ta không th dạy khoa h c k thu t mà không đ c p đ n đạo đ c hay b n ph n c a nh ng ngư i có trách nhi m làm vi c trong đó. Khoa h c mà không có lương tâm, công ngh mà không có trách nhi m thì ch mang lại thảm h a cho nhân loại sau này. Ông Thomas cảm thán: - V i t c đ phát tri n quá nhanh, v i th trư ng tiêu th kh ng l , v i s thu nh p quá cao, ngư i ta khó có th kìm hãm đư c đà phát tri n c a nh ng sản ph m này, t đó d n đ n nh ng l i l m

khó s a. Tôi không lên án khoa h c hay công ngh , tôi ch mu n nói r ng đi u chúng ta c n làm là phát tri n khả năng phân bi t đúng sai, t t x u và s d ng trí tu đ bi t rõ nh ng h u quả chúng ta có th tránh đư c. Ông Thomas im l ng m t lúc như đ h i tư ng v m t đi u gì đó, r i nói ti p: - Anh có bi t r ng đi u này đã xảy ra nhi u l n trong quá kh r i không? Vì thi u ý th c nên con ngư i đã đ cho nh ng sản ph m có “ma l c” này rút h t sinh l c c a h . Đa s m i ngư i tr nên th đ ng, quên đi t t cả m i s chung quanh. H không còn s ng v i s t nh th c n a mà đã tr thành nh ng c máy hoàn toàn vô cảm trư c hoàn cảnh xã h i. H ch bi t nghĩ đ n mình và tr nên ích k , tham lam, tàn bạo không khác gì loài v t. Theo th i gian, nhân loại s m t đi khả năng nh n xét hay hi u bi t, vì nh ng th đư c g i là “công ngh ” này s k t n i vào b óc c a h , làm tê li t cơ quan này, khi n con ngư i không còn bi t suy nghĩ mà tr thành m t ki u ngư i s ng không ra s ng, ch t không ra ch t, hoàn toàn th đ ng theo m nh l nh c a cái “ma l c” kia. N u không ý th c rõ ngay t lúc này, s thông minh c a chúng ta s d n d n b thay th b i nh ng hi n tư ng tâm th c “máy móc” mà chúng ta cho là ti n b . Chúng ta phải bi t phân bi t gi a b óc thông minh (intelligence) và trí tu n i tại (wisdom). Thông minh mà thi u trí tu s đưa con ngư i vào nh ng nh n xét mê l m. Khi đó, con ngư i s tr thành nh ng c máy, nh ng “xác s ng”. B óc không bi t suy nghĩ s d dàng b ki m soát đ làm nh ng vi c phi nhân tính. Trong tương lai, n u không bi t s d ng b óc đ phân bi t phải trái, đúng sai, con ngư i s tr thành nh ng c máy ch bi t làm nh ng gì đư c sai khi n. Ông Thomas ng ng lại như đ cho tôi suy nghĩ v đi u ông nói, r i ti p t c v i l i l xúc đ ng: - Là nhà khoa h c v công ngh , anh có th nghĩ r ng tôi là ngư i không am hi u v s ti n b c a khoa h c ngày nay, nhưng anh có bi t tôi đã t ng s ng trong hoàn cảnh tương t t hàng ngàn năm trư c r i không? Tôi đã trải nghi m nhi u đi u mà ngày nay tuy chưa xảy ra nhưng r i s xảy ra, và tôi hi u rõ h u quả c a

nó. Hi n nay anh cũng bi t, v i s ti n b c a khoa h c, ngư i ta có th ghép nh ng t bào c a đ ng v t vào cơ th con ngư i, hay đ t vào cơ th con ngư i nh ng thi t b g i là “trí tu nhân tạo” khi n h phát tri n nh ng khả năng mà ngư i thư ng không th làm đư c. Anh có th coi đó là ngư i hay là “n a ngư i, n a siêu nhân” (cyborg) cũng đư c. Anh có bi t h quả c a vi c này là th nào không? Hi n nay th gi i đang trải qua giai đoạn h n loạn, xáo tr n, mà th t ra thì m i qu c gia đ u đang gánh ch u nh ng nghi p quả mà h đã gây ra trong quá kh . M i qu c gia, cũng như m i cá nhân, đ u có nh ng nghi p quả riêng do nh ng nhân mà h đã gây ra. Cá nhân thì có “bi t nghi p” riêng c a t ng ngư i, nhưng qu c gia thì có “c ng nghi p” mà t t cả nh ng ngư i s ng trong đó đ u phải trả. Chu kỳ “thành, tr , hoại, di t” như anh đã bi t là th mà m i ngư i, m i qu c gia, đ u không th tránh kh i. Ngay như trái đ t cũng th , nó cũng phải trải qua th i gian đư c hình thành, phát tri n, r i suy thoái và tàn l i. Tuy nhiên, đ i ngư i thì ng n, còn s thay đ i c a m t qu c gia hay m t n n văn minh thì kéo dài lâu hơn nên không m y ai ý th c đư c đi u này. N u nhìn vào l ch s , anh có th th y nh ng n n văn minh phát tri n c c th nh r i suy tàn như Ai C p, Hy Lạp, La Mã, g n đây Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đ c, Ý cũng đang trên đà suy thoái, và không bi t chuy n gì s xảy ra trong tương lai. Tôi l ng ngư i m t h i lâu. Tôi th t không ng m t ngư i v n ít nói như ông Thomas lại hùng h n v i nh ng nh n xét sâu s c đ n th . Đi u ông nói cũng là đi u mà tôi đang trăn tr b y lâu nay. Trong cu c nghiên c u v trí thông minh nhân tạo (AI) và h c máy (machine learning), tôi đã bàng hoàng khi th y nh ng con robot thông minh trong phòng thí nghi m tại Đại h c Carnegie Mellon nơi tôi làm vi c, có th làm đư c nh ng đi u mà chúng tôi không ng . Khi tôi cài nh ng thu t toán h c máy ph c tạp vào nh ng con robot này đ chúng chơi c vua v i nhau, chúng đã có th h c và tính hàng trăm nư c c đ th ng đ i th . Đi u mà tôi và các giáo sư tại đây không ng là nh ng con robot “vô tri giác” này lại có th tìm cách l a nhau đ th ng cu c – không phải b ng vi c đoán trư c nư c c c a đ i th , mà tìm cách l a b p l n nhau và đây là đi u

chúng tôi không h l p trình cho chúng. S ti n b c a trí thông minh nhân tạo đã vư t ra kh i t m ki m soát c a chúng tôi. Tôi g t đ u đ ng ý: - Ông nói đúng đó, ph n l n nh ng khoa h c gia như chúng tôi v n đang chìm đ m trong nh ng ảo tư ng v s ti n b c a khoa h c nhưng không m y ai nghĩ đ n nh ng h u quả trong tương lai. Hi n nay, m t s ph huynh đã b t đ u đ t v n đ v vi c tr em nghi n Internet, video game; và m t s khoa h c gia cũng lưu ý đ n vi c phát tri n quá nhanh c a trí thông minh nhân tạo nhưng chưa ai tìm đư c giải pháp h p lý cho tình hu ng này. Nhưng ông v a nói r ng ông đã trải qua kinh nghi m này trong quá kh , v y câu chuy n là th nào? Ông Thomas im l ng suy nghĩ, r i ôn t n trả l i: - Th t tình tôi cũng không mu n nói ra đi u này. Nhưng khi xưa, tôi r t tâm đ c khi nghe Hòa thư ng Thánh Nghiêm nói r ng ch c n m t s ngư i ý th c làm nh ng vi c thi n lành, dù là vi c nh , h cũng có th tạo ra ảnh hư ng tích c c, có th đem lại s thay đ i l n. N u m t cánh bư m nh có th tạo ra m t tr n cu ng phong thì vi c chia s nh ng trải nghi m c a tôi qua nh ng ki p s ng cũng có th giúp nhi u ngư i hi u bi t v nh ng quy lu t b t bi n trong vũ tr , và bi t đâu h s nh n ra đi u gì đó đ thay đ i. Khi trư c chúng ta đã bàn lu n r t nhi u v Luân h i và Nhân quả, nhưng tôi chưa nói rõ cho anh bi t tại sao tôi lại quan tâm đ n vi c này. Nhân bu i nói chuy n ngày hôm nay, tôi có th chia s v i anh v nh ng ki p s ng c a tôi trong quá kh . Tôi l ng ngư i nhìn ông Thomas. Ông d ng lại m t lúc như đ cho tôi suy nghĩ. Tuy ngạc nhiên nhưng tôi v n gi im l ng, không mu n c t đ t dòng tư tư ng c a ngư i bạn này. Ông Thomas đ m chìm trong suy tư m t lúc khá lâu, r i nói: - Đi u tôi chia s sau đây ch là trải nghi m c a tôi qua nh ng ki p s ng trư c kia mà thôi. Dĩ nhiên anh có th tin ho c không tin, tùy theo s hi u bi t c a anh. Trong th gi i khoa h c quay cu ng ngày nay, dĩ nhiên khó ai tin đư c nh ng đi u kỳ lạ mà ông Thomas đã k cho tôi ngày hôm đó.

Có nói ra thì h u h t m i ngư i s cho r ng đó ch là s tư ng tư ng, do đó tôi không có ý đ nh chia s câu chuy n đư c nghe v i ai mà ch gi riêng cho mình. Tôi đã th y m t ngư i n i ti ng như phi hành gia Edgar Mitchell khi đ xư ng vi c nghiên c u các hi n tư ng tâm linh, các quy lu t vũ tr n tàng trong thiên nhiên, s hi n h u c a sinh v t ngoài hành tinh, s tương quan gi a vũ tr và con ngư i mà còn b dư lu n truy n thông ch trích thì m y ai tin đư c nh ng chuy n v ti n ki p hay luân h i? *** Khi anh Nguy n Văn Phư c, ngư i sáng l p Công ty Văn hóa Sáng tạo Trí Vi t - First News trao đ i v nh ng ki n th c tâm linh trong nh ng cu n sách tôi đã phóng tác, vi t lại t nhi u năm v trư c, tôi vô tình nh c đ n câu chuy n đó, anh Phư c đ ngh tôi nên chia s câu chuy n thú v này v i đ c giả Vi t thông qua m t cu n sách. Lúc đ u, tôi r t ngại vì đã không vi t v nh ng đ tài này trong nhi u năm. Tôi đã d đ nh gác bút, k cả vi c vi t v các đ tài liên quan đ n công ngh . Tuy nhiên, v i s khích l và ngu n cảm h ng t anh Phư c khi anh tin tư ng câu chuy n t nh ng nhân v t có th t này s có th giúp đ cho nhi u ngư i v m t tinh th n - tôi đã liên lạc v i ông Thomas đ h i xin ý ki n v vi c vi t m t cu n sách k v các trải nghi m ti n ki p c a ông. Thoạt đ u tôi đã nghĩ ông Thomas có th s không ch p thu n, vì câu chuy n c a ông quá đ c bi t và riêng tư. Nhưng b t ng thay ông đã đ ng ý, v i m t đi u ki n duy nh t là không đ tên tu i th t c a ông và nh ng ngư i có liên quan trong nh ng câu chuy n này. Ông nói: “Anh có th vi t và chia s nh ng đi u này v i nh ng ngư i bạn c a anh nhưng không nên đ tên th t c a tôi trong đó. Tôi không mu n tr thành đ tài cho dư lu n bàn ra tán vào”. Tôi bi t ông Thomas là m t doanh nhân n i ti ng và thành công trên th trư ng tài chính New York. Nh ng c ng s , đ ng nghi p và bạn bè c a ông đ u là nh ng nhân v t tên tu i trong xã h i nư c M và th gi i hi n nay. Hi n nhiên không ai mu n tr thành đ tài cho nh ng t báo lá cải hay các trang mạng xã h i đàm ti u.

Trong m y năm qua, tôi bay đ n New York g p ông Thomas nhi u l n đ ghi k lại v nh ng câu chuy n ti n ki p lạ thư ng c a ông. Chúng tôi nói chuy n v i nhau m t cách r t kh n trương nhưng thân m t, t nhiên đ ông có th chia s sâu và chi ti t hơn v nh ng trải nghi m ti n ki p c a mình. Lúc đ u, chúng tôi không đi theo th t nào vì đây không phải là m t cu c ph ng v n hay đ vi t m t cu n h i ký. Tôi ghi chép lại t t cả nh ng chi ti t quan tr ng, r i h th ng lại nh ng thông đi p trong câu chuy n c a ông. Tôi cũng trao đ i liên t c v i ông trong quá trình vi t, đ ông góp ý và biên t p, ch nh s a k lư ng hơn, đúng theo nh ng gì ông mu n truy n đạt. Sau đó, ông đ ngh : “Theo tôi thì chúng ta nên thay đ i vài chi ti t trong đó, vi t lại theo th t th i gian, đ có th tr thành m t cu n sách sinh đ ng ch không phải ch là nh ng m u đ i thoại liên t c gi a chúng ta. Đây không phải là tài li u nghiên c u hay m t cu c ph ng v n dài v i nh ng câu h i và trả l i”. Và ông kh ng đ nh sau m t lúc tr m ngâm: ”Đây s là m t cu n sách đ c bi t!”. Vì th tôi ch nh s a lại theo th t th i gian, qua các ki p s ng, theo dòng l ch s , và vi t ”văn h c hóa” m t s chi ti t, câu chuy n đ tr thành m t cu n sách lôi cu n, chuy n tải nh ng thông đi p quan tr ng ch không ch là t ng h p các tư li u. Tôi mong các bạn đ c xong cu n sách cũng đ ng ý như th , và n u có sơ su t gì, xin hãy lư ng th b qua. Và sau đây là câu chuy n c a ông Thomas.

PH N M T COLORADO CU C G P TI N Đ NH Hôm đó, tôi - Thomas - đang làm vi c thì Angie, v tôi, bư c vào v i t quảng cáo trên tay: - Em v a tìm th y m t căn nhà ngh dư ng đang rao bán Colorado. Xem hình ảnh thì th y nó đúng như ý anh mu n. Anh có mu n đi xem không? Tôi li c v i qua t quảng cáo. Quả th t đó là m t căn nhà r t đ p, t a lạc trên m t ng n đ i nhìn xu ng h nư c trong xanh, chung quanh cây c i um tùm, trông r t thanh bình. Đã t lâu tôi đã có ý đ nh tìm mua m t căn nhà ngh dư ng trên núi thu c vùng Colorado, nhưng không thích nh ng thành ph đông đúc đ y du khách như Vail hay Colorado Spring mà ch mu n tìm m t nơi th t yên tĩnh, v ng v , g n gũi thiên nhiên. Là ch c a m t công ty tài chính l n đang phát tri n, tôi c n có m t căn nhà ngh dư ng yên tĩnh đ có th thư giãn khi c n thi t. Tôi đã đi xem nhi u nhà ngh dư ng kh p nơi, t New England, Maine, đ n Florida, Arizona nhưng không nơi đâu tôi thích b ng Colorado v i r ng Rocky uy nghi, cao l n s ng s ng. Tôi nói v i Angie: - Hi n nay anh đang b n, em c đi xem trư c, th y đư c thì mua. Em g i Charles cho mang phi cơ đ n đ đi cho nhanh. N u c n thì r Andrew hay Connie cùng đi v i em cho vui. Charles là quản gia c a gia đình. Andrew và Connie là đôi v ch ng tr , tuy làm dư i quy n tôi nhưng chúng tôi v n coi h như con vì chúng tôi không có con cái.

Angie nói đùa: - Không có anh thì làm sao em quy t đ nh đư c? N u mua mà không đúng như ý anh thì sao? Tôi li c qua t quảng cáo v i nh ng con s , r i b t cư i: - N u em th y đư c thì c mua. Giá như v y thì có sao đâu. Angie cũng b t cư i vì thư ng m i công vi c chi tiêu trong gia đình, ít khi nào tôi đ ý đ n. S h u m t công ty l n tr giá hàng trăm tri u đô-la, con s vài trăm ngàn cho căn nhà ngh dư ng không phải là s ti n tôi phải quá b n tâm. Khi Angie v a ra kh i phòng, tôi g i đi n ngay cho Charles: - Anh g i phi công l y phi cơ riêng đưa nhà tôi đi Colorado nhé. Tôi nghĩ Angie đã tìm đư c m t căn nhà thích h p r i. N u Angie th y đư c thì g i ngay cho Brian bi t đ làm th t c. Brian là lu t sư riêng c a gia đình, r t thành thạo trong m i công vi c, k cả v n đ tài chính. Th y thái đ c a Angie, tôi bi t nàng đã ưng ý ngôi nhà. M t khi Angie thích thì không có lý do nào đ tôi t ch i. Chi u hôm đó, tôi nh n đư c đi n thoại c a Angie: - Anh ơi, căn nhà đ p l m, đ p hơn em nghĩ nhi u. Em thích vô cùng. Connie cũng nói r ng đó là căn nhà tuy t v i. Có đ y đ ti n nghi, đã đư c tân trang c n th n. Chung quanh nhà r t yên tĩnh. Căn nhà g n nh t cũng cách đó khá xa nên không lo ai nhòm ngó hay qu y r y chúng ta ngh ngơi. Anh nghĩ sao? Tôi b t cư i và h i đùa: - Căn nhà t t như v y li u chúng ta có mua n i không? Angie cũng cư i theo: - Em đã g i cho Brian đ thu x p mua căn nhà này. Có l m i vi c s hoàn t t vào tu n sau. Bao gi anh có th qua xem căn nhà này đây? Tôi nhìn vào t ghi chép th i gian bi u làm vi c trên bàn ch ng ch t nh ng bu i h p, r i nói: - Hi n nay anh r t b n, nhưng sau khi gi y t hoàn t t, anh s qua đó xem.

Đó là m t ngày cu i thu, th i ti t b t đ u ch m lạnh nhưng Angie c gi c tôi phải đi xem căn nhà ngh dư ng m i mua. Tôi đã t ch i m y l n vì b n vi c. T nhi u tu n trư c, Angie và Connie đã bay qua đó đ s m s a và trưng bày đ đạc cho căn nhà này. Angie nói: - Th là đ n Giáng sinh năm nay anh có th m i bạn bè v đây ít hôm. Chúng ta không c n phải đi ngh dư ng đâu xa n a. Căn nhà này có sáu phòng ng ti n nghi, đ cho v ch ng Andrew, v ch ng Brian, v ch ng Charles và cả Andy n a. Nh ng ngư i này đ u là nh ng nhân viên thân tín đ c l c c a tôi trong nhi u năm. M i năm tôi đ u r h đi ngh dư ng chung, v a có d p ngh ngơi thư giãn v a có th bàn tính công vi c cho năm sau. Chi u hôm đó, tôi nh n đi n thoại c a Andrew nói r ng cu c h p cu i tu n đã b h y b vì khách hàng b t ng phải đi xa. Andrew khuyên: - Đây là d p đ ông đi xem căn nhà ngh dư ng. Bà Angie đã ch đ i lâu r i. N u b ng lòng, tôi s g i Charles chu n b phi cơ cho ông bà. Tôi suy nghĩ r i trả l i: - Không c n đâu, tôi s t lái phi cơ. Tu n qua phi công đã làm vi c nhi u r i, c u y cũng c n ngh ngơi. Chi c Cessna Citation là phi cơ riêng c a chúng tôi và tôi cũng có b ng lái máy bay nên ch vài gi sau chúng tôi đã có m t tại Colorado. L n này vì không có nhân viên đi theo nên tôi phải thuê m t chi c xe đ lái. Khi v a kh i hành thì tr i đ tuy t khi n tr c giao thông b t c ngh n. Sau g n hai ti ng đ ng h , chúng tôi m i r i kh i xa l chính đ đi vào con đư ng nh d n lên núi. Lúc đó tr i đã nhá nhem t i. Càng lên cao, tuy t càng trút xu ng dày, ph tr ng xóa con đư ng. Đi đư c m t quãng thì h th ng ch đư ng GPS không còn h tr đư c, vì căn nhà không n m trên đư ng giao thông chính. Angie v a nhìn đư ng v a ch cho tôi r vào nh ng con đư ng nh ngo n ngoèo d n lên núi. Càng đi xa, tuy t càng đ xu ng nhi u hơn, ng p h t l i đi nên r t khó nhìn. Xe chạy đư c m t lúc thì

s p xu ng m t h trũng bên l đư ng. M c dù tôi đã c g ng nhưng chi c xe v n không nhúc nhích. Angie than: - Bi t th chúng ta c vào khách sạn ngh ngơi ch đ n sáng. Tình trạng này ch c chúng ta phải ng qua đêm trên xe r i. Tôi khoác v i chi c áo m r i bư c ra kh i xe đ đ nh hư ng, nhưng chung quanh cảnh v t t i đen, không th y gì h t. Tôi c g ng v n toàn l c đ đ y chi c xe lên kh i mi ng h nhưng vô hi u. Trong lúc đang th t v ng, tôi b ng th y m t ánh đèn xa đang t t ti n đ n g n, r i m t ngư i đàn ông cao l n c m chi c đèn pin bư c đ n: - Ch c ông bà lạc đư ng r i. Tôi nghe ti ng máy xe rú lên nên bư c ra xem. Ông bà có c n giúp đ gì không? Angie m ng r trả l i: - Chúng tôi v a mua căn nhà g n đây, ch nhà cũ tên là Hart nhưng hi n nay chúng tôi không tìm đư c l i vào. Ngư i đàn ông lạ g t đ u: - Thì ra là th ! Tôi bi t nhà ông Hart. Ông bà đi lạc đư ng r i. Đáng l phải r trái khúc quanh ngay bìa r ng nhưng ông bà đã đi quá xa r i. Nhìn th y v b i r i c a tôi bên cạnh chi c xe b s p h , ông nói ti p: - Tr i đã t i r i, chi c xe c a ông cũng không đi đư c. N u ông bà không ngại thì hãy ghé vào nhà tôi ngh qua đêm nay. Ngày mai tôi s đem xe tr c đ n kéo lên. Hi n tr i đã t i mà tuy t lại rơi nhi u th này. Tôi chưa k p nói gì thì Angie đã vui v nh n l i ngay. Chúng tôi mang hành lý theo chân ngư i đàn ông đ n m t căn nhà n m khu t dư i r ng thông ph đ y tuy t. Ch nhân m i chúng tôi vào nhà. Dư i ánh sáng c a ng n đèn, tôi nh n ra đó là m t ngư i g c Ấn Đ , hay Trung Đông, v i hàm râu quai nón r t r m. Vì lý do nào đó, tôi th y ông ta trông r t quen m c dù tôi không nh đã g p ngư i này đâu. V ch nhân l ch s d n chúng tôi vào m t căn phòng riêng:

- Ông bà có th dùng căn phòng đó, n u không ngại, xin m i ông bà dùng b a t i v i tôi. Angie h n nhiên nh n l i ngay: - Cảm ơn ông, th t quý quá, vì t sáng đ n gi chúng tôi chưa có gì vào b ng. Sau khi s a soạn xong, chúng tôi bư c vào phòng ăn thì v ch nhân đã ch s n trư c bàn ăn đơn giản toàn trái cây tươi. Angie đưa m t nhìn quanh căn phòng r ng l n v i nh ng b c tranh trông lạ lùng: - Ông m t mình sao? V ch nhân kh g t đ u: - Vâng, tôi s ng m t mình. Chúng tôi ng i vào bàn. V ch nhân lên ti ng: - Tôi r t ti c vì không k p chu n b các món khác. Bình thư ng tôi ch ăn trái cây… Angie nhanh nh n: - Cảm ơn ông, th cũng t t r i. Tôi cũng thích trái cây hơn nh ng th khác. Tôi quan sát v ch nhân, ông ta có m t v gì đó r t quen thu c trong ti m th c mà tôi không nh đã g p đâu. Tôi là ngư i có trí nh r t t t, g n như g p ai tôi cũng có th nh tên ngư i đó. Làm vi c trong lĩnh v c thương mại nhi u năm, tôi có thói quen ghi nh tên tu i nh ng ngư i mà tôi giao thi p. Trong khi Angie và v ch nhân trò chuy n thân m t, tôi c g ng đào b i trí nh đ tìm ki m nhưng không sao nh đư c. B t ch t v ch nhân hình như đoán đư c đi u tôi đang nghĩ, quay qua tôi và t gi i thi u: - Xin l i ông bà, tôi quên chưa gi i thi u v mình. Tên tôi là Ramakrishnan, nhưng ông bà có th g i tôi ng n g n là Kris cho d nh . Chúng tôi cũng t gi i thi u v bản thân. Ông Kris m m cư i đưa ly nư c cam lên: - R t hân hạnh đư c quen bi t ông bà. Trong lúc chúng tôi cũng đưa ly nư c cam lên như c ch xã giao thì tôi nhìn th y ngón tay c a ông Kris có đeo m t chi c nh n

hình con b hung, khảm m t viên h ng ng c đ s m. Chi c nh n có m t đi u gì đó khi n tôi cảm th y quen thu c m t cách kỳ lạ. Tôi chăm chú nhìn ngư i đàn ông có hàm râu quai nón này. Ông ta có m t c p m t r t sáng th hi n m t n i tâm, hi u bi t phong phú. C ch c a ông ch m rãi, đi m đạm nhưng v n toát lên v oai nghi lạ lùng. Tôi đã g p nhi u v nguyên th qu c gia, nh ng nhà quản lý công ty l n, nh ng ngư i lãnh đạo cao c p nhưng chưa th y ai có v sang tr ng, oai nghi như ngư i này. Angie là ngư i h n nhiên, thích xã giao, g n như g p ai nàng cũng có th nói chuy n d dàng trong khi tôi thích suy ng m và ít nói. Các bạn tôi v n nói r ng chúng tôi là c p v ch ng đ p đôi. N u c n gì thì Angie nói, nhưng n u tính toán cái gì thì tôi m i là ngư i quy t đ nh. Trong khi Angie và v ch nhân ti p t c câu chuy n trên bàn ăn, tôi đưa m t nhìn quanh căn nhà có nh ng b c h a v các ký hi u ngo n ngoèo lạ lùng. Tuy tôi không bi t nhi u v ngh thu t nhưng v n có th phân bi t đư c các trư ng phái h i h a c a nh ng ngh sĩ đương th i như Picasso, hay Dali. Tuy nhiên, nh ng b c h a này lại khác h n nh ng b c h a thông thư ng, chúng có nh ng đư ng nét trông như thư pháp mà không phải là thư pháp. Trong công ty c a tôi cũng có treo m y b c thư pháp c a các danh gia Nh t Bản và Trung Hoa do chính thân ch t ng làm k ni m. Tuy nhiên, nh ng b c h a đây có nh ng đư ng nét khác h n các b c thư pháp kia. Th y tôi chú ý đ n b c tranh, ông Kris m m cư i: - Ông th y nh ng b c h a này th nào? Hình như ông thích ngh thu t? Tôi chưa k p trả l i thì Angie đã ch vào m t b c tranh và nói ngay: - Em nh n ra r i, đó là nh ng dòng ch ti ng Phạn. Đó là ch “Om”, có phải không ạ? V ch nhân g t đ u: - Phải r i, chính là ch Phạn, bà nói đúng đó. Ch đó là “Om”. Angie reo lên vui sư ng: - Tôi có th y nh ng ch gi ng như th treo phòng t p Yoga.

V ch nhân m m cư i: - Thì ra bà cũng t p Yoga. Angie g t đ u: - Hàng tu n tôi đ u đi t p Yoga v i các bạn. Đó là m t hình th c th d c đ duy trì s c kh e. Ngoài ra tôi cũng t p thi n n a. Không mu n câu chuy n đi quá xa, tôi h i: - Thì ra đó là ch Phạn, nhưng tại sao phòng t p Yoga lại treo ch này? Tại sao h không treo nh ng b c tranh khác đ p hơn? Ông Kris b t cư i: - Có l đó ch là m t hình th c trang trí. Yoga xu t phát t Ấn Đ , nên treo ch Phạn lên đó cũng là m t hình th c quảng cáo… Angie l c đ u: - Không đâu, th y dạy Yoga c a tôi nói r ng đó là m t ch h t s c linh thiêng và khi thi n đ nh phải t p trung tư tư ng vào đó. Ông Kris g t đ u nói: - Thì ra th ! V y bà th y gì khi t p trung vào ch đó? Angie lúng túng: - Tôi ch ng th y gì h t. Đó ch là m t phương pháp đ gi cho tư tư ng không chạy loạn xạ mà thôi. Tuy nhiên, bạn tôi, Connie, lại nói r ng cô y th y nó phát ra ánh sáng và có khi lại bi n hi n ra nhi u dòng ch khác nhau n a, nhưng tôi chưa t ng có trải nghi m đó. Tôi b t cư i vì bi t Connie r t rõ: - Connie là ngư i giàu trí tư ng tư ng và bi t đâu đã phóng đại m i vi c… Ông Kris quay qua nhìn tôi và nói: - Không h n th , n u thi n đ nh đ n m c đ nào đó ngư i ta có th nhìn th y ánh sáng hay nh ng hình ảnh lạ lùng. Angie tò mò: - Như th h n ông bi t rõ v thi n hay đã trải nghi m đi u này? Ông Kris không trả l i mà quay qua h i tôi: - Ông nghĩ sao?

Tôi nhìn đôi m t r t sáng c a ngư i đàn ông, v i nh ng nét dí d m. Tôi trả l i: - Tôi chưa h t p thi n hay Yoga. Đó ch là m t hình th c th d c th nh hành hi n nay, cũng như vài năm trư c có phong trào t p th d c nh p đi u v y. Ông Kris đưa m t nhìn tôi v i v tinh quái: - Như th là ông chưa h t p thi n? T nhiên tôi cảm th y khó ch u: - Dĩ nhiên, tôi t p nh ng th đó làm gì? May thay, Angie xen vào: - Ch ng tôi b n l m, ngay cả chơi th thao còn không có th i gi l y đâu ra mà t p Yoga hay thi n. Ông Kris ch vào m t b c tranh: - V y ông th y b c tranh này th nào? Tôi đưa m t nhìn b c tranh, đó cũng là nh ng ký hi u lạ lùng nhưng trông không gi ng như ch Phạn. Ký hi u này khác h n. Càng nhìn, tôi càng th y có m t cái gì đó quen thu c và như b cu n hút vào đó. T nhiên tôi b t lên nói mà không suy nghĩ: - Tôi th y nó quen thu c, hình như đã th y nó đâu. Nhưng nó không gi ng như ch Phạn. Ông Kris m m cư i v i m t bi u cảm khác lạ: - Ông nói đúng, đó không phải là ch Phạn, mà là m t c ng đã th t truy n t r t lâu r i. Nhưng ông th y nóth nào? Tôi nhìn nh ng đư ng nét ngo n ngoèo lạ lùng nhưng không sao nh đư c đã th y nó đâu. Angie b ng xen vào: - Tôi cũng th y nó quen thu c làm sao. Hình như tôi cũng th y đâu r i. Ông Kris cư i, v bí n: - Hi n nay thì ông bà không nh đâu, nhưng r i s nh . Angie ch tay lên chi c h p kính g n đó: - Còn cây g y kia n a, tôi cũng th y nó có v quen thu c. Đó là cái gì v y?


Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
Create your own flipbook